Hiển thị các bài đăng có nhãn Phạm Văn Đồng. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Phạm Văn Đồng. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 5 tháng 6, 2012

NHẬT KÍ LÝ BẰNG TIẾT LỘ ĐẦU ĐUÔI CHUYỆN BÌNH THƯỜNG HÓA QUAN HỆ TRUNG-VIỆT NĂM 1990


NHẬT KÍ LÝ BẰNG TIẾT LỘ ĐẦU ĐUÔI CHUYỆN

BÌNH THƯỜNG HÓA QUAN HỆ TRUNG-VIỆT NĂM 1990

Tác giả: Lý Bằng
Người dịch: Quốc Thanh
02-05-2012
Ý cốt lõi: Về việc bình thường hóa mối quan hệ kinh tế Trung-Việt, nên dựa trên nguyên tắc hai bên bình đẳng và cùng có lợi, sẽ do các đối tác của hai bên bàn bạc giải quyết, Trung Quốc giữ thái độ tích cực với tất cả các lĩnh vực thương mại, bưu chính, vận tải, thanh toán ngân hàng, khôi phục lại giao thông đường bộ.
Bài này trích trong cuốn “Hòa bình Phát triển Hợp tác – Nhật ký ngoại sự của Lý Bằng” Tác giả: Lý Bằng Nhà xuất bản: Tân Hoa xuất bản xã Nguồn: people.com.cn 
Vào cuối thập kỷ 70 của thế kỷ 20, Việt Nam xuất quân sang Campuchia. Năm 1979, quan hệ Trung-Việt bị chìm xuống đáy. Tháng 12 năm 1986, Nguyễn Văn Linh nhậm chức Tổng bí thư Đảng cộng sản Việt Nam. Cùng với sự xấu đi của cục diện quốc tế, đặc biệt là sau biến động ở Châu Âu, Liên Xô bị tan rã, Nguyễn Văn Linh đã điều chỉnh lại chính sách, tìm kiếm sự bình thường hóa quan hệ Trung-Việt.   

Qua đường liên lạc bí mật giữa hai bên Trung-Việt, từ 3 – 4.9.1990, Nguyễn Văn Linh đi cùng Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Việt Nam Đỗ Mười, cùng với lãnh đạo Trung Quốc tổ chức cuộc gặp mặt ở Thành Đô, sự kiện này trở thành bước ngoặt trong việc bình thường hóa quan hệ Trung-Việt.
[Năm 1986] Thứ sáu ngày 26.12, mưa u ám.
 Nguyễn Văn Linh được bầu làm Tổng bí thư Đảng cộng sản Việt Nam tại Đại hội 6 Đảng cộng sản Việt Nam, thay cho nguyên Tổng bí thư Lê Duẩn đã qua đời vào tháng 7.
[Năm 1989] Thứ bảy ngày 26.8, mưa u ám.
Hôm nay, Việt Nam tuyên bố đã “rút quân toàn bộ” khỏi Campuchia. Điều này tạo điều kiện cho việc giải quyết vấn đề Campuchia một cách thuận lợi, đồng thời cũng gạt bỏ được sự trở ngại cho bình thường hóa quan hệ Trung-Việt. 
  
* Bước ngoặt trong quan hệ Trung-Việt – Hội nghị Thành Đô
[Năm 1990] Thứ tư ngày 6.6, nắng.
Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh đã gặp đại sứ Trương Đức Duy tại Bộ quốc phòng Việt Nam. Nguyễn [Văn Linh] hi vọng thực hiện bình thường hóa được mối quan hệ giữa hai nước, hai đảng, đồng thời mong sớm được sang thăm Trung Quốc.
Chủ nhật ngày 26.8, mưa u ám.
  Về chuyến thăm nội bộ tới Trung Quốc của các nhà lãnh đạo chính bên Việt Nam gồm Tổng bí thư Đảng cộng sản Việt Nam Nguyễn Văn Linh…, tôi đã nói với đồng chí Giang Trạch Dân, ông ta tỏ ý hoàn toàn tán thành.
Thứ hai ngày 27.8, mưa.
 Về việc đồng chí Giang Trạch Dân và tôi sẽ hội kiến với Nguyễn Văn Linh, tôi đã báo cáo lên đồng chí Đặng Tiểu Bình. Xét thấy Á vận hội (Asian Games) sẽ được tổ chức ở Bắc Kinh, mà cuộc gặp mặt này lại đề cập đến việc bình thường hóa quan hệ Trung-Việt, đặc biệt hệ trọng, nên để tiện cho việc bảo mật, địa điểm hội đàm sẽ được bố trí ở Thành Đô.
Thứ năm ngày 30.8, nắng.
  Việc đồng chí Giang Trạch Dân và tôi đến Thành Đô hội đàm nội bộ với Tổng bí thư Đảng cộng sản Việt Nam Nguyễn Văn Linh, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Việt Nam Đỗ Mười, đã có gửi lời mời cho Việt Nam. Bây giờ thử xem trả lời từ Việt Nam ra sao.
Chủ nhật ngày 2.9, nắng.
  Ba giờ rưỡi chiều, tôi đáp chiếc chuyên cơ cất cánh từ sân bay Tây Giao Bắc Kinh, khoảng 6 giờ tới sân bay Thành Đô. Chúng tôi ngồi ô tô qua lộ trình mất hơn 20 phút đến Nhà khách Kim Ngưu, Bí thư Tỉnh ủy Dương Nhữ Đại đang đợi. Đồng chí Giang Trạch Dân đáp một chiếc chuyên cơ khác đến Thành Đô chậm hơn tôi nửa giờ. Từ 8 giờ rưỡi tối đến 11 giờ đêm, tôi và đồng chí Giang Trạch Dân trao đổi với nhau về phương châm của cuộc hội đàm với phía Việt Nam vào ngày mai.
Thành Đô thứ hai ngày 3.9, nắng.
 Buổi sáng, tôi ở chỗ đồng chí Giang Trạch Dân cùng với ông ta tiếp tục nghiên cứu về phương châm của cuộc hội đàm sẽ tiến hành với phía Việt Nam.
  Khoảng 2 giờ chiều, Tổng bí thư Đảng cộng sản Việt Nam Nguyễn Văn Linh, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Đỗ Mười và Cố vấn Ban chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam Phạm Văn Đồng tới Nhà khách Kim Ngưu ở Thành Đô, Giang Trạch Dân và tôi đón họ ở nhà một tầng số 1. Nguyễn Văn Linh mặc bộ com lê màu cà phê, mang hơi hướng phong cách học giả. Đỗ Mười thân hình còn tráng kiện, tóc bạc phơ, mặc bộ com lê màu xanh thẫm. Cả hai đều 73-74 tuổi, còn Phạm Đồng thì hai mắt bị đục thủy tinh thể, thị lực cực kém, mặc bộ áo đại cán, giống các cán bộ lão thành của Trung Quốc.
  Buổi chiều, cuộc hội đàm bắt đầu, Nguyễn Văn Linh làm một bài nói dài trước. Tuy bày tỏ nguyện vọng nhanh chóng giải quyết vấn đề Campuchia, đồng thời nói việc thành lập Hội đồng tối cao Campuchia là chuyện cấp bách, không nên loại trừ bất cứ bên nào, nhưng lại tỏ ý không muốn can thiệp vào công việc nội bộ của Campuchia. Xem ra về vấn đề Campuchia, Nguyễn Văn Linh chỉ muốn làm một sự bày tỏ thái độ về nguyên tắc, còn trọng điểm là đặt vào phương diện bình thường hóa quan hệ Trung-Việt.
Cuộc hội đàm tiếp tục một mạch đến 8 giờ tối, 8 giờ rưỡi mới bắt đầu mở tiệc. Bên bàn tiệc, tôi và đồng chí Giang Trạch Dân lại lần lượt làm việc với Đỗ Mười và Nguyễn Văn Linh .  
Thứ ba ngày 4.9, râm mát.
Buổi sáng, chúng tôi tiếp tục họp với các đồng chí lãnh đạo của Việt Nam. Đến đây, có thể nói những vấn đề nêu ra trong hội nghị đã đi đến đồng thuận một cách khá thỏa mãn, cùng quyết định khởi thảo một bản Kỷ yếu hội nghị.
  Hai giờ rưỡi chiều, hai bên Trung-Việt tổ chức lễ ký kết ở nhà một tầng số 1 tại Nhà khách Kim Ngưu, hai bên lần lượt do Tổng bí thư và Thủ tướng ký. Đây là một bước ngoặt mang tính lịch sử trong quan hệ Trung-Việt. Đồng chí Giang Trạch Dân tặng ngay tại chỗ cho các đồng chí Việt Nam câu thơ “Độ tận kiếp ba huynh đệ tại, Tương phùng nhất tiếu mẫn ân cừu” (Qua hết sóng gió anh em vẫn còn, Gặp nhau cười một cái là quên ân oán). Câu thơ này là của Lỗ Tấn. Trước việc này, các đồng chí Việt Nam tỏ ra rất vui.
  Bốn giờ chiều, chuyên cơ cất cánh về Bắc Kinh, khoảng 6 giờ 10 tới nơi.
* Đảng cộng sản Việt Nam họp Đại hội 7 
[Năm 1991] Thứ bảy ngày 29.6.
Đại hội 7 Đảng cộng sản Việt Nam bế mạc, Đỗ Mười được bầu làm Tổng bí thư, Nguyễn Văn Linh, Phạm Văn Đồng làm cố vấn. Quan điểm chủ yếu chung của Đại hội 7 Đảng cộng sản Việt Nam là kiên trì chủ nghĩa xã hội, làm cải cách kinh tế, chủ trương tình hữu nghị Việt-Xô, Việt-Trung. Tinh thần của Đại hội này có lợi cho việc cải thiện quan hệ Trung-Việt.
Bắc Kinh thứ ba ngày 30.7, nắng.
Buổi chiều, tôi hội kiến với đại diện đặc biệt của Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam là Lê Duẩn và Hồng Hà. Họ yêu cầu tổ chức cuộc gặp cấp cao Trung-Việt. Tôi nói để cho nhân dân hai nước có sự chuẩn bị, để cho ASEAN và các nước khác không nảy sinh nghi ngờ, hai bên Trung-Việt cần tiến hành cuộc gặp ở các cấp thứ trưởng và bộ trưởng ngoại giao trước đã, còn về cuộc gặp cấp cao thì phía Trung Quốc cho rằng về nguyên tắc không có vấn đề gì. Ngày hôm sau Tổng bí thư Giang Trạch Dân sẽ có trả lời chính thức với họ. Về việc bình thường hóa quan hệ kinh tế Trung-Việt, nên dựa trên nguyên tắc bình đẳng và hai bên cùng có lợi, sẽ do các đối tác của hai bên bàn bạc giải quyết, Trung Quốc giữ thái độ tích cực với tất cả các lĩnh vực thương mại, bưu chính, vận tải, thanh toán ngân hàng, khôi phục lại giao thông đường bộ.
* Thực hiện bình thường hóa quan hệ Trung-Việt
Thứ ba ngày 5.11, nắng.
  Năm giờ chiều, đồng chí Giang Trạch Dân và tôi tổ chức lễ đón chính thức Tổng bí thư Đảng cộng sản Việt Nam Đỗ Mười và Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Võ Văn Kiệt tại quảng trường ở ngoài cửa phía đông Đại lễ đường nhân dân. Tiếp đó, chúng tôi đã tiến hành hội đàm. Đỗ Mười có thái độ rất rõ ràng về vấn đề Đài Loan. Đồng chí Giang Trạch Dân nói, sau khi quan hệ hai nước đã trải qua một quãng đường gập ghềnh, lãnh đạo hai nước Trung-Việt ngày hôm nay có thể ngồi cùng với nhau để tiến hành cuộc gặp cấp cao là mang ý nghĩa quan trọng. Đây là một cuộc gặp gác lại quá khứ, hướng tới tương lai, nó đánh dấu sự bình thường hóa trong quan hệ hai nước, tất sẽ có ảnh hưởng sâu xa đối với sự phát triển quan hệ hai nước. Đỗ Mười nói, bình thường hóa mối quan hệ hai nước Việt-Trung là phù hợp với nguyện vọng và lợi ích căn bản của nhân dân hai nước, đồng thời cũng giúp ích cho hòa bình và ổn định của khu vực này và thế giới. Tiếp đó, mở tiệc.
Thứ tư ngày 6.11, nắng.
Buổi chiều, tôi hội đàm với Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Việt Nam Võ Văn Kiệt, không khí rất tốt. Tôi nêu ra trước là Tổng bí thư Giang Trạch Dân và Tổng bí thư Đỗ Mười đã tiến hành hội đàm rất tốt, đã trao đổi được hết ý kiến. Về vấn đề Đài Loan, thái độ thể hiện của Võ Văn Kiệt rất tốt. Tôi điểm qua các vấn đề về nợ, biên giới, dân tị nạn… trong cuộc hội đàm. Hai bên đồng ý sau này sẽ không bàn tới nữa. Với các dự án vay vốn do phía Việt Nam đề xuất mới, tôi hứa sẽ cho khảo sát các dự án của phía Việt Nam trước. Về vấn đề Campuchia, tôi nêu rõ, thỏa thuận về giải pháp chính trị toàn diện cho vấn đề Campuchia đã được ký tại Paris, việc thực hiện thỏa thuận vẫn đòi hỏi các bên phải tiếp tục nỗ lực.
Thứ năm ngày 7.11, nắng.
  Buổi chiều, Hiệp định Thương mại Trung-Việt và Hiệp định tạm thời về việc xử lý các vấn đề biên giới giữa hai nước đã được ký kết tại Nhà khách chính phủ Điếu Ngư Đài. Các lãnh đạo đảng và chính phủ hai nước đã dự lễ ký kết, sau đó, tôi cùng đồng chí Giang Trạch Dân chia tay Đỗ Mười và Võ Văn Kiệt. Họ sẽ đi thăm Quảng Châu, Thâm Quyến…
Nguồn: Ifeng.com

Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2012

Thứ Tư, 21 tháng 3, 2012

NĂM 1956 THỦ TƯỚNG VIỆT NAM TỪNG THỪA NHẬN CÁC ĐẢO Ở NAM HẢI THUỘC TRUNG QUỐC


Trang mạng về lịch sử của Trung Quốc history.huanqiu.com

NĂM 1956 THỦ TƯỚNG VIỆT NAM TỪNG THỪA NHẬN

CÁC ĐẢO Ở NAM HẢI THUỘC TRUNG QUỐC

 Thủ tướng từng thừa nhận thành văn chủ quyền Trung Quốc, sau lại ra văn bản chính thức để lấp liếm 
14.7.2011
Tác giả:  Tôn Lực Châu
Người dịch:  Quốc Thanh

Việt Nam lật lọng về các đảo ở Nam Hải [i]


  Năm 1933, Đan Mạch và Na Uy kiện lên Tòa án quốc tế về vấn đề chủ quyền đảo Đông Greenland, cuối cùng Đan Mạch đã thắng. Một trong những căn cứ mà Tòa án quốc tế dựa vào để đưa ra phán quyết là vào năm 1919, Đại thần ngoại giao Na Uy từng bày tỏ với Công sứ Đan Mạch là không phản đối yêu cầu chủ quyền của Đan Mạch đối với Greenland – vụ án này thể hiện nguyên tắc “cấm phủ nhận” trong luật quốc tế. Về vấn đề tranh chấp Nam Hải suốt mấy chục năm qua giữa hai nước Trung-Việt cũng có những điểm tương tự: Trước năm 1974, bất luận là công hàm (bao gồm cả Công hàm của Thủ tướng Việt Nam Phạm Văn Đồng gửi Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai), tuyên bố của chính phủ Việt Nam, hay báo chí, bản đồ chính thức của họ, cũng đều thừa nhận các quần đảo Nam Sa [ii], quần đảo Tây Sa [iii] là lãnh thổ của Trung Quốc. Nhưng sau đó, ViệtNam lại lật lọng, không chỉ trực tiếp đưa quân đến chiếm Nam Sa, mà còn chuyển sang thái độ lấp liếm.

Trước thập kỷ 70, Việt-Trung không có tranh chấp đảo

Kể từ sau ngày Trung Quốc thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam (chỉ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, tức Bắc Việt), trong thời gian suốt hơn 20 năm, Việt Nam luôn ủng hộ chủ trương của Trung Quốc đối với các đảo ở Nam Hải. Ngày 15 tháng 6 năm 1956, Thứ trưởng Bộ ngoại giao Việt Nam Ung Văn Khiêm đã trịnh trọng nói với Đại biện lâm thời Đại sứ quán Trung Quốc tại Việt Nam Lý Chí Dân: “Theo tư liệu từ phía Việt Nam, xét về mặt lịch sử, các quần đảo Tây Sa và quần đảo Nam Sa nên thuộc về lãnh thổ Trung Quốc”. Vụ trưởng Vụ Châu Á Bộ ngoại giao Việt Nam Lê Lộc có mặt tại đó cũng đã giới thiệu thêm các tư liệu từ phía Việt Nam, nêu rõ “xét về mặt lịch sử, các quần đảo Tây Sa và quần đảo Nam Sa đã thuộc về Trung Quốc ngay từ thời Tống”.    
Ngày 4 tháng 9 năm 1958, chính phủ Trung Quốc ra tuyên bố độ rộng lãnh hải Trung Quốc là 12 hải lí, đồng thời nói quy định này được áp dụng cho tất cả mọi vùng lãnh thổ của Trung Quốc, bao gồm cả các quần đảo Đông Sa, quần đảo Tây Sa và quần đảo Nam Sa… Về việc này, báo “Nhân dân” của Việt Nam ngày 7 tháng 9 đã đăng bài bình luận nói tuyên bố của chính phủ Trung Quốc “là hoàn toàn chính đáng”, “nhân dân Việt Nam hoàn toàn tán thành”. Ngày 14 tháng 9, Thủ tướng Việt Nam Phạm Văn Đồng đã gửi công hàm cho Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai: “Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tôn trọng quyết định này, đồng thời sẽ chỉ thị cho các cơ quan có trách nhiệm khi có những mối liên hệ trên biển và với nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, phải tôn trọng nghiêm chỉnh quy định độ rộng lãnh hải Trung Quốc là 12 hải lí”[iv]. Bức thư này do Đại sứ ViệtNam ở Trung Quốc Nguyễn Khang trao cho Thứ trưởng Bộ ngoại giao Trung Quốc Cơ Bằng Phi.      
Bản đồ, báo chí… Việt Nam vào cùng thời kỳ cũng coi Tây Sa,  Nam Sa là lãnh thổ Trung Quốc, chẳng hạn như “Bản đồ thế giới” do Bộ Tổng tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam vẽ năm 1960 đã chú thích “quần đảo Tây Sa (Trung Hoa)”, “quần đảo Nam Sa (Trung Quốc)”; năm 1962, báo “Nhân dân” Việt Nam có bài viết về quần đảo Tây Sa như sau:  “Ngày 9 tháng 9 năm 1962, một chiếc máy bay U-2 khác đã xâm phạm vùng trời quần đảo Tây Sa thuộc Quảng Đông Trung Quốc, bị giải phóng quân bắn hạ”. Thậm chí sách giáo khoa của Việt Nam năm 1974 vẫn còn viết: “Từ các đảo Tây Sa , Nam Sa đến đảo Hải Nam, đảo Đài Loan, nhóm đảo Bành Hồ, quần đảo Chu Sơn đã tạo thành một bức trường thành bảo vệ đại lục Trung Quốc”.

