Hiển thị các bài đăng có nhãn Lưu Thiếu Kỳ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Lưu Thiếu Kỳ. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 16 tháng 4, 2012

TRUNG QUỐC ĐÃ HI SINH HÀNG NGÀN NGƯỜI GIÚP VIỆT NAM ĐÁNH MỸ


BÊN TRONG CHUYỆN KHÁNG MỸ VIỆN VIỆT: 

TRUNG QUỐC ĐÃ HI SINH

HÀNG NGÀN NGƯỜI

GIÚP VIỆT NAM ĐÁNH MỸ 

20.5.2011
(Không có tên tác giả)
Người dịch:  Quốc Thanh
Trung Quốc với Việt Nam là láng giềng núi liền núi sông liền sông, từ sau Cách mạng tháng 10, nhân dân và các nhà cách mạng hai nước Trung-Việt đã xây dựng nên tình đoàn kết chiến đấu sâu nặng.
 Năm 1955, sau khi quân đội Pháp bắt đầu rút quân khỏi Việt Nam theo Hiệp định Giơnevơ, Mỹ đã ngang nhiên vi phạm Hiệp định về việc khôi phục lại hòa bình ở các nước Đông Dương được thông qua tại Hội nghị Giơnevơ bằng thủ đoạn cung cấp viện trợ quân sự để thừa cơ nhanh chóng thâm nhập vào Nam Việt[i], thay thế thế lực Pháp, tăng cường sự khống chế đối với Việt Nam, hỗ trợ chính quyền Sài Gòn, ngăn trở sự thống nhất Nam-Bắc của Việt Nam, âm mưu biến Nam Việt thành thuộc địa và căn cứ quân sự của Mỹ. Vì thế, nhân dân Nam Việt buộc phải đứng lên phản kháng, tổ chức đấu tranh vũ trang chống Mỹ. Để dập tắt ngọn lửa đấu tranh của nhân dân Nam Việt, tháng 5 năm 1961, Mỹ đã phát động cuộc “chiến tranh đặc biệt” ở Nam Việt của Việt Nam do Mỹ xuất súng, xuất tiền, xuất cố vấn, còn Nam Việt thì xuất người, để người Việt Nam đánh người Việt Nam. Sau khi cuộc “chiến tranh đặc biệt” do Mỹ tiến hành ở Nam Việt bị thất bại, vào ngày 5.8.1964, lấy cớ quân hạm của mình bị quân Bắc Việt [ii] bắn ở ven biển Việt Nam thuộc vịnh Bắc Bộ, cái gọi là “Sự kiện vịnh Bắc Bộ”, Mỹ đã điều hàng loạt máy bay tới bắt đầu ném bom Bắc Việt. Đây lại là sự leo thang mới can thiệp vũ trang của Mỹ.    
 Trung tuần tháng 3.1965, Mỹ điều 3500 thủy quân lục chiến đổ bộ lên cảng Cam Ranh, điều các lực lượng mặt đất khác tiến vào tham chiến ở Nam Việt, đồng thời tăng cường ném bom xuống Miền Bắc Việt Nam.
Từ đó, cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam của Mỹ đã diễn tiến thành cuộc chiến tranh toàn diện với đặc điểm quân Mỹ là chủ thể, “đánh Miền Nam, ném bom Miền Bắc”. Đồng thời, máy bay quân sự Mỹ cũng liên tục xâm nhập vào vùng trời khu vực đảo Hải Nam và Vân Nam, Quảng Tây để ném bom và phóng tên lửa, làm chết và làm bị thương các thuyền viên và chiến sĩ giải phóng quân Trung Quốc. Báo chí Mỹ thì nhân cơ hội này trắng trợn tuyên truyền rằng trong chiến tranh Việt Nam sẽ không có chuyện “ẩn náu” như trong chiến tranh Triều Tiên, mà quân đội Mỹ sẽ thực hiện “tìm diệt”… An ninh Trung Quốc bị đe dọa nghiêm trọng. Nhân dân Việt Nam anh hùng, dưới sự lãnh đạo của Hồ Chí Minh và Đảng Lao động Việt Nam, đã tích cực lao vào cuộc đấu tranh chống Mỹ cứu nước “bảo vệ Miền bắc, giải phóng Miền nam, thống nhất đất nước”. Đồng thời, chính phủ Việt Nam không ngừng vạch mặt và tố cáo hành động tội ác xâm lược của Mỹ với nhân dân thế giới, kêu gọi sự viện trợ quốc tế.       
 Tháng 4 năm 1965, Bí thư thứ nhất Đảng Lao động Việt Nam Lê Duẩn, Phó thủ tướng chính phủ kiêm Bộ trưởng Bộ quốc phòng Võ Nguyên Giáp…, được sự ủy nhiệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đã dẫn đầu Đoàn đại biểu Đảng, chính phủ và quân đội đi thăm Trung Quốc, yêu cầu Trung Quốc mở rộng quy mô viện trợ và điều bộ đội chi viện cho Việt Nam. Lê Duẩn nói, “chúng tôi muốn mời một số phi công chí nguyện quân, chiến sĩ chí nguyện quân…, các phương diện khác thì phải có nhân viên, bao gồm cả những nhân viên về đường sá, cầu cống trong số đó”. Đảng và chính phủ Trung Quốc đã thỏa mãn yêu cầu của phía Việt Nam. Trong cuộc hội đàm hai Đảng Trung-Việt được tổ chức ngày 8 tháng 4, Phó chủ tịch Ban chấp hành Trung ương Lưu Thiếu Kỳ thay mặt phía Trung Quốc bày tỏ: Viện trợ Việt Nam tiến hành đấu tranh chống Mỹ, “đây là nghĩa vụ mà Trung Quốc chúng tôi phải làm hết sức mình, là nghĩa vụ mà Đảng Trung Quốc phải làm hết sức mình”; “phương châm của chúng tôi là hễ các bạn yêu cầu là chúng tôi có mặt, chúng tôi phải viện trợ hết mức cho các bạn”; “các bạn không mời chúng tôi không tới. Các bạn mời những ai, chúng tôi sẽ tới những người đó”. Ở lần hội đàm này, hai phía Trung-Việt đã ký kết bản Hiệp định  về việc điều bộ đội chi viện Trung Quốc cho Việt Nam. Ngày 12 tháng 4, Trung ương ra chỉ thị về tăng cường công tác sẵn sàng chiến đấu, kêu gọi toàn Đảng, toàn quân và toàn thể nhân dân về mặt tư tưởng và công tác chuẩn bị ứng đối với những tình thế nghiêm trọng nhất, phát huy tinh thần yêu nước và tinh thần quốc tế, chi viện cho cuộc đấu tranh chống Mỹ của nhân dân Việt Nam bằng tất cả những gì có thể.    
Để tổ chức chi viện cho Việt Nam một cách thống nhất, và xử lý những vấn đề đối ngoại liên quan đến chi viện cho Việt Nam một cách thống nhất, Thủ tướng Chu Ân Lai quyết định tổ chức các bộ phận có liên quan thuộc Trung ương, Quốc vụ viện và quân đội thành “Nhóm chi viện Việt Nam của Trung ương và Quốc vụ viện”. Nhóm này được hợp thành từ những đồng chí phụ trách có liên quan của 21 đơn vị như Bộ ngoại giao, Bộ đường sắt, Bộ giao thông, Bộ bưu chính, Bộ vật tư, Bộ ngoại thương, Ủy ban kinh tế, Ủy ban kế hoạch, Ủy ban kinh tế đối ngoại, Tổng cục chính trị, Tổng cục hậu cần, hải quân, không quân, bộ đội đường sắt, bộ đội kỹ thuật công trình, Ban tổng tham mưu tác chiến, Ban quân vụ, Ban vũ trang, Ban giao thông quân sự, Ban thông tin, Ban tình báo… Theo đó, giải phóng quân nhân dân Trung Quốc  sẽ đến Miền Bắc Việt Nam để chấp hành việc triển khai toàn diện công tác chuẩn bị cho nhiệm vụ chi viện Việt Nam chống Mỹ. Cơ quan Bộ tổng tham mưu giải phóng quân nhân dân Trung Quốc căn cứ theo quyết định của Quân ủy trung ương, đã nhiều lần mở hội nghị nghiên cứu triển khai các công việc thành lập, vận hành và nhiệm vụ…của bộ đội chi viện. Ngày 18 tháng 4, Bộ tổng tham mưu đã ban mệnh lệnh sẵn cho bộ đội kỹ thuật công trình, đường sắt…chi viện Việt Nam, đã quyết định thành lập “Đội kỹ thuật công trình tình nguyện của nhân dân Trung Quốc” tới Việt Nam thừa hành các nhiệm vụ tu sửa cấp tốc, sửa chữa đường sắt, xây dựng công trình quốc phòng và xây dựng sân bay. Ngày 6 tháng 7, Bộ tổng tham mưu lại ban mệnh lệnh sẵn về việc tổ chức 10 vạn bộ đội kỹ thuật chi viện Việt Nam làm đường quốc lộ. Đồng thời, Bộ tổng tham mưu đã tập kết bộ đội pháo cao xạ đang đợi lệnh làm tốt mọi khâu chuẩn bị lên đường. Tổng cục chính trị đã ban hành “Điều lệ về kỷ luật cho nhân viên bộ đội chi viện Việt Nam chống Mỹ”. Nhân viên các đơn vị tiếp nhận nhiệm vụ chi viện Việt Nam hết sức sôi nổi mạnh mẽ, chỉ trong thời gian ngắn đã nhanh chóng hoàn thành được công tác chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu tới Việt Nam thừa hành nhiệm vụ.
Bí mật tới Việt Nam
Cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam“đánh Miền Nam, ném bom Miền Bắc” của Mỹ ngày càng khốc liệt.
