Hiển thị các bài đăng có nhãn Chính quyền CHXHCNVN. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Chính quyền CHXHCNVN. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 5 tháng 6, 2012

NHẬT KÍ LÝ BẰNG TIẾT LỘ ĐẦU ĐUÔI CHUYỆN BÌNH THƯỜNG HÓA QUAN HỆ TRUNG-VIỆT NĂM 1990


NHẬT KÍ LÝ BẰNG TIẾT LỘ ĐẦU ĐUÔI CHUYỆN

BÌNH THƯỜNG HÓA QUAN HỆ TRUNG-VIỆT NĂM 1990

Tác giả: Lý Bằng
Người dịch: Quốc Thanh
02-05-2012
Ý cốt lõi: Về việc bình thường hóa mối quan hệ kinh tế Trung-Việt, nên dựa trên nguyên tắc hai bên bình đẳng và cùng có lợi, sẽ do các đối tác của hai bên bàn bạc giải quyết, Trung Quốc giữ thái độ tích cực với tất cả các lĩnh vực thương mại, bưu chính, vận tải, thanh toán ngân hàng, khôi phục lại giao thông đường bộ.
Bài này trích trong cuốn “Hòa bình Phát triển Hợp tác – Nhật ký ngoại sự của Lý Bằng” Tác giả: Lý Bằng Nhà xuất bản: Tân Hoa xuất bản xã Nguồn: people.com.cn 
Vào cuối thập kỷ 70 của thế kỷ 20, Việt Nam xuất quân sang Campuchia. Năm 1979, quan hệ Trung-Việt bị chìm xuống đáy. Tháng 12 năm 1986, Nguyễn Văn Linh nhậm chức Tổng bí thư Đảng cộng sản Việt Nam. Cùng với sự xấu đi của cục diện quốc tế, đặc biệt là sau biến động ở Châu Âu, Liên Xô bị tan rã, Nguyễn Văn Linh đã điều chỉnh lại chính sách, tìm kiếm sự bình thường hóa quan hệ Trung-Việt.   

Qua đường liên lạc bí mật giữa hai bên Trung-Việt, từ 3 – 4.9.1990, Nguyễn Văn Linh đi cùng Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Việt Nam Đỗ Mười, cùng với lãnh đạo Trung Quốc tổ chức cuộc gặp mặt ở Thành Đô, sự kiện này trở thành bước ngoặt trong việc bình thường hóa quan hệ Trung-Việt.
[Năm 1986] Thứ sáu ngày 26.12, mưa u ám.
 Nguyễn Văn Linh được bầu làm Tổng bí thư Đảng cộng sản Việt Nam tại Đại hội 6 Đảng cộng sản Việt Nam, thay cho nguyên Tổng bí thư Lê Duẩn đã qua đời vào tháng 7.
[Năm 1989] Thứ bảy ngày 26.8, mưa u ám.
Hôm nay, Việt Nam tuyên bố đã “rút quân toàn bộ” khỏi Campuchia. Điều này tạo điều kiện cho việc giải quyết vấn đề Campuchia một cách thuận lợi, đồng thời cũng gạt bỏ được sự trở ngại cho bình thường hóa quan hệ Trung-Việt. 
  