Vào trước ngày thống nhất, Võ Nguyên Giáp đã chỉ huy quân xâm chiếm 6 đảo ở Nam Sa 

Tháng 1 năm 1974, hải quân Trung Quốc đã đánh một trận với hải quân Việt Nam, đuổi hải quân Việt Nam ra khỏi quần đảo Tây Sa. Cũng có nghĩa là kể từ khi ấy, lập trường của Bắc Việt xuất hiện sự chuyển đổi rõ, tranh chấp đảo giữa hai nước bắt đầu từ đó. Trận hải chiến Tây Sa vừa kết thúc, hãng AFP đã dẫn lời của một “người có thẩm quyền” nói, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ đối với mọi quốc gia đều là “sự nghiệp thiêng liêng”, nhưng tranh chấp cần phải được giải quyết thông qua đàm phán. Điều này đối lập rất rõ với thái độ trước đó của Bắc Việt. Tháng 10 cùng năm, Ủy viên Ban chấp hành Trung ương Đảng lao động Việt Nam, Tổng biên tập báo “Nhân dân” Hoàng Tùng khi gặp các nhà báo Thái Lan đã nói: “Trung Quốc không phải là quốc gia của khu vực này, không nên có nhiều vùng biển đến thế theo tuyên bố của họ”.
Tháng 4 năm 1975, cùng với sự cận kề vĩ thanh của cuộc chiến tranh thống nhất Việt Nam, nhà lãnh đạo Bắc Việt Võ Nguyên Giáp nhanh chóng chỉ huy quân xâm chiếm Nam Sa. Theo tiết lộ từ đặc san “Về Hoàng Sa và Trường Sa” do Tạp chí “Lịch sử quân sự” thuộc Viện nghiên cứu lịch sử quân sự Bộ quốc phòng Việt Nam xuất bản năm 1988 thì vào đầu năm 1975, Bộ tư lệnh hải quân Việt Nam đã tiến hành công tác chuẩn bị “giải phóng Biển Đông và các đảo ở vùng biển Tây Biển Đông do quân ngụy chiếm giữ”. Ngày 4 tháng 4 năm 1975, Võ Nguyên Giáp đã gửi đến Quân khu 5 và Bộ tư lệnh hải quân một bức điện đặc biệt, yêu cầu nắm chắc kế hoạch tác chiến đã định, để thời cơ đến là kịp thời giải phóng quần đảo Trường Sa. Ngày 14 tháng 3, Võ Nguyên Giáp chỉ thị: “Quân địch (chỉ quân đội Nam Việt) rút khỏi đảo nào, chúng ta liền lập tức chiếm ngay lấy…”.       
Trận giành đảo này diễn ra chưa được bao lâu, thì ngày 7 tháng 5, Thông tấn xã Miền Nam Việt Nam liền phát tin “đã giải phóng” quần đảo Nam Sa. Sau đó, trên các báo “Nhân dân”, “Quân đội nhân dân” của Việt Nam đã cho đăng Bản đồ toàn quốc Việt Nam theo bản đã được chỉnh sửa, nhất là ở Bản đồ Việt Nam đăng trên báo “Quân đội nhân dân” lần đầu tiên đã chú thích quần đảo Nam Sa là lãnh thổ Việt Nam. Thông tấn xã Việt Nam chính thức cũng đưa tin, quân đội Việt Nam“đã giải phóng 6 hòn đảo quý của tổ quốc”. Trên Bản đồ quốc gia Việt Nam xuất bản vào tháng 5 cùng năm, phía Việt Nam ngang nhiên đưa các đảo ở Nam Sa vào bản đồ của mình.    

Việt Nam công bố văn bản để lấp liếm sự thay đổi lập trường  

Thực ra, Trung Quốc và Việt Nam lúc này không còn là mối quan hệ “đồng chí anh em” ở thập niên 50 đã từ lâu, xung đột biên giới trên đất liền, Hoa kiều Việt Nam bị bức hại, tranh chấp vùng biển Vịnh Bắc Bộ … đã làm cho hai nước dần đi vào thế thù địch. Nhưng để bảo vệ đại cục Trung-Việt, trong bản tuyên bố công khai có liên quan, Trung Quốc vẫn tránh nhắc đến Việt Nam, mà sử dụng phương thức giao thiệp bí mật. Tháng 9 năm 1975, nhà lãnh đạo Việt Nam Lê Duẩn dẫn đầu Đoàn đại biểu Đảng và Chính phủ đi thăm Trung Quốc, lần đầu tiên chính thức đưa ra yêu cầu chủ quyền đối với các đảo ở Nam Hải. Đặng Tiểu Bình giữ chức Phó thủ tướng khi ấy đã nói với Lê Duẩn, giữa hai nước có sự bất đồng về vấn đề quần đảo Tây Sa và quần đảo Nam Sa, phía Trung Quốc có đầy đủ bằng chứng để chứng minh Tây Sa và Nam Sa từ xưa đến nay là thuộc về Trung Quốc… Nhưng theo nguyên tắc giải quyết bất đồng thông qua hiệp thương hữu nghị, vấn đề này có thể để lại thảo luận sau.   
Tuy nhiên, tranh chấp Trung-Việt sau này lại không ngừng nóng  lên, ngày 6 tháng 5 năm 1977, tờ “Daily Telegraph” của Anh với bài viết có tựa đề “Xung đột lợi ích của các nhà nước cộng sản ở Nam Hải” đã nói, cộng sản Hà Nội Việt Nam với sự giúp sức của Liên Xô, đã xây dựng một sân bay gọn nhẹ trên đảo Mỗ Gia Đức [v] (tức đảo Phí Tín của ta)”. Ngày 12 tháng 5, Việt Nam ra bản “Tuyên bố của Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam”, đặc biệt nhắc đến Tây Sa và Nam Sa là lãnh thổ Việt Nam.  
Khoảng 1 tháng sau, Thủ tướng Việt Nam Phạm Văn Đồng sang thăm Trung Quốc, Phó thủ tướng Lý Tiên Niệm khi gặp mặt ông ta đã nói rõ, phía Việt Nam trước đây từng thừa nhận Nam Sa, Tây Sa là lãnh thổ của Trung Quốc, nhưng từ sau năm 1974 lập trường lại bắt đầu thay đổi, nhất là năm 1975 đã thừa dịp giải phóng Miền Nam xâm chiếm mất 6 đảo thuộc Nam Sa của chúng tôi, “Liên Xô trước năm 1975 luôn thừa nhận Nam Sa, Tây Sa là lãnh thổ của Trung Quốc, sau khi các anh gây chuyện tranh chấp này, họ cũng lập tức thay đổi thái độ”. Phạm Văn Đồng biện giải: “Trong lúc kháng chiến, đương nhiên là chúng tôi phải đặt chuyện đánh đế quốc Mỹ lên cao hơn tất cả”, “về tuyên bố của chúng tôi, trong đó bao gồm cả những điều đã nói trong bức Công hàm mà tôi đã gửi cho Thủ tướng Chu Ân Lai, cần phải được hiểu như thế nào? Cần phải được hiểu từ hoàn cảnh lịch sử lúc bấy giờ”. Lý Tiên Niệm vạch rõ lại luôn, cái kiểu giải thích này không thuyết phục, ứng xử với vấn đề lãnh thổ là phải nghiêm túc thận trọng, không thể nói do nhân tố chiến tranh mà lại có thể có lối giải thích khác được. Vả lại khi Thủ tướng Phạm Văn Đồng gửi Công hàm cho Thủ tướng Chu Ân Lai, cuộc đấu tranh chống Mỹ chưa nổ ra.
    Sau việc này, quan hệ Trung-Việt lại càng xấu hơn. Năm 1979, Việt Nam công bố Sách trắng, dùng một loạt những điều gọi là “chứng cứ lịch sử” để đòi công bố với thế giới chủ quyền của mình đối với Tây Sa và Nam Sa. Năm 1988, Bộ ngoại giao Việt Nam công bố văn bản thừa nhận trước đây thực tế đã công nhận chủ trương của Trung Quốc, nhưng lại lấp liếm nói, sở dĩ phải làm như vậy là xuất phát từ nhu cầu muốn được Trung Quốc ủng hộ cuộc đấu tranh chống Mỹ của Việt Nam, v.v… và v.v… Ai cũng biết rằng, cuộc đấu tranh chống Mỹ của Việt Nam đến thập niên 60 của thế kỷ trước mới bắt đầu.