   Năm 1967, hao tổn chi phí quân sự của Mỹ là khoảng 30 tỷ đôla Mỹ. Ở Miền Nam Việt Nam, lính tác chiến mặt đất của quân Mỹ tiếp tục được đưa vào, đến tháng 3 năm 1967, số quân Mỹ ở Miền Nam đã lên tới 56 vạn, ngoài ra còn có hơn 7,2 vạn quân các nước Ôxtrâylia, New Zealand, Nam Triều Tiên…; không quân Mỹ ném bom Miền Bắc, dịch ra phía bắc từ 20º vĩ bắc ở phía nam, mở rộng cho đến cả vùng đệm ở biên giới Trung-Việt. Những nơi ban đầu được xếp vào khu cấm ném bom cũng đã trở thành mục tiêu bắn phá điên cuồng. Theo tuyên bố của Bộ quốc phòng Mỹ, từ 2.1965 đến 11.1968, không quân Mỹ đã tiến hành không kích Miền Bắc Việt Nam tới 107.700 lần, ném xuống 258 vạn tấn bom, bình quân mỗi km2 ở Bắc Việt hứng chịu 16,2 tấn, mật độ ném bom vượt xa so với bất cứ cuộc chiến nào trong lịch sử, Miền Bắc Việt Nam khói lửa mịt mù, Miền Nam chiến tranh khắp mọi nơi, dân tộc Việt Nam đứng trước thảm họa chưa từng thấy, chiến tranh Việt Nam lại phát triển thành cuộc chiến tranh cục bộ xâm lược và phản xâm lược tiếp theo cuộc chiến tranh Triều Tiên kể từ sau Đại chiến thế giới II.         
    Đứng trước cuộc xâm lược vũ trang của Mỹ, Trung ương Đảng lao động Việt Nam đứng đầu là Hồ Chí Minh đã lãnh đạo nhân dân Miền Nam và Miền Bắc mở rộng cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước vô cùng gian khổ. Đồng thời chính phủ Việt Nam đã yêu cầu chính phủ Trung Quốc điều bộ đội chi viện tới viện trợ. Vì thế, từ 6.1965 đến 8.1973, Trung Quốc đã lần lượt điều lính cao xạ pháo, kỹ sư công trình, đường sắt, rà phá bom mìn, hậu cần…, tổng cộng hơn 32 vạn quân, năm cao nhất lên tới hơn 17 vạn, thừa hành các nhiệm vụ phòng không, tác chiến, làm đường, xây dựng công trình quốc phòng, rà phá bom mìn và bảo đảm hậu cần… ở Miền Bắc Việt Nam. Chặng đường trải qua gian nan mà vinh quang của bộ đội chi viện Trung Quốc tại Việt Nam được chia làm 2 giai đoạn:   
Giai đoạn 1: Bắt đầu từ 6.1965 và kết thúc vào 7.1970. Giai đoạn này là giai đoạn ác liệt nhất và gian khổ nhất của cuộc chiến tranh Việt Nam. Trung Quốc điều 32 vạn lính chi viện, thừa hành các nhiệm vụ tác chiến phòng không, sửa chữa và tu sửa cấp tốc đường sắt, sân bay, thông tin liên lạc, kỹ thuật công trình, xây dựng công trình quốc phòng… Tình trạng thời chiến của họ là:
 Bộ đội phòng không tới Việt Nam hiệp trợ Miền Bắc tác chiến phòng không, bảo vệ đường giao thông. Theo Hiệp định giữa hai quân đội Trung-Việt và theo lời mời của Bộ tổng tham mưu quân đội Việt Nam ngày 14.7.1965, đợt bộ đội pháo cao xạ chi viện Việt Nam đầu tiên đã vào Việt Nam ngày 1.8.1965. Đợt thứ nhất là 3 phân đội (nguyên văn “chi đội”) 61, 62 và 63, lần lượt từ Vân Nam, Quảng Tây vào Việt Nam tác chiến ở Miền Bắc, đến 2.1966 về nước; đợt thứ 2, bộ đội pháo cao xạ vào Việt Nam tác chiến từ 2.1966, đến 10.1966 về nước; đợt thứ 3, bộ đội pháo cao xạ vào Việt Nam tác chiến từ 10.1966, đến 6.1967 về nước; đợt thứ 4, bộ đội pháo cao xạ vào Việt Nam tác chiến từ 1.1967, đến 8.1967 về nước; đợt thứ 5, bộ đội pháo cao xạ vào Việt Nam tác chiến từ 5.1967, đến 1.1968 về nước; đợt thứ 6, bộ đội pháo cao xạ vào Việt Nam tác chiến từ 6.1967, đến 1.1968 về nước; đợt thứ 7, bộ đội pháo binh cao xạ vào Việt Nam tác chiến từ 8.1967, đến 3.1968 về nước; đợt thứ 8, bộ đội pháo cao xạ vào Việt Nam tác chiến từ 1.1968, đến 2.1969 về nước; đợt thứ 9, bộ đội pháo cao xạ vào Việt Nam tác chiến từ 3.1968, đến 2.1969 về nước. Đến 4.1969 thì ngừng. Bộ đội pháo cao xạ vào Việt Nam luân phiên tác chiến, có 16 phân đội , 63 trung đoàn trực thuộc và 50 đội thuộc tiểu đoàn pháo cao xạ, một bộ phận đại đội súng cao nòng và phân đội hậu cần…, tổng cộng hơn 15 vạn người. Chủ yếu đảm nhận nhiệm vụ tác chiến phòng không đoạn từ Bắc Ninh đến Lạng Sơn thuộc tuyến đường sắt Hà Nội-Hữu nghị quan, đoạn từ Yên Bái đến Lào Cai thuộc tuyến đường sắt Hà Nội-Lào Cai, tuyến đường sắt Kép-Thái Nguyên mới mở và Khu gang thép Thái Nguyên, đồng thời yểm hộ thi công của bộ đội kỹ sư công trình chi viện Việt Nam của Trung Quốc.                          
      Máy bay Mỹ ném bom Miền Bắc Việt Namvới chiến thuật thay đổi lắt léo. Với mục tiêu dưới đất thì thực hiện ném bom bừa bãi; với bộ đội phòng không thì gây nhiễu điện tử rađa ngắm pháo, sử dụng tên lửa chống rađa “Chim bách thanh” (“Shrike”); với người, sử dụng các loại bom bi, bom từ trường và bom bướm… gây sát thương lớn.
 Nhằm vào những đặc điểm thay đổi chiến thuật của máy bay Mỹ, vũ khí mới và ném bom bừa bãi có sức sát thương mạnh…, bộ đội pháo cao xạ đã áp dụng chiến thuật kết hợp giữa xây công sự trọng điểm với tác chiến cơ động và cách đánh cận chiến tập trung hỏa lực, giành lại chủ động từ thế bị động, tiêu diệt máy bay Mỹ, bảo vệ an toàn cho mục tiêu. Trong 3 năm 9 tháng tác chiến phòng không chi viện Việt Nam chống Mỹ, tổng cộng đã tác chiến 2153 lần, bắn rơi 1707 chiếc, bắn bị thương 1608 chiếc, giáng một đòn nặng vào quân xâm lược Mỹ, bảo vệ vùng trời Miền Bắc Việt Nam, ủng hộ mạnh mẽ cuộc đấu tranh chống Mỹ cứu nước của nhân dân Việt Nam. Ngày 31.3.1968, chính phủ Mỹ gây áp lực với trong nước và quốc tế, bắt đầu “leo thang” ném bom Miền Bắc Việt Nam. Ngày 31.5, chính phủ hai nước Việt-Mỹ đã bắt đầu cuộc đàm phán hòa bình ở Paris. Từ 1.11, quân Mỹ ngừng ném bom Miền Bắc Việt Nam. Theo đó, với sự đồng ý của chính phủ hai nước, bộ đội pháo cao xạ chi viện Việt Nam của Trung Quốc lần lượt về nước trước hạn 4.1969.     
Giúp xây dựng hai sân bay hiện đại Nội Bài, Yên Bái và hang máy bay. Sân bay vốn có của Miền Bắc Việt Nam không đủ sức cho máy bay phản lực lên xuống, gây ảnh hưởng rất lớn cho tác chiến chống Mỹ. Theo yêu cầu của chính phủ Việt Nam, Cục không quân và hàng không dân dụng Trung Quốc trong khoảng thời gian từ năm 1961 đến năm 1965 đã cử các nhóm chuyên gia tới tiến hành thiết kế, chỉ đạo, đồng thời cũng cấp các thiết bị và nguyên liệu lắp ráp. Hang máy bay của sân bay do Phân đội 7 của Trung Quốc chi viện xây dựng từ 16.9.1968 đến 5.11.1969. Tháng 1 năm 1965, Việt Nam yêu cầu Trung Quốc giúp xây dựng một sân bay không quân ở Yên Bái. Tháng 5, Phân đội 3 của Trung Quốc chi viện xây dựng công trình sân bay này đã cử nhân viên tới Yên Bái trước, bắt đầu thiết kế thăm dò hiện trường. Sân bay Yên Bái có địa hình phức tạp, nằm kề Sông Hồng, có núi bao quanh. Yên Bái còn là một trong những trọng điểm không kích của Mỹ, cả thành phố lại bị ném bom tan nát. Phân đội 3 chính thức bắt đầu động thổ vào 22.11, trải qua 3 năm 6 tháng gian khổ nỗ lực, đã hoàn thành toàn bộ vào 21.5.1969. Hang máy bay của sân bay này được khởi công  vào 9.1968, hoàn thành trước thời hạn vào 27.10 cùng năm, chất lượng công trình rất tốt.       