* Bước ngoặt trong quan hệ Trung-Việt – Hội nghị Thành Đô
[Năm 1990] Thứ tư ngày 6.6, nắng.
Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh đã gặp đại sứ Trương Đức Duy tại Bộ quốc phòng Việt Nam. Nguyễn [Văn Linh] hi vọng thực hiện bình thường hóa được mối quan hệ giữa hai nước, hai đảng, đồng thời mong sớm được sang thăm Trung Quốc.
Chủ nhật ngày 26.8, mưa u ám.
  Về chuyến thăm nội bộ tới Trung Quốc của các nhà lãnh đạo chính bên Việt Nam gồm Tổng bí thư Đảng cộng sản Việt Nam Nguyễn Văn Linh…, tôi đã nói với đồng chí Giang Trạch Dân, ông ta tỏ ý hoàn toàn tán thành.
Thứ hai ngày 27.8, mưa.
 Về việc đồng chí Giang Trạch Dân và tôi sẽ hội kiến với Nguyễn Văn Linh, tôi đã báo cáo lên đồng chí Đặng Tiểu Bình. Xét thấy Á vận hội (Asian Games) sẽ được tổ chức ở Bắc Kinh, mà cuộc gặp mặt này lại đề cập đến việc bình thường hóa quan hệ Trung-Việt, đặc biệt hệ trọng, nên để tiện cho việc bảo mật, địa điểm hội đàm sẽ được bố trí ở Thành Đô.
Thứ năm ngày 30.8, nắng.
  Việc đồng chí Giang Trạch Dân và tôi đến Thành Đô hội đàm nội bộ với Tổng bí thư Đảng cộng sản Việt Nam Nguyễn Văn Linh, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Việt Nam Đỗ Mười, đã có gửi lời mời cho Việt Nam. Bây giờ thử xem trả lời từ Việt Nam ra sao.
Chủ nhật ngày 2.9, nắng.
  Ba giờ rưỡi chiều, tôi đáp chiếc chuyên cơ cất cánh từ sân bay Tây Giao Bắc Kinh, khoảng 6 giờ tới sân bay Thành Đô. Chúng tôi ngồi ô tô qua lộ trình mất hơn 20 phút đến Nhà khách Kim Ngưu, Bí thư Tỉnh ủy Dương Nhữ Đại đang đợi. Đồng chí Giang Trạch Dân đáp một chiếc chuyên cơ khác đến Thành Đô chậm hơn tôi nửa giờ. Từ 8 giờ rưỡi tối đến 11 giờ đêm, tôi và đồng chí Giang Trạch Dân trao đổi với nhau về phương châm của cuộc hội đàm với phía Việt Nam vào ngày mai.
Thành Đô thứ hai ngày 3.9, nắng.
 Buổi sáng, tôi ở chỗ đồng chí Giang Trạch Dân cùng với ông ta tiếp tục nghiên cứu về phương châm của cuộc hội đàm sẽ tiến hành với phía Việt Nam.
  Khoảng 2 giờ chiều, Tổng bí thư Đảng cộng sản Việt Nam Nguyễn Văn Linh, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Đỗ Mười và Cố vấn Ban chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam Phạm Văn Đồng tới Nhà khách Kim Ngưu ở Thành Đô, Giang Trạch Dân và tôi đón họ ở nhà một tầng số 1. Nguyễn Văn Linh mặc bộ com lê màu cà phê, mang hơi hướng phong cách học giả. Đỗ Mười thân hình còn tráng kiện, tóc bạc phơ, mặc bộ com lê màu xanh thẫm. Cả hai đều 73-74 tuổi, còn Phạm Đồng thì hai mắt bị đục thủy tinh thể, thị lực cực kém, mặc bộ áo đại cán, giống các cán bộ lão thành của Trung Quốc.
  Buổi chiều, cuộc hội đàm bắt đầu, Nguyễn Văn Linh làm một bài nói dài trước. Tuy bày tỏ nguyện vọng nhanh chóng giải quyết vấn đề Campuchia, đồng thời nói việc thành lập Hội đồng tối cao Campuchia là chuyện cấp bách, không nên loại trừ bất cứ bên nào, nhưng lại tỏ ý không muốn can thiệp vào công việc nội bộ của Campuchia. Xem ra về vấn đề Campuchia, Nguyễn Văn Linh chỉ muốn làm một sự bày tỏ thái độ về nguyên tắc, còn trọng điểm là đặt vào phương diện bình thường hóa quan hệ Trung-Việt.
Cuộc hội đàm tiếp tục một mạch đến 8 giờ tối, 8 giờ rưỡi mới bắt đầu mở tiệc. Bên bàn tiệc, tôi và đồng chí Giang Trạch Dân lại lần lượt làm việc với Đỗ Mười và Nguyễn Văn Linh .  
Thứ ba ngày 4.9, râm mát.
Buổi sáng, chúng tôi tiếp tục họp với các đồng chí lãnh đạo của Việt Nam. Đến đây, có thể nói những vấn đề nêu ra trong hội nghị đã đi đến đồng thuận một cách khá thỏa mãn, cùng quyết định khởi thảo một bản Kỷ yếu hội nghị.
  Hai giờ rưỡi chiều, hai bên Trung-Việt tổ chức lễ ký kết ở nhà một tầng số 1 tại Nhà khách Kim Ngưu, hai bên lần lượt do Tổng bí thư và Thủ tướng ký. Đây là một bước ngoặt mang tính lịch sử trong quan hệ Trung-Việt. Đồng chí Giang Trạch Dân tặng ngay tại chỗ cho các đồng chí Việt Nam câu thơ “Độ tận kiếp ba huynh đệ tại, Tương phùng nhất tiếu mẫn ân cừu” (Qua hết sóng gió anh em vẫn còn, Gặp nhau cười một cái là quên ân oán). Câu thơ này là của Lỗ Tấn. Trước việc này, các đồng chí Việt Nam tỏ ra rất vui.