Bản tiếng Việt © Quốc Thanh 2012
Bản tiếng Việt © Việt sử ký 2012
Nguồn: trang mạng về lịch sử của Trung Quốc history.huanqiu.com
Tham khảo thêm:
李先念当面质问越南总理 范文同百般狡辩
Lý Tiên Niệm chất vấn ngay tại trận sự lấp liếm của Thủ tướng Phạm Văn Đồng

[i] Tức Biển Đông.
[ii]  Tức Trường Sa.
[iii]  Tức Hoàng Sa.
[iv] Nếu đem đối chiếu phần trích dẫn này với nội dung trong Công hàm của Phạm Văn Đồng (bản chụp), thì sẽ thấy có sự sai lệch. –ND.
[v] Tức đảo Bình Nguyên (tên quốc tế: Flat Island, tên Philippines: Patag) –ND.

Thứ Hai, 23 tháng 1, 2012

Những người bạn Trung Quốc của Hồ Chí Minh những năm 1920 -1927


TẠP CHÍ XƯA & NAY

Những người bạn Trung Quốc của

Hồ Chí Minh những năm 1920 -1927

SỐ 395+396 THÁNG 1- 2012
Nguyễn Văn Tuấn
TRONG THỜI GIAN HOẠT ĐỘNG Ở NƯỚC NGOÀI SAU KHI RA ĐI TÌM ĐƯỜNG CỨU NƯỚC NĂM 1911, NGUYỄN ÁI QUỐC ĐÃ CÓ NHIỀU QUAN HỆ VỚI CÁC NHÀ CÁCH MẠNG QUỐC TẾ, ĐẶC BIỆT LÀ CÁC CHIẾN SĨ CHỐNG THỰC DÂN ĐẾN TỪ CÁC THUỘC ĐỊA CỦA PHÁP. NHƯNG ĐÁNG CHÚ Ý LÀ MỐI QUAN HỆ MÀ NGUYỄN ÁI QUỐC HẾT SỨC QUAN TÂM, ĐÓ LÀ CÁC CHIẾN SĨ CỘNG SẢN TRUNG QUỐC. BÀI NÀY TÌM HIỂU MỐI QUAN HỆ GIỮA NGUYỀN ÁI QUỐC VỚI NHỮNG NGƯỜI BẠN TRUNG HOA TRONG NHỮNG NĂM TỪ 1920 – 1927.
Sau khi trở thành đảng viên cộng sản, Nguyễn Ái Quốc tiếp tục hoạt động ở Pháp, tham gia công tác của ĐCS Pháp (Người là Trưởng tiểu ban Đông Dương của Đảng Cộng sản (ĐCS) Pháp), đồng thời tích cực hoạt động vì sự phát triển của cách mạng Việt Nam và cách mạng thế giới. Thời gian này, người cùng một số nhà cách mạng các nước thành lập Hội Liên hiệp thuộc địa (giữa năm 1921), xuất bản báo Le Paria (4-1922). Ngoài ra, còn tổ chức và tham gia các buổi diễn thuyết, viết báo tố cáo tội ác của chủ nghĩa thực dân, tuyên truyền chủ nghĩa Mác – Lênin về Việt Nam, kêu gọi nhân dân các dân tộc trên thế giới đoàn kết đấu tranh…
Thi gian ở Pháp và Liên Xô (1920 – 1924)
Sau phong trào Ngũ tứ (4-5- 1919), chủ nghĩa Mác – Lênin truyền vào Trung Quốc một cách mạnh mẽ, góp phần dẫn tới sự ra đời của các tiểu tổ cộng sản ở nhiều địa phương Trung Quốc và thành lập ĐCS Trung Quốc vào ngày 23-7-1921. Theo yêu cầu của tổ chức, nhiều đảng viên cộng sản Trung Quốc được cử đến các nước châu Âu như Pháp, Đức, Nga… hoạt động. Ở Pháp, từ năm 1920, xuất hiện ngày càng đông các nhà cách mạng Trung Quốc. Đa số họ là đảng viên viên ĐCS Trung Quốc, thực hiện yêu cầu của Đảng đến Pháp học tập và hoạt động. Tại Pháp, họ thành lập tiểu tổ (chi bộ) ĐCS Trung Quốc ở Paris, tổ chức Thanh niên cộng sản đảng và nhiều tổ chức đoàn thể khác để đấu tranh.
Để mở rộng tình đoàn kết, cùng chung sức đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân, thực hiện mục tiêu giải phóng dân tộc, Nguyễn Ái Quốc tiến hành liên lạc với các nhà cách mạng châu Á. Trong đó, người chú trọng mối quan hệ với các đồng chí Trung Quốc. Tại Paris, Nguyễn Ái Quốc quen biết nhiều đồng chí cộng sản Trung Quốc, trong đó có Chu Ân Lai (1898-1976), Lý Phú Xuân (1900-1975), Thái Sướng (1900-1990), Nhiếp Vinh Trăn (1899-1992), Triệu Thế Viêm (1901-1927), Trần Diên Niên (1898-1927), Trần Kiều Niên (1902-1928), Vương Nhược Phi (1896-1946), Tiêu Tam (1896- 1983)…, họ đều là những đảng viên lớp đầu của ĐCS Trung Quốc, về sau có đóng góp to lớn cho sự nghiệp đấu tranh của cách mạng, một số người giữ những chức vụ chủ chốt trong Đảng và Nhà nước Trung Quốc.
Thời gian này, ĐCS Pháp và đoàn thể của nước Pháp thường xuyên tổ chức các cuộc diễu hành, thị uy, thu hút rất đông quần chúng tham gia, kể cả các đồng chí Trung Quốc. Chính trong những lần tham gia mít tinh, diễu hành này, Nguyễn Ai Quốc đã quen biết một số đồng chí Trung Quốc. Sau này, một trong số những người đó là Tiêu Tam(1) nhớ lại: “Thời gian tôi ở Paris, ĐCS Pháp hoạt động rất sôi nổi, thường xuyên tổ chức đảng viên và quần chúng míttinh, các đồng chí Trung Quốc rất nhiệt tĩnh tham gia hoạt động này, nhất là thích đi nghe lãnh đạo ĐCS diễn thuyết. Trong một buổi mít tinh vào mùa hè 1922, tôi gặp một người phương Đông. Ông ấy biết tôi là người Trung Quốc, liền đi tới và dùng tiếng Quảng Đông nói chuyện với chúng tôi. Chúng tôi ở Pháp chủ yếu là người Hồ Nam, Tứ Xuỵên, không hiểu tiếng Quảng Đông. Ông ấy liền dùng bút viết chữ Hán đàm đạo với chúng tôi, thỉnh thoảng lại dùng mấy câu tiếng Pháp. Thế là chúng tôi biết ông ấy là người Việt Nam, tên gọi là Nguyễn Ái Quốc. Tên tuổi của Nguyễn Ái Quốc chúng tôi đã từng nghe, ông ấy từng tố cáo tội ác của thực dân Pháp tại tại Hội nghị Versailles, để lại cho chúng tôi một ấn tượng rất sâu sắc, chỉ là chưa được gặp. Bây giờ được gặp Nguyễn Ái Quốc, đương nhiên mọi người đều rất vui. Thế là chúng tôi mời ông ấy đến trụ sở của mình. Rất nhanh, chúng tôi và ông ấy đã có sự quen biết”(2). Sau đó, Nguyễn Ái Quốc từng đến trụ sở của các tổ chức đảng, đoàn của các đồng chí Trung Quốc (ở số 17 đường Godefroy, phía nam Paris) cùng thảo luận vấn đề cách mạng, đoàn kết đấu tranh. Do cùng chung lí tưởng, cùng chung mục đích đấu tranh giải phống dân tộc, nên mối quan hệ giữa Nguyễn Ái Quốc vối các đồng chí cộng sản Trung Quốc nhanh chóng trở nên thân thiết. Ngay từ trước đó, Nguyễn Ái Quốc với những hoạt động cách mạng của mình đã làm cho các đồng chí Trung Quốc chú ý. Nay có điều kiện tiếp xúc, với ý chí cách mạng kiên định, phẩm chất đạo đức cao thượng, người nhận được sự tôn trọng và ngưỡng mộ của các đồng chí Trung Quốc.
Những năm hoạt động ở Paris Tiêu Tam được tổ chức giao nhiệm vụ liên lạc với ĐCS Pháp, Đoàn Thanh niên xã hội chủ nghĩa Pháp để phối hợp công tác. Ông thường đến Ban thuộc địa ĐCS Pháp và thường xuyên tiếp xúc với Nguyễn Ái Quốc. Do yêu cầu công tác, quan hệ giữa hai người vì thế cũng ngày càng thân mật.
Vào khoảng mùa thu năm 1922, Nguyễn Ái Quốc thảo luận với các đồng chí cộng sản Trung Quốc về vấn đề gia nhập ĐCS Pháp. Người cho rằng, ĐCS Pháp theo chủ nghĩa cộng sản và chú trọng chủ nghĩa quốc tế, vì vậy, các nhà cách mạng cùng chung lí tưởng và cùng chung đường lối đấu tranh, không phân biệt quốc gia, dân tộc, đều có thể tham gia. Người hi vọng một số đồng chí Trung Quốc tham gia ĐCS Pháp và tỏ ý sẽ sẵn sàng giới thiệu với Đảng. Các đồng chí lãnh đạo tổ chức đảng, đoàn Trung Quốc tại Pháp nghiêm túc thảo luận vấn đề này và cho rằng nên cử một số người tham gia ĐCS Pháp để tăng cường quan hệ và tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động. Vào khoảng tháng 10-1922, Nguyễn Ai Quốc giới thiệu 5 đồng chí Trung Quốc gia nhập ĐCS Pháp là Vương Nhược Phi, Triệu Thế Viêm, Trần Diên Niên, Trần Kiều Niên(3) và Tiêu Tam. Những người này trở thành đảng viên ĐCS Pháp và chuyển đến sinh hoạt thường xuyên với tổ chức Đảng.