 Phân đội 1 bộ đội chi viện Trung Quốc tới Việt Nam tu sửa cấp tốc, cải tạo sửa chữa, làm mới đường sắt. Đầu năm 1965, Mỹ leo thang trong cuộc chiến tranh Việt Nam, liên tục tiến hành không kích Miền Bắc Việt Nam, chỉ từ ngày 3 đến ngày 6 tháng 4, đã điều rất nhiều máy bay liên tục ném bom xuống 5 chiếc cầu đường sắt. Do máy bay địch ném bom phá hoại, Miền Bắc Việt Nam về cơ bản đã bị rơi vào tình trạng tê liệt chỉ còn có vài tuyến đường sắt. Ngày 27 tháng 4, chính phủ hai nước Trung-Việt đã ký kết Nghị định thư về việc giúp Việt Nam xây dựng đường sắt và cung cấp thiết bị vận tải. Số hạng mục công trình đường sắt mà Trung Quốc giúp Việt Nam xây dựng ở khu vực phía bắc Hà Nội đã lên đến con số 100, Phân đội 1 tới vào 23.6.1965, chia làm hai ngả vào Việt Nam từ Hà Khẩu và Hữu Nghị Quan, thừa hành nhiệm vụ tu sửa cấp tốc, xây dựng cấp tốc đường sắt ở khu vực phía bắc Hà Nội. Chỉ huy các chiến binh khắc phục những khó khăn như máy bay Mỹ ném bom, mưa rừng nhiệt đới, nước lũ dâng và không dễ có được nguyên vật liệu ngay tại chỗ…, chiến đấu cho đến 5.6.1970, đã hoàn thành trước thời hạn các hạng mục công trình. Tổng cộng đã hoàn thành việc xây dựng 117 km đường sắt, sửa chữa 362 km đường sắt, , xây dựng cấp tố 98 công trình sẵn sàng chiến đấu đường sắt, xây mới 30 cầu đường sắt, 14 đường hầm, xây mới 20 ga xép đường sắt, lắp đặt 1023 cặp đường thông tin liên lạc, lắp đặt 8 km đường cáp thông tin dưới nước. Hoàn thành tốt đẹp các công trình chi viện đường sắt không những làm cho chiều dài của các tuyến  đường sắt ở khu vực phía bắc Hà Nội từ 508 km được tăng lên đến 554 km, mà còn kết các đoạn đường sắt thành mạng lưới, khiến cho năng lực vận chuyển nâng cao gấp bội, năng lực vận chuyển đường sắt chỉ riêng tuyến Hà Nội-Hữu nghị quan đã từ 146 vạn tấn tăng lên đến 280 vạn tấn, bảo đảm chắc chắn nhu cầu vận chuyển cho cuộc chiến tranh chống Mỹ của Việt Nam.    
Đồng thời, phân đội 1 theo hiệp định giữa hai nước Trung-Việt, đã đảm nhận công tác bảo vệ tuyến đường sắt nói trên và hoàn thành đầy đủ nhiệm vụ, bảo đảm được sự thông suốt cho các tuyến đường sắt ở khu vực phía bắc Hà Nội, góp phần vào sự thắng lợi của cuộc chiến tranh chống Mỹ của Việt Nam. Vào 1.7.1970, toàn phân đội đã về nước theo lệnh.   
Bộ đội kỹ thuật công trình xây dựng đường quốc lộ hữu nghị. Ngày 30.5.1965, chính phủ hai nước Trung-Việt đã ký kết “Hiệp định về việc giúp Việt Nam xây dựng đường quốc lộ” và nghị định thư, Trung Quốc điều bộ đội kỹ thuật công trình giúp Việt Nam xây dựng đường quốc lộ.
Xây dựng và cải tạo 7 đường quốc lộ 1, 3, 7, 8, 10, 11, 12. Dự kiến tổng chiều dài là 1211 km, trong đó làm mới 664 km, sửa chữa 547 km. Các phân đội 4, 5, 6 bộ đội hậu cần Trung Quốc đảm nhận nhiệm vụ giúp Việt Nam làm đường, quản lí 16 trung đoàn, 1 tổng đội dân công, 25 đội đo đạc thiết kế và 4 đội khoan thăm dò, cộng thêm bộ đội của 6 tiểu đoàn pháo cao xạ và một phần phân đội pháo cao nòng…, tất cả hơn 8 vạn người. Dưới sự thống lĩnh của Ban chỉ huy công trình làm đường thuộc bộ đội hậu cần Trung Quốc, đã lần lượt vào Việt Nam bắt đầu từ 9.1965, bắt tay vào thi công. Bốn phân đội đảm nhận nhiệm vụ làm đường quốc lộ 1, quốc lộ 3;  năm phân đội đảm nhận nhiệm vụ làm đường quốc lộ 5, quốc lộ 11; sáu phân đội đảm nhận nhiệm vụ làm đường quốc lộ 8, quốc lộ 10, quốc lộ 12.        
Đảm nhận nhiệm vụ làm đường quốc lộ ở Việt Nam là tiến hành trong điều kiện cực kỳ khó khăn. Bộ đội kỹ thuật công trình làm đường sau khi đã hoàn thành xong nhiệm vụ làm đường theo hiệp định giữa hai nước đã về nước toàn bộ vào 10.1968. Trong khoảng thời gian hơn 3 năm, bộ đội kỹ thuật công trình làm đường thuộc hậu cần Trung Quốc đã làm 7 tuyến đường quốc lộ cùng các công trình phòng hộ cho Việt Nam, đồng thời đã bảo đảm được sự thông suốt cho các đoạn phía bắc của đường quốc lộ 7 và đường quốc lộ 2, tổng cộng đã làm 1206 km đường, 305 cầu với tổng chiều dài 6854 m, 4441 đường cống với tổng chiều dài 46938 m, hoàn thành 30,5 triệu mét khối đất đá đào đắp. Ngoài ra, còn đã hoàn thành nhiệm vụ làm công trình đường giao nhau từ Phóng Đinh[iii] đến cầu Lai Vu trên quốc lộ 10, và duy tu quốc lộ 16 từ Thái Nguyên đến Đồng Đăng. Đại diện phía Việt Nam nghiệm thu cho rằng:  Các công trình đã xây dựng trên đây có chất lượng tốt và đẹp. Ngày 23.7.1968, Hồ Chí Minh khi chúc mừng việc thực hiện “Hiệp định Trung Quốc giúp Việt Nam xây dựng đường quốc lộ” đã nói: “Tuy các bạn chỉ làm được cho Việt Nam có hơn 1200 km đường quốc lộ, nhưng tình hữu nghị của các bạn đã vượt quá cả ngàn kilomet,  cả vạn kilomet!”  
Bộ đội hậu cần Trung Quốc giúp Việt Nam cấp tốc xây dựng các công trình quốc phòng vĩnh cửu ở quần đảo đông bắc Việt Nam và ở khu vực đồng bằng Bắc Bộ. Các phân đội 2 và 7 đảm nhận nhiệm vụ thi công này đã theo lệnh lần lượt đến Việt Nam từ 9.6.1965 đến 15.12.1966. Phân đội 2 chịu trách nhiệm thi công các công sự vĩnh cửu, đường cáp dưới biển, đường thông tin liên lạc, nằm phân tán trên 15 đảo và 8 yếu điểm quốc phòng ven biển. Trải qua gian khổ nỗ lực, cả phân đội 2 và phân đội 7 đều hoàn thành vượt mức nhiệm vụ thi công giúp Việt Nam. Các công trình chủ yếu đã hoàn thành bao gồm:  239 đường hầm với tổng chiều dài hơn 2,3 vạn m, 138 trận địa pháo lộ thiên có đường hầm, 149 công sự vĩnh cửu, 15 đường cáp thông tin dưới biển với tổng chiều dài 103 km, 171 km đường vĩnh cửu và đường thi công, 14 chiếc cầu, 21 cống, 9 con đê. Tổng cộng 84,76 vạn mét khối đất đá đào đắp. Đã xây tường phòng hộ tương đương với 845 km chiều dài đường bờ biển Miền Bắc Việt Nam. Phía Việt Nam đã đánh giá về những công trình này:  “Kháng lực của các công trình đều vượt quá yêu cầu của phía Việt Nam, chất lượng công trình cao, kiên cố, tiện dụng, ngụy trang tốt”.      
Đại đội kỹ sư thông tin Trung Quốc giúp Việt Nam lắp đặt mạng lưới thông tin. Ngày 31.7.1965, hai bên Trung-Việt thỏa thuận Trung Quốc sẽ điều 1 đại đội kỹ sư thông tin giúp Việt Nam xây dựng các công trình thông tin ở các vùng Lai Châu, Sơn La và Điện Biên Phủ…  Đại đội kỹ sư thông tin Trung Quốc đảm nhận nhiệm vụ này đã vào Việt Nam thi công ngày 18.8.1965. Các sĩ quan chỉ huy đã khắc phục muôn vàn khó khăn để bảo đảm đường liên lạc thông tin trong tác chiến, cải thiện điều kiện thông tin quân sự cho khu vực Miền Bắc Việt Nam, đã hoàn thành trước thời hạn và vượt mức nhiệm vụ thi công vào 10.7,1966, tổng cộng đã lắp đặt 330 km cột đường dây thông tin, mắc 894 km cặp đường dây, lắp đặt 4 trạm cung cấp điện thoại, ngoài ra còn lắp đặt đường trung chuyển từ một trạm điện thoại trong đó đến nơi Quân khu Tây Bắc Việt Nam đóng. Đại đội này sau khi hoàn thành nhiệm vụ đã về nước toàn bộ vào tháng 7.        
Bộ đội chi viện Trung Quốc trong những năm tháng chiến đấu gian khổ tại Việt Nam đã kề vai sát cánh cùng với nhân dân và quân đội Việt Nam, giành được những thành tựu rực rỡ.  
Đã khiến cho Mỹ phải đổ vào Việt Nam tới hơn 56 vạn quân, mức hao tổn chi phí quân sự năm lên tới 30 tỷ đôla Mỹ, nhưng vẫn không thể làm cho chiến cục tiến triển được theo chiều hướng mong muốn; con số thương vong tăng dần, đến nửa cuối năm 1968, tuần nào cũng chết hơn 200 người, số quân Mỹ chế tại chiến trường chỉ riêng trong năm này đã tới 14592 người; dẫn đến tinh thần phản chiến trong nước Mỹ không ngừng lên cao. Trước tình hình ấy, tháng 11 năm 1968, Mỹ buộc phải tuyên bố đình chỉ vô điều kiện ném bom và bắn phá Miền Bắc ViệtNam. Bộ đội chi viện Trung Quốc sau khi đã hoàn thành nhiệm vụ giai đoạn 1 như đã định, đã rút toàn bộ về nước vào 7.1970.     