Cũng thời gian hoạt động tại Pháp, Nguyễn Ái Quốc bắt đầu thiết lập mối quan hệ đồng chí thân thiết với Chu An Lai. Năm 1920, Chu Ân Lai cùng với một số đồng chí Trung Quốc đến Pháp học tập và hoạt động. Tại đây, ông tham gia thành lập và là người phụ trách chung công tác của các tổ chức đảng, đoàn thể của Trung Quốc ở Pháp. Có một lần (năm 1922), Nguyễn Ái Quốc chủ động hẹn gặp Chu Ân Lai tại một ga tàu điện ngầm gần sông Seine ở Paris. Trong lần đầu tiên gặp mặt, “ánh mắt chân thành và hiền từ của Nguyễn Ái Quốc làm cho Chu Ân Lai cảm động”. Hai người đi bộ dọc sông Seine, “nói chuyện lí tưởng, hoài bão, cuộc sống; nói chuyện tình hình nước Pháp, Trung Quốc, Việt Nam và thế giới; thảo luận về các chủ ng­hĩa, khuyến khích sự học tập chủ nghĩa Mác, biểu thị sự ngưỡng mộ chủ nghĩa cộng sản”(4). Sau lần đó, Chu Ân Lai thường đến nơi ở của Nguyễn Ái Quốc tại số 9 ngõ Compoint, cùng trao đổi chuyện chính trị và cuộc sống. Năm 1954, Đoàn đại biểu Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do đồng chí Phạm Văn Đồng dẫn đầu tham dự Hội nghị Geneve. Trước khi đến Hội nghị, đoàn dừng lại ở Bắc Kinh. Tại
đây, Chu Ân Lai (lúc đó là Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa) nói với Phạm Văn Đồng về mối quan hệ của mình với Chủ tịch Hồ Chí Minh lúc hoạt động ở Pháp: “Lúc tôi mới tham gia cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã giúp đỡ chúng tôi rất nhiều. Người giới thiệu một số đồng chí chúng tôi gia nhập ĐCS Pháp. Lúc đó, tôi thường xuyên đến ngõ Compoint gặp người. Người sống rất giản dị, nhưng học thức sâu rộng, năng lực hoạt động rất mạnh mẽ. Chủ tịch Hồ Chí Minh còn thông thạo nhiều ngoại ngữ. Đạo đức và sự thông minh của người có sức cảm hóa lớn đối với những thanh niên mới bước vào con đường cách mạng như chúng tôi”(5).
Những cuộc gặp gỡ ở Paris đã đặt cơ sở cho mối quan hệ rất gắn bó và thân thiết giữa Hồ Chí Minh và Chu Ân Lai thời gian về sau. Tháng 11-1956, Chu Ân Lai dẫn đầu đoàn đại biểu Chính phủ Nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa sang thăm chính thức Việt Nam. Tại buổi buổi chiêu đãi, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Chu Ân Lai là người anh em của tôi. chúng tôi từng cùng nhau đồng cam cộng khổ, cùng nhau hoạt động cách mạng. Ông ấy là người chiến hữu thân thiết của tôi hơn 30 năm nay”. Chu Ân Lai nói: “34 năm trước tôi đã quen biết Hồ Chủ tịch ở Paris. Hồ Chủ tịch là người dẫn đường cách mạng của tôi. Lúc đó, người đã là một người chiến sĩ cách mạng, còn tôi thì mới gia nhập ĐCS. Người là người anh của tôi”(6).
Tháng 6-1923, Nguyễn Ái Quốc rời Pháp đến Liên xô và lưu lại ở đây khoảng một năm rưỡi. Tại đây, người một mặt học tập để hoàn thiện lí luận cứu nước của mình, mặt khác ra sức tìm hiểu tình hình mọi mặt của chế độ Xô viết, đồng thời tích cực tham gia nhiều hoạt động chính trị tại Liên Xô. Người tham dự nhiều hội nghị quốc tế quan trọng, như Đại hội Quốc tế Nông dân, Đại hội Quốc tế Công hội đỏ, Đại hội Quốc tế thanh niên, nhất là Đại hội V Quốc tế Cộng sản từ 17-6 đến 18- 7-1924 tại Mátxcơva.
Thời gian hoạt động tại Liên Xô, Nguyễn Ái Quốc tiếp tục thiết lập mối quan hệ với những đồng chí cộng sản Trung Quốc. Trong đó, đáng chú ý nhất là mối quan hệ đồng chí giữa Người và Trương Thái Lôi(7). Trương Thái Lôi là một trong những người cộng sản đầu tiên của Trung Quốc. Tháng 10 -1920, ông tham gia tiểu tổ cộng sản Bắc Kinh. Đầu năm 1921, đến Mátxcơva hoạt động trong Quốc tế Cộng sản. Ông từng tham dự các đại hội III, IV, V của Quốc tế Cộng sản và Đại hội IV Quốc tế Thanh niên. Tại Liên Xô, Nguyễn Ái Quốc và Trương Thái Lôi đều vào học Trường Đại học Cộng sản của những người lao động Phương Đông, cùng hoạt động trong Quốc tế Cộng sản. Ngoài ra, hai người còn cùng nhau tham dự lễ tang Lênin vào ngày 23-1-1924. Với điều kiện học tập và công tác gần gũi, Nguyễn Ái Quốc và Trương Thái Lôi thường xuyên tiếp xúc, thảo luận chuyện chính trị, giúp đỡ lẫn nhau trong học tập và công tác, từ đó hình thành mối quan hệ thân thiết. Hai người và một đồng chí Nhật Bản còn chụp một bức ảnh chung.
Thời gian này, Nguyễn Ái Quốc dành thời gian viết nhiều bài báo và sách về tình hình Trung Quốc, như Chính sách thực dân Anh, Tình hình ở Trung Quốc, Tình cảnh nông dân Trung QuốcCác nước đế quốc và Trung Quốc, Trung Quốc và Thanh niên Trung Quốc... Trương Thái Lôi và các đồng chí Trung Quốc đã giúp đỡ Nguyễn Ái Quốc rất nhiều trong việc thu thập tư liệu về tình hình Trung Quốc, tình trạng nông dân và phong trào thanh niên Trung Quốc. Trong số các bài báo và sách mà Nguyễn Ai Quốc đã viết, đáng chú ỷ là cuốn sách Trung Quốc và Thanh niên Trung Quốc. Sách do Nguyễn Ái Quốc chủ biên, có sự tham gia biên soạn của một số sinh viên Trung Quốc học tại Trường Đại học Cộng sản của những người lao động Phương Đông. Sách viết bằng tiếng Pháp, được dịch sang tiếng Nga, do Nhà xuất bản Mátxcơva mới xuất bản năm 1925. Cuốn sách giời thiệu khái quát về lịch sử, địa lí, kinh tế, văn hóa, xã hội và con người Trung Quốc; tình cảnh của các tầng lớp nhân dân Trung Quốc qua các thời kì, nhấn mạnh thời kì bị chủ nghĩa đế quốc áp bức; nêu lên những đặc trưng về phong trào cách mạng Trung Quốc và nhiệm vụ của thanh niên Trung Quốc trong sự nghiệp cách mạng… Việc biên soạn cuốn sách này cũng thể hiện tinh thần quốc tế vô sản cao cả của Nguyễn Ái Quốc. Người đã để tâm nghiên cứu và giới thiệu với thế giới về tình hình, nhiệm vụ của cách mạng Trung Quốc và tố cáo tội ác của chủ nghĩa đế quốc đối vối nhân dân Trung Quốc.
Có thể nói, thời gian hoạt động ở Pháp và Liên Xô Nguyễn Ái Quốc rất coi trọng thiết lập mối quan hệ với các đồng chí cộng sản Trung Quốc. Người đã có nhiều sự giúp đỡ đối với các đồng chí Trung Quốc trong quá trình hoạt động. Mối quan hệ đó được hình thành và phát triển trên cơ sở tinh đồng chí cộng sản chân thành và tinh thần quốc tế vô sản. Nó chính là sự mở đầu cho mối quan hệ ngày càng gắn bó của Nguyễn Ái Quốc với các đảng viên ĐCS Trung Quốc trong thời gian tiếp theo.
Thi kỳ Đại Cách mạng ở Quảng Châu (11/1924 – 5/1927)
Tháng 11-1924, Nguyễn Ái Quốc đến Quảng Châu. Quảng Châu lúc đó là trung tâm của cách mạng Trung Quốc, phong trào đấu tranh của nhân dân Trung Quốc ở đây phát triển rất mạnh. Đồng thời được coi là “Mátxcơva của phương Đông”, thu hút rất đông các nhà cách mạng các nước châu Á đến hoạt động. Ớ Quảng Châu cũng có rất đông các nhà yêu nước Việt Nam. Họ đến đây để mưu cầu sự nghiệp đấu tranh chống Pháp, giải phóng dân tộc. Họ thành lập tổ chức, liên kết đồng chí, thực hiện các vụ ám sát… Sau khi đến Quảng Châu, Nguyễn Ái Quốc được bố trí vào làm phiên dịch trong Trụ sở Borodin (cố vấn chính trị của Ban chấp hành Trung ương Trung Hoa Quốc dân đảng). Ngoài ra, với tư cách là đặc phái viên của Quốc tế Cộng sản, phụ trách Cục phương Nam, ngươi có điều kiện để theo dõi hoạt động của nhóm yêu nước người Việt Nam tại đây. Trên thực tế, việc lãnh đạo phong trào đấu tranh của các nhà cách mạng Việt Nam là hoạt động quan trọng nhất của Nguyễn Ái Quốc thời gian ở Quảng Châu. Người thành lập Hội Việt Nam
Cách mạng Thanh niên, chỉ đạo mở lớp huấn luyện chính trị để đào tạo cán bộ cách mạng, xuất bản báo Thanh Niên để truyền báchủ nghĩa Mác – Lênin về Việt Nam, mặt khác tích cực tham gia phong trào đấu tranh của nhân dân Trung Quốc, của các nhà cách mạng quốc tế tại Quảng Châu.
Tuy thời gian hoạt động ở Quảng Châu không dài (khoảng hai năm rưỡi), nhưng Nguyễn Ái Quốc đã có nhiều mối quan hệ rất gắn bó với các đảng viên ĐCS Trung Quốc. Trước và sau khi Nguyễn Ái Quốc đến Quảng Châu, nhiều đồng chí Trung Quốc từng hoạt động ở Pháp và Liên Xô cũng về nước, đến đây hoạt động. Đó là các đồng chí Chu Ân Lai, Lý Phú Xuân, Thái Sướng, Trương Thái Lôi, Trần Diên Niên, Nhiếp Vinh Trăn… Ngoài ra, trong thời gian này, Nguyễn Ái Quốc còn có quan hệ công tác với các đồng chí mới là Đặng Dĩnh Siêu (1904- 1992), Bành Bái (1896-1929), Diệp Kiếm Anh (1897-1986), Lưu Thiếu Kỳ (1898-1969)…
Sau khi Nguyễn Ái Quốc rời Pháp đến Liên Xô, năm 1924 Chu An Lai chấp hành chỉ thị của Đảng về Quảng Châu hoạt động. Ông giữ chức Chủ tịch Khu ủy tỉnh Quảng Đông kiêm Bộ trưởng Bộ Tuyên truyền, Chủ nhiệm Cục chính trị Trường Quân chính Hoàng Phố. Nguyễn Ai Quốc vui mừng khi biết Chu An Lai đã trở thành nhân vật rất quan trọng của ĐCS Trung Quốc ở Quảng Châu. Tại đây, hai người có nhiều dịp để gặp gỡ trao đổi công tác. Với cương vị lãnh đạo Khu ủy Quảng Đông, Chu An Lai có điều kiện giúp đỡ Nguyễn Ái Quốc và Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên hoạt động. Khi Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên mở lớp huấn luyện chính trị, nhận lời mời của Nguyễn Ái Quốc, Chu Ân Lai và các đồng chí Lý Phú Xuân (ủy viên Quân ủy Khu ủy Quảng Đông), Bành Bái (phụ trách nông vận), Lưu Thiếu Kỳ (phụ trách công vận)… từng đến Trụ sở của Hội ở số 13 đường Văn Minh giảng bài hoặc báo cáo chuyên đề. Chu Ân Lai cũng nhiều lần mời Nguyễn Ái Quốc đến tham quan tình hình Trường Quân chính Hoàng Phố, đồng thời cử giáo viên của Trường đến giúp Nguyễn Ái Quốc đào tạo cán bộ. Mối quan hệ đồng chí thân thiết của Nguyễn Ái Quốc và Chu An Lai không chỉ thể hiện trong công tác, mà còn thể hiện trong cuộc sống. Tháng 8-1925, Chu Ân Lai và Đặng Dĩnh Siêu kết hôn ở Quảng Châu. Sau đó, Nguyễn Ai Quốc thường xuyên đến thăm vợ chồng Chu An Lai. Ngược lại, vợ chồng Chu An Lai cũng quan tâm giúp đỡ Nguyễn Ái Quốc trong cuộc sống.
Ở Trường Quân chính Hoàng Phố lúc đó, không chỉ có Chu An Lai là lãnh đạo mà Diệp Kiếm Anh cũng là người có vai trò quan trọng, phụ trách công tác giảng dạy. Ngoài ra, Trần Diên Niên cũng là người quản lí của trường. Đó chính là một trong những điều kiện thuận lợi để Nguyễn Ái Quốc quyết định cử một số hội viên của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên đến học ở Trường. Trong số này có Phùng Chí Kiên, Trương Vân Lĩnh, Lê Thiết Hùng… về sau đều trở thành những nhà lãnh đạo quân sự của Đảng ta.
Sau khi Nguyễn Ái Quốc đến Quảng Châu, đầu năm 1925, Trương Thái Lôi cũng đến Quảng Châu, công tác trong Trụ sở Boro­din. Từ đó, mối quan hệ đồng chí giữa hai người vốn được đặt nền móng từ trước tiếp tục phát triển, ngày càng bền chặt. Phòng làm việc của Nguyễn Ái Quốc được bố trí gần với phòng của Trương Thái Lôi. Hai người thường xuyên đến phòng làm việc của nhau cùng chuyện trò thân mật và thảo luận công việc. Đối với Trương Thái Lôi, Nguyễn Ái Quốc là một chiến hữu gần gũi, chân thành và rất thẳng thắn. Vương Nhất Trí (người cùng làm việc với Trương Thái Lôi thời gian ở Quảng Châu) sau này nhớ lại: “Hồ Chí Minh là người chân thành, Người thường nói với tôi và Thái Lôi rằng: Người đảng viên cộng sản phải chân thành với đồng chí và nhân dân. Quan hệ giữa Hồ Chí Minh với chúng tôi rất thân thiết, Người và Thái Lôi thời gian ở Liên Xô quan hệ đã tốt, nay lại công tác cùng nhau, tình thân thiết lại tăng lên nhiều lần. Hầu như ngày nào người cũng đến phòng làm việc của chúng tôi, chúng tôi cũng thường xuyên đến phòng của người”(8); “Tôi nhớ có một lần tôi và Thái Lôi tranh cãi nhau vì một việc nhỏ, Hồ Chí Minh nghe thấy và mỉm cười bước đến, dùng tiếng Nga hỏi chúng tôi “Các anh có phải là người đảng viên cộng sản không?” Tôi và Thái Lôi chợt hiểu ra Hồ Chí Minh đang phê bình mình, làm một người đảng viên cộng sản phải tôn trọng lẫn nhau, chân thành với nhau, không thể vì một việc nhỏ mà tranh cãi… Sự việc này để lại cho chúng tôi một ấn tượng rất sâu sắc”(9). Ngoài ra, Nguyễn Ái Quốc và Trương Thái Lôi còn cùng nhau tham gia hoạt động tuyên truyền, diễn thuyết tại phong trào bãi công của công nhân Trung Quốc tại Quảng Châu. Khi gửi thư cho Đoàn chủ tịch Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Trung Hoa Quốc dân đảng (ngày 6-1-1926) đề nghị được tham gia và phát biểu tại Đại hội, Nguyễn Ái Quốc (lúc đó dùng tên Lý Thụy) đề địa chỉ liên lạc là: Sứ quán Borodin, ngài Trương Xuân Mộc chuyển(10). Trương Xuân Mộc chính là bí danh của Trương Thái Lôi.
Bức thư của Nguyễn Ái Quốc đã đến Đoàn chủ tịch Đại hội. Một trong số những người tham gia Đoàn chủ tịch là Đàm Bình Sơn (đảng viên ĐCS Trung Quốc, kiêm Bộ trưởng Bộ tổ chức Trung ương Quốc dân đảng) quyết định: “Lúc thảo luận dề án dân tộc, mời ông ấy đến dự và phát biểu”(11). Sáng ngày 14-1-1924, tại phiên họp thứ 9, Nguyễn Ái Quốc (bí danh Vương Đạt Nhân) đến dự và phát biểu tại Đai hội! Người phát biểu bằng tiêng Pháp, một đổng chí mà người đã quen biết thời gian ở Pháp và có quan hệ thân thiết thời gian ở Quảng Châu là Lý Phú Xuân dịch. Có thể thấy, Nguyễn Ái Quốc với quan hệ rộng và thân thiết với các đồng chí cộng sản Trung Quốc đã tạo ra những điều kiện tốt để mở rộng các mối quan hệ với các giới chính trị Trung Quốc lúc bấy giờ, tranh thủ sự giúp đỡ của cách mạng Trung Quốc đối với cách mạng Việt Nam.