Giai đoạn 2:  Bắt đầu 5.1972 và kết thúc 8.1973.  Cuối năm 1968, Mỹ ngừng ném bom Miền Bắc Việt Nam, đầu năm 1969 bắt đầu đàm phán với Việt Nam tại Paris. Từ đó, cuộc chiến tranh Việt Nam bước vào giai đoạn vừa đánh vừa đàm phán. Đến cuối 3.1972, các lực lượng vũ trang Miền Nam, với sự chi viện của Miền Bắc, đã phát động tấn công toàn diện và liên tục giành được thắng lợi lớn, giáng một đòn nặng nề vào chính quyền Mỹ ngụy. Để cắt đứt sự chi viện tới từ Miền Bắc Việt Nam, bảo đảm cho chính quyền Nguyễn Văn Thiệu khỏi bị sụp đổ, đồng thời với việc tăng cường điều động binh lực hải quân, không quân và ném bom trở lại Miền Bắc Việt Nam, Mỹ bắt đầu thực thi phong tỏa thủy lôi quy mô lớn trên các đường ven biển, cảng, đường sông của Miền Bắc Việt Nam vào ngày 9 tháng 5. Ngay sớm 9.5 đã điều động hơn 100 tàu sân bay của hải quân Mỹ, 6 tàu chiến các loại, sau khi tiến hành ném bom và pháo kích đối với các khu vực ven biển như Hải Phòng, Quảng Yên, Hồng Gai, Đồ Sơn…, đã dùng hơn 40 tàu sân bay còn lại đi thả mìn, đồng thời mở rộng phạm vi, lần lượt phong tỏa các đường sông trọng yếu ở Hải Phòng… cùng các sông Thái Bình, sông Mã,  cửa Hội, sông Gianh, sông Nhật Lệ, sông Hồng, sông Trà Lý, sông Cấm… Sau đó còn nhiều lần thả mình bổ sung. Mỹ đã thả thủy lôi xuống các cảng và đường sông trọng yếu của Miền Bắc Việt Nam, thực hành sự phong tỏa toàn diện trên biển, khiến cho Miền Bắc Việt Nam bị cắt đứt mất sự chi viện vật tư từ bên ngoài và các đường vận chuyển chủ yếu chi viện cho Miền Nam Việt Nam, mưu đồ dùng đó để buộc Việt Nam phải nhượng bộ trên bàn đàm phán tại Paris. Ngọn lửa chiến tranh đã tắt được hơn 3 năm lại bùng cháy lên ở Miền Bắc Việt Nam. Chính phủ Việt Nam đã yêu cầu Trung Quốc điều hải quân tới giúp rà phá bom mìn ngay vào ngày Mỹ thả mìn. Theo yêu cầu của Miền Bắc, để giúp nhân dân Việt Nam phá được sự phong tỏa trên biển của Mỹ, chính phủ Trung Quốc đã đồng ý lập tức lại khơi thông con đường trên biển bí mật Trung-Việt theo kế hoạch, vận chuyển lương thực cùng các vật tư khác tới Việt Nam. Đồng thời, căn cứ theo hiệp định đã thỏa thuận giữa Bộ tổng tham mưu quân đội hai nước, giải phóng quân nhân dân Trung Quốc ngoài điều bộ đội xe đảm nhận nhiệm vụ vận chuyển trên đường quốc lộ giúp Việt Nam ở khu vực biên giới giữa hai nước ra, còn gánh luôn cả nhiệm vụ quét thủy lôi của Mỹ ở vùng ven biển và làm cấp tốc các đường ống dẫn dầu dã chiến. 
Các tàu ở đội rà phá bom mìn Trung Quốc luân phiên nhau tác chiến, cả chỉ huy và lính nửa đêm ra biển rà phá bom mìn, ban ngày còn phải cấp tốc sửa chữa máy móc dưới sự uy hiếp của không kích. Đội rà phá bom mìn Trung Quốc giành thắng lợi từng nút, khiến cho quân Mỹ không yên, máy bay Mỹ thường xuyên bay lượn trinh sát ở những khu vực đội rà phá bom mìn cắm neo và rà phá bom mìn. Bắt đầu từ 20.8, ngày nào cũng có máy bay Mỹ tới trinh sát sát tầm thấp, đêm ném pháo sáng. Sáng 27.8, máy bay Mỹ ném bom bừa bãi xuống sở chỉ huy Hoàng Châu của đội rà phá bom mìn. Đội rà phá bom mìn Trung Quốc vẫn kiên trì chiến đấu không biết mệt mỏi. Ngày 17.5.1973, công việc rà phá bom mìn đã kết thúc toàn bộ. Ngày 27.8, đội rà phá bom mìn hải quân Trung Quốc thắng lợi về nước. Trong thời gian 1 năm 3 tháng ở Việt Nam đã ra biển tất cả 586 chuyến, với tổng độ dài hành trình hơn 2,78 vạn hải lí, trong đó có 526 chuyến rà phá bom mìn, với tổng độ dài hành trình gần 1,75 vạn hải lí; rà phá được 42 quả thủy lôi các loại, ngoài ra còn cùng với phía Việt Nam rà phá được 5 quả; tiếp đó tiến hành nạo vét từ các cảng Hải Phòng, Hồng Gai, Cẩm Phả… lớn nhất Miền Bắc Việt Nam cho đến các đường thủy ở quần đảo đông bắc, với tổng diện tích nạo vét 201 km2, đồng thời nhiều lần dẫn đường cho các tàu thuyền Việt Nam đi qua các cảng nói trên một cách an toàn, góp phần vào việc phá sự phong tỏa trên biển của Mỹ.  
  Giúp lắp đặt các đường ống dẫn dầu dã chiến. Sau khi quân Mỹ thực hiện sự phong tỏa trên biển đối với Miền Bắc Việt Nam, Việt Nam khẩn cấp yêu cầu Trung Quốc giúp lắp đặt 5 đường ống dẫn dầu dã chiến, dẫn dầu qua đoạn biên giới Quảng Tây vào Việt Nam.
   Trung Quốc đã khắc phục khó khăn, nhanh chóng sản xuất các thiết bị đồng bộ và xe chuyên dụng cần cho đường ống dẫn dầu, đồng thời phân bổ nhanh nhất nguồn dầu đầy đủ giúp Việt Namvề hướng đoạn biên giới Quảng Tây. Theo yêu cầu của chính phủ Việt Nam và hiệp định đã thỏa thuận giữa quân đội hai nước Trung-Việt, từ 31.5.1972 đến 12.2.1973, giải phóng quân nhân dân    Trung Quốc đã lần lượt điều hơn 8000 lượt bộ đội và dân công, đồng thời kèm theo một lượng lớn máy móc, xe sang lắp đặt 5 đường ống dẫn dầu dã chiến giúp Việt Nam ở hai đoạn từ Bằng Tường đến Hữu nghị quan và từ Phòng Thành Cảng[iv] đến Than Tán[v], với tổng chiều dài 159 km, liên thông với các công trình như kho dầu, trạm bơm, trạm thông tin và với đường sắt chuyên dụng…, tổng cộng hoàn thành với hơn 10 vạn mét khối đào đắp. Đường ống dẫn dầu Phòng Thành dài tất cả 99 km. Hai đoạn đường ống dẫn dầu này bắt đầu lần lượt vận chuyển dầu vào Việt Nam từ 15.6.1972 và 6.11.1972.           
Ngày 27.1.1973, sau khi Việt Nam và Mỹ ký Hiệp định Paris, quân Mỹ hoàn toàn chấm dứt hành vi xâm lược đối với Miền Bắc Việt Nam, vận chuyển dầu trên biển của Việt Nam dần khôi phục lại bình thường. Theo yêu cầu từ phía ViệtNam, phải đến 30.6.1976, đường ống dẫn dầu dã chiến ở biên giới Trung-Việt mới ngừng hoạt động. Trong 4 năm, Trung Quốc vận chuyển vào Việt Nam tổng cộng gần 1,3 triệu tấn dầu mỏ và dầu diesel, chiếm hơn một nửa tổng lượng dầu Trung Quốc giúp Việt Nam trong thời kỳ chiến tranh chống Mỹ của Việt Nam, đã trợ giúp đắc lực cho cuộc đáu tranh vĩ đại bảo vệ Miền Bắc, giải phóng Miền Nam, thống nhất tổ quốc của Việt Nam.     
Với sự chi viện của đội rà soát bom mìn hải quân Trung Quốc, nhân dân Việt Nam không những không bị khuất phục trước sự ném bom và phong tỏa trên biển của Mỹ, mà trái lại còn ngày càng chiến đấu dũng cảm, cuối cùng đã buộc chính phủ Mỹ phải thừa nhận sự thất bại triệt để của cuộc chiến tranh xâm lược. Ngày 27.1.1973, bốn bên Cộng sản Việt Nam, Mặt trận giải phóng dân tộc Miền Nam Việt Nam, Mỹ, chính quyền Nguyễn Văn Thiệu đã ký bản “Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam” tại Paris. Tháng 3, lính quân đội Mỹ xâm lược ViệtNambắt đầu rút quân khỏi Miền Nam Việt Nam. Tháng 8 năm 1973, bộ đội chi viện Trung Quốc thừa hành nhiệm vụ giúp Việt Nam chống Mỹ ở Việt Nam đã rút toàn bộ về nước.        
 Bộ đội chi viện Trung Quốc trong những năm tháng gian khổ giúp Việt Nam chống Mỹ, đã dũng cảm ngoan cường trong chiến đấu, gian khổ nỗ lực trên công trường, đã xuất hiện rất nhiều nhân vật anh hùng gặp nguy nan không biết sợ, coi thường cái chết. Hơn 4000 sĩ quan binh lính thuộc bộ đội chi viện Trung Quốc đã chết trên đất Việt Nam, hơn 4000 người cho đến nay vẫn còn an giấc trên các vùng đồi núi Việt Nam. Trong thời gian giúp Việt Nam chống Mỹ, bộ đội chi viện Trung Quốc luôn luôn lấy việc tăng cường tình hữu nghị giữa nhân dân hai nước Trung-Việt làm trọng, chấp hành nghiêm chỉnh 3 kỷ luật lớn, 8 điều chú ý, yêu từng dòng sông ngọn núi, từng gốc cây ngọn cỏ của Việt Nam, quan tâm tới quần chúng nhân dân Việt Nam như với đồng bào tổ quốc, khi nhà dân bị đốt cháy, các chiến sĩ luôn bất chấp mạo hiểm tính mạng để cấp cứu người dân và vật dụng; khi cả bộ đội Trung Quốc và người dân Việt Nam đều bị không kích, bao giờ cũng để bộ đội tải thương cấp cứu người bị thương của Việt Nam trước. Các sĩ quan binh lính còn tận dụng những khoảng trống lúc chiến đấu và thi công để tiếh hành các hoạt động gần gũi dân, giúp người dân Việt Nam trồng trọt, làm thủy lợi, dựng nhà cửa, làm đường, cắt tóc, chữa bệnh, mở lớp học ban đêm, tặng sách, dạy hát, chiếu phim, diễn văn nghệ…, đã làm biết bao việc tốt bộ đội chi viện Trung Quốc nhận được sự ủng hộ nhiệt tình và sự hỗ trợ mạnh mẽ từ người dân Việt Nam. Tất cả những điều này mãi mãi là giai thoại truyền đến mai sau giữa nhân dân hai nước. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khen ngợi là: “Quân đội cách mạng đến dân yêu, đi dân nhớ”.          