Dưới sự giúp đỡ của ĐCS Trung Quốc, Nguyễn Ái Quốc cùng với một số nhà cách mạng các nước Trung Quốc, Triều Tiên, Indonesia… thành lập Hội Liên hiệp các dân tộc bị áp bức ở Á Đông vào tháng 7-1925. Hội có quan hệ mật thiết vối Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên. Nguyễn Ái Quốc là một trong những người lãnh đạo của Hội, đồng thời trực tiếp phụ trách Phân bộ Việt Nam. Tháng 2-1926, Hội Liên hiệp các dân tộc bị áp bức ở Á Đông tiến hành kiện toàn cơ cấu tổ chức. Đảng viên ĐCS Trung Quốc Bao Huệ Tăng được bầu làm Chủ tịch Ban chấp hành lâm thời, Nguyễn Ái Quốc là ủy viên phụ trách tài chính và phụ trách phân bộ Việt Nam. Với cương vị công tác này, Nguyễn Ái Quốc quen biết thêm nhiều đồng chí đảng viên ĐCS Trung Quốc công tác trong Hội. Cũng nhờ đó mà hoạt động Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên ngày càng thuận lợi. Nhiều hội viên Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên tham gia vào công tác của Hội Liên hiệp các dân tộc bị áp bức ở Á Đông.
Tháng 4-1927, Tưởng Giới Thạch thực hiện chính biến phản cách mạng ở Thượng Hải. Sau đó, phái phản động trong Trung Hoa Quốc dân đảng ở Quảng Châu công khai phản biến, đàn áp, bắt bớ đảng viên cộng sản và quần chúng cách mạng. Tình hình thay đổi, Nguyễn Ái Quốc buộc phải rời Quảng Châu.
Trong sách Vừa đi đường vừa kể chuyện, tác giả T. Lan có nói đến tình hình của Hồ Chí Minh những ngày cuối ở Quảng Châu. Mặc dù Quốc dân đảng khủng bố rất mạnh, nhưng Bác vẫn ráng ở lại Quảng Châu một thời gian, vì cần liên lạc với các đồng chí Trung Quốc và cần duy trì công việc của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên(12). Trên thực tế, sau chính biến của lực lượng phản động trong Trung Hoa Quốc dân đảng, các đảng viên ĐCS Trung Quốc phải lui vào hoạt động bí mật, đoàn công tác của Liên Xô cũng phải dời đến Vũ Hán (Hồ Bắc). Mặc dù vậy, Nguyễn Ái Quốc vẫn lưu lại Quảng Châu khoảng gần một tháng. Nhưng tình Quảng Châu diễn biến ngày càng xấu, dưới sự sắp xếp của ĐCS Trung Quốc, tháng 5-1927, Nguyễn Ái Quốc rời Quảng Châu đến Vũ Hán, nhập vào đoàn công tác của Liên Xô cùng đến Thượng Hải và trở lại Liên Xô. Người hoạt động ở Liên Xô một thời gian, sau đó đến Đức, Pháp, Thụy Sĩ, Italia và về Thái Lan
Nói tóm lại, trong thời gian hoạt động ở Pháp, Liên Xô, Trung Quốc (từ năm 1920 đến 1927), Nguyễn Ái Quốc đã có nhiều mối quan hệ thân thiết với các đồng chí cộng sản Trung Quốc. Mối quan hệ đó dựa trên tinh thần quốc tế vô sản của những người cùng chung lí tưởng, chung khát vọng đấu tranh. Người đã nhiệt tình giúp đỡ các đồng chí Trung Quốc trong hoạt động và cũng nhận được sự giúp đỡ của họ. Với lòng nhiệt tình, sự chân thành, thẳng thắn và những phẩm chất đạo đức cao thượng, người để lại ấn tượng sâu đậm đối với các đồng chí Trung Quốc. Việc thiết lập quan hệ vối các đồng chí Trung Quốc cũng phần nào thể hiện tư tưởng nhất quán về đoàn kết cách mạng quốc tế của Hồ Chí Minh, đặt cơ sở cho hoạt động của các nhà cách mạng Việt Nam ở Trung Quốc thời gian về sau, góp phần biến Trung Quốc thành căn cứ địa của cách mạng Việt Nam ở nước ngoài.
CHÚ THÍCH:
1. Tiêu Tam sinh nám 1896, quê ở tỉnh Hồ Nam, Trung Quốc. Năm 1920, ông sang Pháp du học, tham gia tiểu tổ ĐCS Trung Quốc ở Pari. Năm 1924, về nước giữ chức Ủy viên tỉnh ủy Hồ Nam. Về sau ông trở thành nhà văn nổi tiếng của Trung Quốc.
2. Hoàng Tranh, Hồ Chí Minh vi Trung Quốc, Nhà xuất bản Giải phóng quân, Bắc Kinh, 1987, tr.7, (bản tiếng Trung).
3. Vương Nhược Phi sinh năm 1896 ở huyện An Thuận, Quỹ Châu, Trung Quốc. Đến Pháp từ năm 1919, năm 1925 về nước, hoạt động ở Thượng Hải, Hồ Nam, Giang Tô. Năm 1931, là đặc phái viên của ĐCS Trung Quốc tại Đặc khu Tây Bắc. Từ năm 1938 là Phó tham mưu trưởng Bát lộ quân Trung Quốc, từ năm 1940 là Trưởng Ban thư kí Trung ương Đảng. Triệu Thế Viêm sinh năm 1901 ở Trùng Khánh, Tứ Xuyên. Năm 1920 đến Pháp, là lãnh đạo tiểu tổ ĐCS Trung Quốc và tổ chức Thanh niên cộng sản đảng của Trung Quốc ở Pháp. Tháng 3-1923, đến học tại Trường Đại học Cộng sản của những người lao động Phương Đông (Liên Xô). Tháng 7-1924 về nước, tham gia lãnh đạo phong trào cách mạng tại Khu ủy Phương Bắc Trung Quốc và tỉnh Triết Giang, là ủy viên Ban chấp hành Trung ương ĐCS Trung Quốc. Tháng 7-1927, bị chính quyền Trung Hoa Quốc dân đảng bắt và hi sinh; Trần Diên Niên sinh nám 1898 tại tỉnh An Huy, Trung Quốc, ông là con trai đầu của Trần Độc Tú (một trong những người sáng lập ĐCS Trung Quốc, Bí thư đầu tiên của Đảng). Cuối năm 1919 đến Pháp, 1923 đến Liên Xô học Trường Đại học Cộng sản của những ngưòi lao động Phương Đông. Tháng 9-1924, về nước hoạt động ở Thượng Hải, sau đó chuyển đến Quảng Châu giữ chức Thư kí Khu ủy ĐCS Trung Quốc tỉnh Quảng Đông, đồng thời tham gia công tác quản lí tại Trường Quân chính Hoàng Phố. Tháng 6-1927, ông được bầu giữ chức Bí thư Tỉnh ủy Giang Tô. Ngày 22-6-1927, ông bị phái phản động Trung Hoa Quốc dân đảng bắt và giết hại vào đầu tháng 7-1927 lúc mới 29 tuổi; Trần Kiều Niên sinh năm 1902, là con trai thứ của Trần Độc Tú, em trai Trần Diên Niên. Đến Pháp cuối năm 1919, đầu năm 1923 đến Liên Xô tiếp tục học tập. Cuối nám 1924 về nước hoạt động ở Bắc Kinh. Năm 1926, rời Bắc Kinh đến hoạt động ở miền Nam Trung Quốc. Tại Đại hội V ĐCS Trung Quốc (1927), được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng, phụ trách Bộ Tổ chức Trung ương Đảng. Tháng 6-1928, ông bị Trung Hoa Quốc dân đảng sát hại.
4. Thời Phong, La Nguyên Sinh, Chu Ân Lai và Hồ Chí Minh: Tình hữu nghị cách mạng “đồng chí và anh em’  Tạp chí Văn sử xuân thu, số 6-2006, tiếng Trung.
5. Theo Lý Gia Trung, Mối quan hệ giữa Chu Ân Lai và Hồ Chí Minh, Tạp chí Bách niên triều, số 6-2003.
6Nhân dân Nhật báo, ngày 22-11- 1956, (bản tiếng Trung).
7. Trương Thái Lôi (1898-1927), người tỉnh Giang Tô, là một trong những đảng viên đầu tiên của ĐCS Trung Quốc và cũng là một trong những người sáng lập Đoàn thanh niên cộng sản chủ nghĩa Trung Quốc, lãnh tụ lỗi lạc của phong trào thanh niên; là lãnh đạo chủ chốt của cuộc khởi nghĩa Quảng Châu do ĐCS phát động cuối năm 1927, chủ tịch Công xã Quảng Châu. Ngày 12-12-1927, hy sinh trong lúc chỉ huy chiến đấu.
8. Ban Biên tập Nxb Nhân dân, Hồi ức Trương Thái Lôi, Nxb Nhân dân, Bắc Kinh, 1984, tr. 17-18.
9. Dẫn theo: Hoàng Tranh, Sđd, tr.19.
10. Xem Hồ Chí Minh toàn tập, tập 2, Nxb Chính trị Quốc gia, H, 2000, tr.211.
11. Theo Tưởng Vĩnh Kính, Hồ Chí Minh ở Trung Quốc, Đài Bắc Truyện kí Văn học xuất bản xã, 1972, tr.49, tiếng Trung.
12. Xem T. Lan, Vừa đi đường vừa kể chuyện, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2008.