Các chiến sĩ của bộ đội chi viện Trung Quốc đã kề vai chiến đấu với quân dân Việt Nam, đã dùng cả sinh mệnh và máu đào để bảo vệ sự an toàn cho vùng trời và vùng đất Việt Nam, đã bảo đảm cho sự vận chuyển giao thông của Miền Bắc Việt Nam được thông suốt, làm cho quân dân Việt Nam có được một số lượng bộ đội lớn để chi viện cho sự tác chiến của nhân dân Miền Nam, giúp cho nhân dân Việt Nam giành được thắng lợi trong cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước.  Những thành tích vẻ vang của bộ đội chi viện Trung Quốc giúp ViệtNamtrong cuộc chiến tranh chống Mỹ sẽ mãi mãi khắc ghi trong lòng người dân Trung Quốc và người dân Việt Nam.     
  Trong cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước của Việt Nam, hơn 20 tỉnh, thành, khu tự trị cùng hàng ngàn đơn vị nghiên cứu khoa học, nhà máy trong cả nước đã đảm nhận nhiệm vụ giúp Việt Nam chống Mỹ. Bất kể là sản phẩm quân dụng hay sản phẩm dân dụng, chỉ cần Việt Nam cần mà đang có sẵn là cung cấp ngay, không có sẵn thì sản xuất ngay, chưa sản xuất thì cũng lập tức nghiên cứu làm luôn. Mà khi ấy, trong tất cả những thứ Việt Nam yêu cầu Trung Quốc chi viện đều có đặc điểm nổi bật là:  Nhiều chủng loại, số lượng lớn, thời gian gấp, yêu cầu cao. Hầu như nhân viên các đơn vị đảm nhận nhiệm vụ đều coi đó là nhiệm vụ hàng đầu áp đảo tất cả, tăng ca tăng giờ, hoàn thành một cách đầy đủ.    
  Nhiệm vụ vận chuyển giúp Việt Nam chống Mỹ hết sức gian khổ. Theo con số thống kê chưa đầy đủ từ 1965-1979, lượng vật tư giúp Việt Nam vận chuyển bằng đường sắt là khoảng hơn 3,05 vạn toa, trong đó chỉ riêng từ tháng 1 đến tháng 10 năm 1974, các loại vật tư vận chuyển bằng đường sắt đã lên tới hơn 91300 toa. Theo thống kê chỉ trong 5 năm của Quân khu Quảng Châu, lượng vật tư giúp Việt Nam vận chuyển bằng đường thủy tổng cộng lên tới hơn 12,5 vạn tấn. Kể từ 8.1972 trong thời gian có hơn 1 năm, lượng vật tư các loại vận chuyển vào Việt Nam trên 5 đường vận chuyển quốc lộ mở ở khu vực biên giới Trung-Việt đã đạt tới hơn 62 vạn tấn.       
  Sự viện trợ của Trung Quốc đối với Việt Nam có thời gian dài nhất, có số lượng lớn nhất trong viện trợ đối ngoại. Theo thống kê, tính cho đến năm 1978, sự viện trợ của Trung Quốc đối với Việt Nam đạt tổng giá trị lên tới khoảng 20 tỷ đôla Mỹ (tính theo giá thị trường quốc tế khi đó), trong đó viện trợ không hoàn lại chiếm 93.3%, không trả lãi chiếm 6.7%.
Bản tiếng Việt © Quốc Thanh 2012
Bản tiếng Việt © Việt sử ký 2012

[i]  Tức Miền Nam ViệtNam –ND.
[ii]  Tức Miền Bắv Việt Nam –ND.
[iii]   Chưa xác định được tên tiếng Việt là gì-ND.
[iv]   Tên một thành phố  thuộc Khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây, Trung Quốc-ND.
[v]   Tên một làng ở Khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây, Trung Quốc-ND.

Thứ Hai, 23 tháng 1, 2012

Những người bạn Trung Quốc của Hồ Chí Minh những năm 1920 -1927


TẠP CHÍ XƯA & NAY

Những người bạn Trung Quốc của

Hồ Chí Minh những năm 1920 -1927

SỐ 395+396 THÁNG 1- 2012
Nguyễn Văn Tuấn
TRONG THỜI GIAN HOẠT ĐỘNG Ở NƯỚC NGOÀI SAU KHI RA ĐI TÌM ĐƯỜNG CỨU NƯỚC NĂM 1911, NGUYỄN ÁI QUỐC ĐÃ CÓ NHIỀU QUAN HỆ VỚI CÁC NHÀ CÁCH MẠNG QUỐC TẾ, ĐẶC BIỆT LÀ CÁC CHIẾN SĨ CHỐNG THỰC DÂN ĐẾN TỪ CÁC THUỘC ĐỊA CỦA PHÁP. NHƯNG ĐÁNG CHÚ Ý LÀ MỐI QUAN HỆ MÀ NGUYỄN ÁI QUỐC HẾT SỨC QUAN TÂM, ĐÓ LÀ CÁC CHIẾN SĨ CỘNG SẢN TRUNG QUỐC. BÀI NÀY TÌM HIỂU MỐI QUAN HỆ GIỮA NGUYỀN ÁI QUỐC VỚI NHỮNG NGƯỜI BẠN TRUNG HOA TRONG NHỮNG NĂM TỪ 1920 – 1927.
Sau khi trở thành đảng viên cộng sản, Nguyễn Ái Quốc tiếp tục hoạt động ở Pháp, tham gia công tác của ĐCS Pháp (Người là Trưởng tiểu ban Đông Dương của Đảng Cộng sản (ĐCS) Pháp), đồng thời tích cực hoạt động vì sự phát triển của cách mạng Việt Nam và cách mạng thế giới. Thời gian này, người cùng một số nhà cách mạng các nước thành lập Hội Liên hiệp thuộc địa (giữa năm 1921), xuất bản báo Le Paria (4-1922). Ngoài ra, còn tổ chức và tham gia các buổi diễn thuyết, viết báo tố cáo tội ác của chủ nghĩa thực dân, tuyên truyền chủ nghĩa Mác – Lênin về Việt Nam, kêu gọi nhân dân các dân tộc trên thế giới đoàn kết đấu tranh…
Thời gian ở Pháp và Liên Xô (1920 – 1924)
Sau phong trào Ngũ tứ (4-5- 1919), chủ nghĩa Mác – Lênin truyền vào Trung Quốc một cách mạnh mẽ, góp phần dẫn tới sự ra đời của các tiểu tổ cộng sản ở nhiều địa phương Trung Quốc và thành lập ĐCS Trung Quốc vào ngày 23-7-1921. Theo yêu cầu của tổ chức, nhiều đảng viên cộng sản Trung Quốc được cử đến các nước châu Âu như Pháp, Đức, Nga… hoạt động. Ở Pháp, từ năm 1920, xuất hiện ngày càng đông các nhà cách mạng Trung Quốc. Đa số họ là đảng viên viên ĐCS Trung Quốc, thực hiện yêu cầu của Đảng đến Pháp học tập và hoạt động. Tại Pháp, họ thành lập tiểu tổ (chi bộ) ĐCS Trung Quốc ở Paris, tổ chức Thanh niên cộng sản đảng và nhiều tổ chức đoàn thể khác để đấu tranh.
Để mở rộng tình đoàn kết, cùng chung sức đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân, thực hiện mục tiêu giải phóng dân tộc, Nguyễn Ái Quốc tiến hành liên lạc với các nhà cách mạng châu Á. Trong đó, người chú trọng mối quan hệ với các đồng chí Trung Quốc. Tại Paris, Nguyễn Ái Quốc quen biết nhiều đồng chí cộng sản Trung Quốc, trong đó có Chu Ân Lai (1898-1976), Lý Phú Xuân (1900-1975), Thái Sướng (1900-1990), Nhiếp Vinh Trăn (1899-1992), Triệu Thế Viêm (1901-1927), Trần Diên Niên (1898-1927), Trần Kiều Niên (1902-1928), Vương Nhược Phi (1896-1946), Tiêu Tam (1896- 1983)…, họ đều là những đảng viên lớp đầu của ĐCS Trung Quốc, về sau có đóng góp to lớn cho sự nghiệp đấu tranh của cách mạng, một số người giữ những chức vụ chủ chốt trong Đảng và Nhà nước Trung Quốc.
Thời gian này, ĐCS Pháp và đoàn thể của nước Pháp thường xuyên tổ chức các cuộc diễu hành, thị uy, thu hút rất đông quần chúng tham gia, kể cả các đồng chí Trung Quốc. Chính trong những lần tham gia mít tinh, diễu hành này, Nguyễn Ai Quốc đã quen biết một số đồng chí Trung Quốc. Sau này, một trong số những người đó là Tiêu Tam(1) nhớ lại: “Thời gian tôi ở Paris, ĐCS Pháp hoạt động rất sôi nổi, thường xuyên tổ chức đảng viên và quần chúng míttinh, các đồng chí Trung Quốc rất nhiệt tĩnh tham gia hoạt động này, nhất là thích đi nghe lãnh đạo ĐCS diễn thuyết. Trong một buổi mít tinh vào mùa hè 1922, tôi gặp một người phương Đông. Ông ấy biết tôi là người Trung Quốc, liền đi tới và dùng tiếng Quảng Đông nói chuyện với chúng tôi. Chúng tôi ở Pháp chủ yếu là người Hồ Nam, Tứ Xuỵên, không hiểu tiếng Quảng Đông. Ông ấy liền dùng bút viết chữ Hán đàm đạo với chúng tôi, thỉnh thoảng lại dùng mấy câu tiếng Pháp. Thế là chúng tôi biết ông ấy là người Việt Nam, tên gọi là Nguyễn Ái Quốc. Tên tuổi của Nguyễn Ái Quốc chúng tôi đã từng nghe, ông ấy từng tố cáo tội ác của thực dân Pháp tại tại Hội nghị Versailles, để lại cho chúng tôi một ấn tượng rất sâu sắc, chỉ là chưa được gặp. Bây giờ được gặp Nguyễn Ái Quốc, đương nhiên mọi người đều rất vui. Thế là chúng tôi mời ông ấy đến trụ sở của mình. Rất nhanh, chúng tôi và ông ấy đã có sự quen biết”(2). Sau đó, Nguyễn Ái Quốc từng đến trụ sở của các tổ chức đảng, đoàn của các đồng chí Trung Quốc (ở số 17 đường Godefroy, phía nam Paris) cùng thảo luận vấn đề cách mạng, đoàn kết đấu tranh. Do cùng chung lí tưởng, cùng chung mục đích đấu tranh giải phống dân tộc, nên mối quan hệ giữa Nguyễn Ái Quốc vối các đồng chí cộng sản Trung Quốc nhanh chóng trở nên thân thiết. Ngay từ trước đó, Nguyễn Ái Quốc với những hoạt động cách mạng của mình đã làm cho các đồng chí Trung Quốc chú ý. Nay có điều kiện tiếp xúc, với ý chí cách mạng kiên định, phẩm chất đạo đức cao thượng, người nhận được sự tôn trọng và ngưỡng mộ của các đồng chí Trung Quốc.
Những năm hoạt động ở Paris Tiêu Tam được tổ chức giao nhiệm vụ liên lạc với ĐCS Pháp, Đoàn Thanh niên xã hội chủ nghĩa Pháp để phối hợp công tác. Ông thường đến Ban thuộc địa ĐCS Pháp và thường xuyên tiếp xúc với Nguyễn Ái Quốc. Do yêu cầu công tác, quan hệ giữa hai người vì thế cũng ngày càng thân mật.
Vào khoảng mùa thu năm 1922, Nguyễn Ái Quốc thảo luận với các đồng chí cộng sản Trung Quốc về vấn đề gia nhập ĐCS Pháp. Người cho rằng, ĐCS Pháp theo chủ nghĩa cộng sản và chú trọng chủ nghĩa quốc tế, vì vậy, các nhà cách mạng cùng chung lí tưởng và cùng chung đường lối đấu tranh, không phân biệt quốc gia, dân tộc, đều có thể tham gia. Người hi vọng một số đồng chí Trung Quốc tham gia ĐCS Pháp và tỏ ý sẽ sẵn sàng giới thiệu với Đảng. Các đồng chí lãnh đạo tổ chức đảng, đoàn Trung Quốc tại Pháp nghiêm túc thảo luận vấn đề này và cho rằng nên cử một số người tham gia ĐCS Pháp để tăng cường quan hệ và tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động. Vào khoảng tháng 10-1922, Nguyễn Ai Quốc giới thiệu 5 đồng chí Trung Quốc gia nhập ĐCS Pháp là Vương Nhược Phi, Triệu Thế Viêm, Trần Diên Niên, Trần Kiều Niên(3) và Tiêu Tam. Những người này trở thành đảng viên ĐCS Pháp và chuyển đến sinh hoạt thường xuyên với tổ chức Đảng.
Cũng thời gian hoạt động tại Pháp, Nguyễn Ái Quốc bắt đầu thiết lập mối quan hệ đồng chí thân thiết với Chu An Lai. Năm 1920, Chu Ân Lai cùng với một số đồng chí Trung Quốc đến Pháp học tập và hoạt động. Tại đây, ông tham gia thành lập và là người phụ trách chung công tác của các tổ chức đảng, đoàn thể của Trung Quốc ở Pháp. Có một lần (năm 1922), Nguyễn Ái Quốc chủ động hẹn gặp Chu Ân Lai tại một ga tàu điện ngầm gần sông Seine ở Paris. Trong lần đầu tiên gặp mặt, “ánh mắt chân thành và hiền từ của Nguyễn Ái Quốc làm cho Chu Ân Lai cảm động”. Hai người đi bộ dọc sông Seine, “nói chuyện lí tưởng, hoài bão, cuộc sống; nói chuyện tình hình nước Pháp, Trung Quốc, Việt Nam và thế giới; thảo luận về các chủ ng­hĩa, khuyến khích sự học tập chủ nghĩa Mác, biểu thị sự ngưỡng mộ chủ nghĩa cộng sản”(4). Sau lần đó, Chu Ân Lai thường đến nơi ở của Nguyễn Ái Quốc tại số 9 ngõ Compoint, cùng trao đổi chuyện chính trị và cuộc sống. Năm 1954, Đoàn đại biểu Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do đồng chí Phạm Văn Đồng dẫn đầu tham dự Hội nghị Geneve. Trước khi đến Hội nghị, đoàn dừng lại ở Bắc Kinh. Tại
đây, Chu Ân Lai (lúc đó là Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa) nói với Phạm Văn Đồng về mối quan hệ của mình với Chủ tịch Hồ Chí Minh lúc hoạt động ở Pháp: “Lúc tôi mới tham gia cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã giúp đỡ chúng tôi rất nhiều. Người giới thiệu một số đồng chí chúng tôi gia nhập ĐCS Pháp. Lúc đó, tôi thường xuyên đến ngõ Compoint gặp người. Người sống rất giản dị, nhưng học thức sâu rộng, năng lực hoạt động rất mạnh mẽ. Chủ tịch Hồ Chí Minh còn thông thạo nhiều ngoại ngữ. Đạo đức và sự thông minh của người có sức cảm hóa lớn đối với những thanh niên mới bước vào con đường cách mạng như chúng tôi”(5).
Những cuộc gặp gỡ ở Paris đã đặt cơ sở cho mối quan hệ rất gắn bó và thân thiết giữa Hồ Chí Minh và Chu Ân Lai thời gian về sau. Tháng 11-1956, Chu Ân Lai dẫn đầu đoàn đại biểu Chính phủ Nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa sang thăm chính thức Việt Nam. Tại buổi buổi chiêu đãi, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Chu Ân Lai là người anh em của tôi. chúng tôi từng cùng nhau đồng cam cộng khổ, cùng nhau hoạt động cách mạng. Ông ấy là người chiến hữu thân thiết của tôi hơn 30 năm nay”. Chu Ân Lai nói: “34 năm trước tôi đã quen biết Hồ Chủ tịch ở Paris. Hồ Chủ tịch là người dẫn đường cách mạng của tôi. Lúc đó, người đã là một người chiến sĩ cách mạng, còn tôi thì mới gia nhập ĐCS. Người là người anh của tôi”(6).
Tháng 6-1923, Nguyễn Ái Quốc rời Pháp đến Liên xô và lưu lại ở đây khoảng một năm rưỡi. Tại đây, người một mặt học tập để hoàn thiện lí luận cứu nước của mình, mặt khác ra sức tìm hiểu tình hình mọi mặt của chế độ Xô viết, đồng thời tích cực tham gia nhiều hoạt động chính trị tại Liên Xô. Người tham dự nhiều hội nghị quốc tế quan trọng, như Đại hội Quốc tế Nông dân, Đại hội Quốc tế Công hội đỏ, Đại hội Quốc tế thanh niên, nhất là Đại hội V Quốc tế Cộng sản từ 17-6 đến 18- 7-1924 tại Mátxcơva.
Thời gian hoạt động tại Liên Xô, Nguyễn Ái Quốc tiếp tục thiết lập mối quan hệ với những đồng chí cộng sản Trung Quốc. Trong đó, đáng chú ý nhất là mối quan hệ đồng chí giữa Người và Trương Thái Lôi(7). Trương Thái Lôi là một trong những người cộng sản đầu tiên của Trung Quốc. Tháng 10 -1920, ông tham gia tiểu tổ cộng sản Bắc Kinh. Đầu năm 1921, đến Mátxcơva hoạt động trong Quốc tế Cộng sản. Ông từng tham dự các đại hội III, IV, V của Quốc tế Cộng sản và Đại hội IV Quốc tế Thanh niên. Tại Liên Xô, Nguyễn Ái Quốc và Trương Thái Lôi đều vào học Trường Đại học Cộng sản của những người lao động Phương Đông, cùng hoạt động trong Quốc tế Cộng sản. Ngoài ra, hai người còn cùng nhau tham dự lễ tang Lênin vào ngày 23-1-1924. Với điều kiện học tập và công tác gần gũi, Nguyễn Ái Quốc và Trương Thái Lôi thường xuyên tiếp xúc, thảo luận chuyện chính trị, giúp đỡ lẫn nhau trong học tập và công tác, từ đó hình thành mối quan hệ thân thiết. Hai người và một đồng chí Nhật Bản còn chụp một bức ảnh chung.
Thời gian này, Nguyễn Ái Quốc dành thời gian viết nhiều bài báo và sách về tình hình Trung Quốc, như Chính sách thực dân Anh, Tình hình ở Trung Quốc, Tình cảnh nông dân Trung QuốcCác nước đế quốc và Trung Quốc, Trung Quốc và Thanh niên Trung Quốc... Trương Thái Lôi và các đồng chí Trung Quốc đã giúp đỡ Nguyễn Ái Quốc rất nhiều trong việc thu thập tư liệu về tình hình Trung Quốc, tình trạng nông dân và phong trào thanh niên Trung Quốc. Trong số các bài báo và sách mà Nguyễn Ai Quốc đã viết, đáng chú ỷ là cuốn sách Trung Quốc và Thanh niên Trung Quốc. Sách do Nguyễn Ái Quốc chủ biên, có sự tham gia biên soạn của một số sinh viên Trung Quốc học tại Trường Đại học Cộng sản của những người lao động Phương Đông. Sách viết bằng tiếng Pháp, được dịch sang tiếng Nga, do Nhà xuất bản Mátxcơva mới xuất bản năm 1925. Cuốn sách giời thiệu khái quát về lịch sử, địa lí, kinh tế, văn hóa, xã hội và con người Trung Quốc; tình cảnh của các tầng lớp nhân dân Trung Quốc qua các thời kì, nhấn mạnh thời kì bị chủ nghĩa đế quốc áp bức; nêu lên những đặc trưng về phong trào cách mạng Trung Quốc và nhiệm vụ của thanh niên Trung Quốc trong sự nghiệp cách mạng… Việc biên soạn cuốn sách này cũng thể hiện tinh thần quốc tế vô sản cao cả của Nguyễn Ái Quốc. Người đã để tâm nghiên cứu và giới thiệu với thế giới về tình hình, nhiệm vụ của cách mạng Trung Quốc và tố cáo tội ác của chủ nghĩa đế quốc đối vối nhân dân Trung Quốc.