Thứ Năm, 15 tháng 12, 2011

MỘT GÓC KHUẤT TRONG THẾ GIỚI TÌNH CẢM CỦA HỒ SĨ TẠO


THÔNG TIN HỌ HỒ NGHỆ AN
SỐ 2/2008
Trần Minh Siêu
Dưới triều đại vua Lê Duy Tông (1705- 1729), ở xã Thanh Quả, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An có quan Hữu sự Toàn Quận công người họ Đậu, hưu trí về quê chiêu tập người bốn phương khai khẩn đất hoang, lập thành xã Thất thôn gồm có: Nã Điền, Thanh Chư, Bàn Thạch, Bảo Đức, Lai Nhã, Mô Vinh.
Cùng lúc ấy, theo lời kêu gọi của quan Quận công họ Đậu ở làng Cương Gián, huyện Nghi Xuân tỉnh Hà Tĩnh có ông bà Lương, người họ Hồ, hậu duệ của Hồ Tôn Thành đến huyện Thanh Chương tham gia khai phá đất rừng, lập nên thôn Lai Nhã. Đến triều vua Cảnh Thịnh thứ 5 (1798) có Hồ Yên Định là quan Chánh sứ phẩm Thống Chương đại phu đổi xã Thất Thôn, thành Thái Nhã, Thôi Lôi Nhã, Thành Lai Nhã. Thôn Lai Nhã thuộc xã Thái Nhã nên thường gọi là Song Nhã.
Người con trai thứ 4 của Hồ Yên Định là Hồ Sỹ Tuyển đậu 3 khoa tú tài nên nhân dân thường gọi là Mền Tuyển.
Con trai của Hồ Sỹ Tuyển là Hồ Sỹ Tạo, sinh năm 1841. Gia phả họ Hồ ở Song Nhã chép: “Ông Hồ Sỹ Tạo, húy là Thàng, đẹp trai, học giỏi, thông minh, thi Hương đậu giải Nguyên, thị Hội trúng Tam trường. Lúc vào tứ trường phúc hạch thì bị vua đánh hỏng bởi vì đến triều Nguyễn, thời vua Tự Đức, Pháp sang xâm lược nước ta. Vua Tự Đức thì muốn đầu hàng, bèn ra bài thi phỏng vấn thí sinh, ai theo ý vua muốn đầu hành thì đậu. Còn ai muốn đánh Pháp là trái ý vua. Bài của ông Tạo rất hay, song trái ý vua, cũng như những người yêu nước khác nên bị hỏng. Sau ông được bổ làm quan giáo dục huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình. Tái bổ làm quan Thông phán 6 tháng. Sau đó tái bổ làm quan Tri phủ Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình.
Tương truyền lúc ông Hồ Sỹ Tạo trên 20 tuổi, tuy con nhà Nho giáo, song rất nghèo và thanh liêm, nên ông phải vừa đi học, vừa tự túc học thêm để trau dồi văn chương. Sử chép ông rất đẹp trai, nhất là hát đối đáp và đàm đạo văn chương. Ông từng ngồi dạy học ở nhà ông Hà Văn Cẩn. Trong gia phả chữ Hán có chép có cô con gái rượu của ông Cẩn là Hà Thị Hy, một người nhan sắc xinh đẹp đã yêu ông Tạo. Khi ông Tạo về nhà xin cha cho hỏi cô Hy làm vợ, thì ông Tuyển chưa cho lấy, vì chưa đậu đạt thành danh. Do đó, ông Tạo đành ngậm ngùi, không dám xuống làng Mậu Tài dạy học nữa và nói lời từ biệt… Tương truyền khi bà Hy lâm bệnh chết, ông Tạo làm điếu văn, đọc ở mộ, mọi người có mặt ai cũng cảm động và khóc cùng tang quyến”.
Ở trang sau trong gia phả, phần “Đôi điều suy diễn” chép tiếp: “Truyền rằng cụ Hồ Sỹ Tạo đi lại với bà Hà Thị Hy ở làng Mậu Tài, Nam Đàn thuở xuân xanh. Khi bà Hy còn mang thai, thì cụ Tuyển chưa cho ông lấy vợ để lên đường chấp kinh thi cử. Cụ Nguyễn Sinh Nhậm chết vợ, lấy bà Hy làm vợ kế. Thai này ra đời là cụ Nguyễn Sinh Sắc” (Nguyên văn chữ Hán do ông Hồ Sỹ Thanh dịch, tháng 12/1948).
Sau khi Bác Hồ về cõi vĩnh hằng, tôi được về Khu di tích Kim Liên công tác (cuối 1969), có nghe các cụ già trong làng Sen nói loáng thoáng câu chuyện tình giữa chàng Nho sinh tài hoa giữa Hồ Sỹ Tạo với cô thôn nữ tài sắc nổi tiếng Hà Thị Hy.
Mấy năm sau, cụ Võ Thiện Giá (nay đang sống trên 100 tuổi), quê ở làng Hậu Luật, xã Diễn Bình, huyện Diễn Châu, là Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam, hoạt động cách mạng từ thời kỳ 1930-1931 (Nay nhà ở phường Hưng Bình, thành phố Vinh), rủ tôi cùng đi lên Lai Nhã, xã Thanh Khê, huyện Thanh Chương để xác minh sự việc, một số cụ già ở Lai Nhã cũng nói là nghe loáng thoáng như một số cụ già ở Làng Sen, Kim Liên. Chúng tôi đến nhà thờ họ Hồ, xin phép được thắp hương và xem gia phả. Nội dung gia phả có đoạn đã chép như trên.
Đầu năm 1991, cụ Võ Thiện Giá ra Hà Nội gặp Thủ tưởng Phạm Văn ĐỒng trình bày câu chuyện đã nghe được ở làng Sen và Lai Nhã. Sau khi nghe cụ Giá trình bày xong, Thủ tướng Phạm Văn Đồng cảm ơn cụ Giá rồi nói: Cụ đã làm một việc đúng lúc, đúng chỗ và đúng người. Đúng lúc là thời điểm năm 1991, chứ không phải năm 1990, chúng ta đang kỷ niệm lần thứ 100 ngày sinh của Bác Hồ kính yêu. Đúng chỗ là tại Văn phòng Thủ tướng. Đúng người là tôi (Thủ tướng Phạm Văn Đồng) nghe trực tiếp. Nhưng thôi, không nên nói chuyện này ra, không có lợi cho thời cuộc hiện nay.
Trên đây là câu chuyện “Một góc khuất trong thế giới tình cảm của Hồ Sỹ Tạo” mà các cụ già đương thời cũng chỉ nghe loáng thoáng, gia phả họ Hồ ở Lai Nhã, Thanh Khê cũng ghi là “Tương truyền…”.
Sau sự kiện Thượng tọa Thích Chân Quang (Hồ Chí Việt) trụ trì ở chùa Phật Quang, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu ra Nghệ An nhận họ Hồ (theo thông tin từ nội bộ họ Hồ, số 1/2007) thì câu chuyện trên có một số người lại xôn xao bàn tán .
Tôi thiết nghĩ: Hiện nay dùng phương tiện khoa học để xác minh chân lý của câu chuyện  “Một góc khuất trong thế giới tình cảm của Hồ Sỹ Tạo” là cực kỳ khó khăn, không biết có làm được không. Tôi thì một lòng, một dạ, hoàn toàn tự hào và vui sướng được nghiên cứu về cuộc đời và sự nghiệp của cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc đã sinh ra và dưỡng dục cho dân tộc Việt Nam một con người vĩ đại: Đó là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã được thế giới phong tặng: Anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa kiệt xuất của thế giới.
T.M.S.