Có thể nói, thời gian hoạt động ở Pháp và Liên Xô Nguyễn Ái Quốc rất coi trọng thiết lập mối quan hệ với các đồng chí cộng sản Trung Quốc. Người đã có nhiều sự giúp đỡ đối với các đồng chí Trung Quốc trong quá trình hoạt động. Mối quan hệ đó được hình thành và phát triển trên cơ sở tinh đồng chí cộng sản chân thành và tinh thần quốc tế vô sản. Nó chính là sự mở đầu cho mối quan hệ ngày càng gắn bó của Nguyễn Ái Quốc với các đảng viên ĐCS Trung Quốc trong thời gian tiếp theo.
Thời kỳ Đại Cách mạng ở Quảng Châu (11/1924 – 5/1927)
Tháng 11-1924, Nguyễn Ái Quốc đến Quảng Châu. Quảng Châu lúc đó là trung tâm của cách mạng Trung Quốc, phong trào đấu tranh của nhân dân Trung Quốc ở đây phát triển rất mạnh. Đồng thời được coi là “Mátxcơva của phương Đông”, thu hút rất đông các nhà cách mạng các nước châu Á đến hoạt động. Ớ Quảng Châu cũng có rất đông các nhà yêu nước Việt Nam. Họ đến đây để mưu cầu sự nghiệp đấu tranh chống Pháp, giải phóng dân tộc. Họ thành lập tổ chức, liên kết đồng chí, thực hiện các vụ ám sát… Sau khi đến Quảng Châu, Nguyễn Ái Quốc được bố trí vào làm phiên dịch trong Trụ sở Borodin (cố vấn chính trị của Ban chấp hành Trung ương Trung Hoa Quốc dân đảng). Ngoài ra, với tư cách là đặc phái viên của Quốc tế Cộng sản, phụ trách Cục phương Nam, ngươi có điều kiện để theo dõi hoạt động của nhóm yêu nước người Việt Nam tại đây. Trên thực tế, việc lãnh đạo phong trào đấu tranh của các nhà cách mạng Việt Nam là hoạt động quan trọng nhất của Nguyễn Ái Quốc thời gian ở Quảng Châu. Người thành lập Hội Việt Nam
Cách mạng Thanh niên, chỉ đạo mở lớp huấn luyện chính trị để đào tạo cán bộ cách mạng, xuất bản báo Thanh Niên để truyền báchủ nghĩa Mác – Lênin về Việt Nam, mặt khác tích cực tham gia phong trào đấu tranh của nhân dân Trung Quốc, của các nhà cách mạng quốc tế tại Quảng Châu.
Tuy thời gian hoạt động ở Quảng Châu không dài (khoảng hai năm rưỡi), nhưng Nguyễn Ái Quốc đã có nhiều mối quan hệ rất gắn bó với các đảng viên ĐCS Trung Quốc. Trước và sau khi Nguyễn Ái Quốc đến Quảng Châu, nhiều đồng chí Trung Quốc từng hoạt động ở Pháp và Liên Xô cũng về nước, đến đây hoạt động. Đó là các đồng chí Chu Ân Lai, Lý Phú Xuân, Thái Sướng, Trương Thái Lôi, Trần Diên Niên, Nhiếp Vinh Trăn… Ngoài ra, trong thời gian này, Nguyễn Ái Quốc còn có quan hệ công tác với các đồng chí mới là Đặng Dĩnh Siêu (1904- 1992), Bành Bái (1896-1929), Diệp Kiếm Anh (1897-1986), Lưu Thiếu Kỳ (1898-1969)…
Sau khi Nguyễn Ái Quốc rời Pháp đến Liên Xô, năm 1924 Chu An Lai chấp hành chỉ thị của Đảng về Quảng Châu hoạt động. Ông giữ chức Chủ tịch Khu ủy tỉnh Quảng Đông kiêm Bộ trưởng Bộ Tuyên truyền, Chủ nhiệm Cục chính trị Trường Quân chính Hoàng Phố. Nguyễn Ai Quốc vui mừng khi biết Chu An Lai đã trở thành nhân vật rất quan trọng của ĐCS Trung Quốc ở Quảng Châu. Tại đây, hai người có nhiều dịp để gặp gỡ trao đổi công tác. Với cương vị lãnh đạo Khu ủy Quảng Đông, Chu An Lai có điều kiện giúp đỡ Nguyễn Ái Quốc và Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên hoạt động. Khi Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên mở lớp huấn luyện chính trị, nhận lời mời của Nguyễn Ái Quốc, Chu Ân Lai và các đồng chí Lý Phú Xuân (ủy viên Quân ủy Khu ủy Quảng Đông), Bành Bái (phụ trách nông vận), Lưu Thiếu Kỳ (phụ trách công vận)… từng đến Trụ sở của Hội ở số 13 đường Văn Minh giảng bài hoặc báo cáo chuyên đề. Chu Ân Lai cũng nhiều lần mời Nguyễn Ái Quốc đến tham quan tình hình Trường Quân chính Hoàng Phố, đồng thời cử giáo viên của Trường đến giúp Nguyễn Ái Quốc đào tạo cán bộ. Mối quan hệ đồng chí thân thiết của Nguyễn Ái Quốc và Chu An Lai không chỉ thể hiện trong công tác, mà còn thể hiện trong cuộc sống. Tháng 8-1925, Chu Ân Lai và Đặng Dĩnh Siêu kết hôn ở Quảng Châu. Sau đó, Nguyễn Ai Quốc thường xuyên đến thăm vợ chồng Chu An Lai. Ngược lại, vợ chồng Chu An Lai cũng quan tâm giúp đỡ Nguyễn Ái Quốc trong cuộc sống.
Ở Trường Quân chính Hoàng Phố lúc đó, không chỉ có Chu An Lai là lãnh đạo mà Diệp Kiếm Anh cũng là người có vai trò quan trọng, phụ trách công tác giảng dạy. Ngoài ra, Trần Diên Niên cũng là người quản lí của trường. Đó chính là một trong những điều kiện thuận lợi để Nguyễn Ái Quốc quyết định cử một số hội viên của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên đến học ở Trường. Trong số này có Phùng Chí Kiên, Trương Vân Lĩnh, Lê Thiết Hùng… về sau đều trở thành những nhà lãnh đạo quân sự của Đảng ta.
Sau khi Nguyễn Ái Quốc đến Quảng Châu, đầu năm 1925, Trương Thái Lôi cũng đến Quảng Châu, công tác trong Trụ sở Boro­din. Từ đó, mối quan hệ đồng chí giữa hai người vốn được đặt nền móng từ trước tiếp tục phát triển, ngày càng bền chặt. Phòng làm việc của Nguyễn Ái Quốc được bố trí gần với phòng của Trương Thái Lôi. Hai người thường xuyên đến phòng làm việc của nhau cùng chuyện trò thân mật và thảo luận công việc. Đối với Trương Thái Lôi, Nguyễn Ái Quốc là một chiến hữu gần gũi, chân thành và rất thẳng thắn. Vương Nhất Trí (người cùng làm việc với Trương Thái Lôi thời gian ở Quảng Châu) sau này nhớ lại: “Hồ Chí Minh là người chân thành, Người thường nói với tôi và Thái Lôi rằng: Người đảng viên cộng sản phải chân thành với đồng chí và nhân dân. Quan hệ giữa Hồ Chí Minh với chúng tôi rất thân thiết, Người và Thái Lôi thời gian ở Liên Xô quan hệ đã tốt, nay lại công tác cùng nhau, tình thân thiết lại tăng lên nhiều lần. Hầu như ngày nào người cũng đến phòng làm việc của chúng tôi, chúng tôi cũng thường xuyên đến phòng của người”(8); “Tôi nhớ có một lần tôi và Thái Lôi tranh cãi nhau vì một việc nhỏ, Hồ Chí Minh nghe thấy và mỉm cười bước đến, dùng tiếng Nga hỏi chúng tôi “Các anh có phải là người đảng viên cộng sản không?” Tôi và Thái Lôi chợt hiểu ra Hồ Chí Minh đang phê bình mình, làm một người đảng viên cộng sản phải tôn trọng lẫn nhau, chân thành với nhau, không thể vì một việc nhỏ mà tranh cãi… Sự việc này để lại cho chúng tôi một ấn tượng rất sâu sắc”(9). Ngoài ra, Nguyễn Ái Quốc và Trương Thái Lôi còn cùng nhau tham gia hoạt động tuyên truyền, diễn thuyết tại phong trào bãi công của công nhân Trung Quốc tại Quảng Châu. Khi gửi thư cho Đoàn chủ tịch Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Trung Hoa Quốc dân đảng (ngày 6-1-1926) đề nghị được tham gia và phát biểu tại Đại hội, Nguyễn Ái Quốc (lúc đó dùng tên Lý Thụy) đề địa chỉ liên lạc là: Sứ quán Borodin, ngài Trương Xuân Mộc chuyển(10). Trương Xuân Mộc chính là bí danh của Trương Thái Lôi.
Bức thư của Nguyễn Ái Quốc đã đến Đoàn chủ tịch Đại hội. Một trong số những người tham gia Đoàn chủ tịch là Đàm Bình Sơn (đảng viên ĐCS Trung Quốc, kiêm Bộ trưởng Bộ tổ chức Trung ương Quốc dân đảng) quyết định: “Lúc thảo luận dề án dân tộc, mời ông ấy đến dự và phát biểu”(11). Sáng ngày 14-1-1924, tại phiên họp thứ 9, Nguyễn Ái Quốc (bí danh Vương Đạt Nhân) đến dự và phát biểu tại Đai hội! Người phát biểu bằng tiêng Pháp, một đổng chí mà người đã quen biết thời gian ở Pháp và có quan hệ thân thiết thời gian ở Quảng Châu là Lý Phú Xuân dịch. Có thể thấy, Nguyễn Ái Quốc với quan hệ rộng và thân thiết với các đồng chí cộng sản Trung Quốc đã tạo ra những điều kiện tốt để mở rộng các mối quan hệ với các giới chính trị Trung Quốc lúc bấy giờ, tranh thủ sự giúp đỡ của cách mạng Trung Quốc đối với cách mạng Việt Nam.
Dưới sự giúp đỡ của ĐCS Trung Quốc, Nguyễn Ái Quốc cùng với một số nhà cách mạng các nước Trung Quốc, Triều Tiên, Indonesia… thành lập Hội Liên hiệp các dân tộc bị áp bức ở Á Đông vào tháng 7-1925. Hội có quan hệ mật thiết vối Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên. Nguyễn Ái Quốc là một trong những người lãnh đạo của Hội, đồng thời trực tiếp phụ trách Phân bộ Việt Nam. Tháng 2-1926, Hội Liên hiệp các dân tộc bị áp bức ở Á Đông tiến hành kiện toàn cơ cấu tổ chức. Đảng viên ĐCS Trung Quốc Bao Huệ Tăng được bầu làm Chủ tịch Ban chấp hành lâm thời, Nguyễn Ái Quốc là ủy viên phụ trách tài chính và phụ trách phân bộ Việt Nam. Với cương vị công tác này, Nguyễn Ái Quốc quen biết thêm nhiều đồng chí đảng viên ĐCS Trung Quốc công tác trong Hội. Cũng nhờ đó mà hoạt động Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên ngày càng thuận lợi. Nhiều hội viên Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên tham gia vào công tác của Hội Liên hiệp các dân tộc bị áp bức ở Á Đông.
Tháng 4-1927, Tưởng Giới Thạch thực hiện chính biến phản cách mạng ở Thượng Hải. Sau đó, phái phản động trong Trung Hoa Quốc dân đảng ở Quảng Châu công khai phản biến, đàn áp, bắt bớ đảng viên cộng sản và quần chúng cách mạng. Tình hình thay đổi, Nguyễn Ái Quốc buộc phải rời Quảng Châu.
Trong sách Vừa đi đường vừa kể chuyện, tác giả T. Lan có nói đến tình hình của Hồ Chí Minh những ngày cuối ở Quảng Châu. Mặc dù Quốc dân đảng khủng bố rất mạnh, nhưng Bác vẫn ráng ở lại Quảng Châu một thời gian, vì cần liên lạc với các đồng chí Trung Quốc và cần duy trì công việc của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên(12). Trên thực tế, sau chính biến của lực lượng phản động trong Trung Hoa Quốc dân đảng, các đảng viên ĐCS Trung Quốc phải lui vào hoạt động bí mật, đoàn công tác của Liên Xô cũng phải dời đến Vũ Hán (Hồ Bắc). Mặc dù vậy, Nguyễn Ái Quốc vẫn lưu lại Quảng Châu khoảng gần một tháng. Nhưng tình Quảng Châu diễn biến ngày càng xấu, dưới sự sắp xếp của ĐCS Trung Quốc, tháng 5-1927, Nguyễn Ái Quốc rời Quảng Châu đến Vũ Hán, nhập vào đoàn công tác của Liên Xô cùng đến Thượng Hải và trở lại Liên Xô. Người hoạt động ở Liên Xô một thời gian, sau đó đến Đức, Pháp, Thụy Sĩ, Italia và về Thái Lan
Nói tóm lại, trong thời gian hoạt động ở Pháp, Liên Xô, Trung Quốc (từ năm 1920 đến 1927), Nguyễn Ái Quốc đã có nhiều mối quan hệ thân thiết với các đồng chí cộng sản Trung Quốc. Mối quan hệ đó dựa trên tinh thần quốc tế vô sản của những người cùng chung lí tưởng, chung khát vọng đấu tranh. Người đã nhiệt tình giúp đỡ các đồng chí Trung Quốc trong hoạt động và cũng nhận được sự giúp đỡ của họ. Với lòng nhiệt tình, sự chân thành, thẳng thắn và những phẩm chất đạo đức cao thượng, người để lại ấn tượng sâu đậm đối với các đồng chí Trung Quốc. Việc thiết lập quan hệ vối các đồng chí Trung Quốc cũng phần nào thể hiện tư tưởng nhất quán về đoàn kết cách mạng quốc tế của Hồ Chí Minh, đặt cơ sở cho hoạt động của các nhà cách mạng Việt Nam ở Trung Quốc thời gian về sau, góp phần biến Trung Quốc thành căn cứ địa của cách mạng Việt Nam ở nước ngoài.
CHÚ THÍCH:
1. Tiêu Tam sinh nám 1896, quê ở tỉnh Hồ Nam, Trung Quốc. Năm 1920, ông sang Pháp du học, tham gia tiểu tổ ĐCS Trung Quốc ở Pari. Năm 1924, về nước giữ chức Ủy viên tỉnh ủy Hồ Nam. Về sau ông trở thành nhà văn nổi tiếng của Trung Quốc.
2. Hoàng Tranh, Hồ Chí Minh với Trung Quốc, Nhà xuất bản Giải phóng quân, Bắc Kinh, 1987, tr.7, (bản tiếng Trung).
3. Vương Nhược Phi sinh năm 1896 ở huyện An Thuận, Quỹ Châu, Trung Quốc. Đến Pháp từ năm 1919, năm 1925 về nước, hoạt động ở Thượng Hải, Hồ Nam, Giang Tô. Năm 1931, là đặc phái viên của ĐCS Trung Quốc tại Đặc khu Tây Bắc. Từ năm 1938 là Phó tham mưu trưởng Bát lộ quân Trung Quốc, từ năm 1940 là Trưởng Ban thư kí Trung ương Đảng. Triệu Thế Viêm sinh năm 1901 ở Trùng Khánh, Tứ Xuyên. Năm 1920 đến Pháp, là lãnh đạo tiểu tổ ĐCS Trung Quốc và tổ chức Thanh niên cộng sản đảng của Trung Quốc ở Pháp. Tháng 3-1923, đến học tại Trường Đại học Cộng sản của những người lao động Phương Đông (Liên Xô). Tháng 7-1924 về nước, tham gia lãnh đạo phong trào cách mạng tại Khu ủy Phương Bắc Trung Quốc và tỉnh Triết Giang, là ủy viên Ban chấp hành Trung ương ĐCS Trung Quốc. Tháng 7-1927, bị chính quyền Trung Hoa Quốc dân đảng bắt và hi sinh; Trần Diên Niên sinh nám 1898 tại tỉnh An Huy, Trung Quốc, ông là con trai đầu của Trần Độc Tú (một trong những người sáng lập ĐCS Trung Quốc, Bí thư đầu tiên của Đảng). Cuối năm 1919 đến Pháp, 1923 đến Liên Xô học Trường Đại học Cộng sản của những ngưòi lao động Phương Đông. Tháng 9-1924, về nước hoạt động ở Thượng Hải, sau đó chuyển đến Quảng Châu giữ chức Thư kí Khu ủy ĐCS Trung Quốc tỉnh Quảng Đông, đồng thời tham gia công tác quản lí tại Trường Quân chính Hoàng Phố. Tháng 6-1927, ông được bầu giữ chức Bí thư Tỉnh ủy Giang Tô. Ngày 22-6-1927, ông bị phái phản động Trung Hoa Quốc dân đảng bắt và giết hại vào đầu tháng 7-1927 lúc mới 29 tuổi; Trần Kiều Niên sinh năm 1902, là con trai thứ của Trần Độc Tú, em trai Trần Diên Niên. Đến Pháp cuối năm 1919, đầu năm 1923 đến Liên Xô tiếp tục học tập. Cuối nám 1924 về nước hoạt động ở Bắc Kinh. Năm 1926, rời Bắc Kinh đến hoạt động ở miền Nam Trung Quốc. Tại Đại hội V ĐCS Trung Quốc (1927), được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng, phụ trách Bộ Tổ chức Trung ương Đảng. Tháng 6-1928, ông bị Trung Hoa Quốc dân đảng sát hại.
4. Thời Phong, La Nguyên Sinh, Chu Ân Lai và Hồ Chí Minh: Tình hữu nghị cách mạng “đồng chí và anh em’  Tạp chí Văn sử xuân thu, số 6-2006, tiếng Trung.
5. Theo Lý Gia Trung, Mối quan hệ giữa Chu Ân Lai và Hồ Chí Minh, Tạp chí Bách niên triều, số 6-2003.
6. Nhân dân Nhật báo, ngày 22-11- 1956, (bản tiếng Trung).
7. Trương Thái Lôi (1898-1927), người tỉnh Giang Tô, là một trong những đảng viên đầu tiên của ĐCS Trung Quốc và cũng là một trong những người sáng lập Đoàn thanh niên cộng sản chủ nghĩa Trung Quốc, lãnh tụ lỗi lạc của phong trào thanh niên; là lãnh đạo chủ chốt của cuộc khởi nghĩa Quảng Châu do ĐCS phát động cuối năm 1927, chủ tịch Công xã Quảng Châu. Ngày 12-12-1927, hy sinh trong lúc chỉ huy chiến đấu.
8. Ban Biên tập Nxb Nhân dân, Hồi ức Trương Thái Lôi, Nxb Nhân dân, Bắc Kinh, 1984, tr. 17-18.
9. Dẫn theo: Hoàng Tranh, Sđd, tr.19.
10. Xem Hồ Chí Minh toàn tập, tập 2, Nxb Chính trị Quốc gia, H, 2000, tr.211.
11. Theo Tưởng Vĩnh Kính, Hồ Chí Minh ở Trung Quốc, Đài Bắc Truyện kí Văn học xuất bản xã, 1972, tr.49, tiếng Trung.
12. Xem T. Lan, Vừa đi đường vừa kể chuyện, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2008.
—