  Bốn giờ chiều, chuyên cơ cất cánh về Bắc Kinh, khoảng 6 giờ 10 tới nơi.
* Đảng cộng sản Việt Nam họp Đại hội 7 
[Năm 1991] Thứ bảy ngày 29.6.
Đại hội 7 Đảng cộng sản Việt Nam bế mạc, Đỗ Mười được bầu làm Tổng bí thư, Nguyễn Văn Linh, Phạm Văn Đồng làm cố vấn. Quan điểm chủ yếu chung của Đại hội 7 Đảng cộng sản Việt Nam là kiên trì chủ nghĩa xã hội, làm cải cách kinh tế, chủ trương tình hữu nghị Việt-Xô, Việt-Trung. Tinh thần của Đại hội này có lợi cho việc cải thiện quan hệ Trung-Việt.
Bắc Kinh thứ ba ngày 30.7, nắng.
Buổi chiều, tôi hội kiến với đại diện đặc biệt của Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam là Lê Duẩn và Hồng Hà. Họ yêu cầu tổ chức cuộc gặp cấp cao Trung-Việt. Tôi nói để cho nhân dân hai nước có sự chuẩn bị, để cho ASEAN và các nước khác không nảy sinh nghi ngờ, hai bên Trung-Việt cần tiến hành cuộc gặp ở các cấp thứ trưởng và bộ trưởng ngoại giao trước đã, còn về cuộc gặp cấp cao thì phía Trung Quốc cho rằng về nguyên tắc không có vấn đề gì. Ngày hôm sau Tổng bí thư Giang Trạch Dân sẽ có trả lời chính thức với họ. Về việc bình thường hóa quan hệ kinh tế Trung-Việt, nên dựa trên nguyên tắc bình đẳng và hai bên cùng có lợi, sẽ do các đối tác của hai bên bàn bạc giải quyết, Trung Quốc giữ thái độ tích cực với tất cả các lĩnh vực thương mại, bưu chính, vận tải, thanh toán ngân hàng, khôi phục lại giao thông đường bộ.
* Thực hiện bình thường hóa quan hệ Trung-Việt
Thứ ba ngày 5.11, nắng.
  Năm giờ chiều, đồng chí Giang Trạch Dân và tôi tổ chức lễ đón chính thức Tổng bí thư Đảng cộng sản Việt Nam Đỗ Mười và Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Võ Văn Kiệt tại quảng trường ở ngoài cửa phía đông Đại lễ đường nhân dân. Tiếp đó, chúng tôi đã tiến hành hội đàm. Đỗ Mười có thái độ rất rõ ràng về vấn đề Đài Loan. Đồng chí Giang Trạch Dân nói, sau khi quan hệ hai nước đã trải qua một quãng đường gập ghềnh, lãnh đạo hai nước Trung-Việt ngày hôm nay có thể ngồi cùng với nhau để tiến hành cuộc gặp cấp cao là mang ý nghĩa quan trọng. Đây là một cuộc gặp gác lại quá khứ, hướng tới tương lai, nó đánh dấu sự bình thường hóa trong quan hệ hai nước, tất sẽ có ảnh hưởng sâu xa đối với sự phát triển quan hệ hai nước. Đỗ Mười nói, bình thường hóa mối quan hệ hai nước Việt-Trung là phù hợp với nguyện vọng và lợi ích căn bản của nhân dân hai nước, đồng thời cũng giúp ích cho hòa bình và ổn định của khu vực này và thế giới. Tiếp đó, mở tiệc.
Thứ tư ngày 6.11, nắng.
Buổi chiều, tôi hội đàm với Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Việt Nam Võ Văn Kiệt, không khí rất tốt. Tôi nêu ra trước là Tổng bí thư Giang Trạch Dân và Tổng bí thư Đỗ Mười đã tiến hành hội đàm rất tốt, đã trao đổi được hết ý kiến. Về vấn đề Đài Loan, thái độ thể hiện của Võ Văn Kiệt rất tốt. Tôi điểm qua các vấn đề về nợ, biên giới, dân tị nạn… trong cuộc hội đàm. Hai bên đồng ý sau này sẽ không bàn tới nữa. Với các dự án vay vốn do phía Việt Nam đề xuất mới, tôi hứa sẽ cho khảo sát các dự án của phía Việt Nam trước. Về vấn đề Campuchia, tôi nêu rõ, thỏa thuận về giải pháp chính trị toàn diện cho vấn đề Campuchia đã được ký tại Paris, việc thực hiện thỏa thuận vẫn đòi hỏi các bên phải tiếp tục nỗ lực.
Thứ năm ngày 7.11, nắng.
  Buổi chiều, Hiệp định Thương mại Trung-Việt và Hiệp định tạm thời về việc xử lý các vấn đề biên giới giữa hai nước đã được ký kết tại Nhà khách chính phủ Điếu Ngư Đài. Các lãnh đạo đảng và chính phủ hai nước đã dự lễ ký kết, sau đó, tôi cùng đồng chí Giang Trạch Dân chia tay Đỗ Mười và Võ Văn Kiệt. Họ sẽ đi thăm Quảng Châu, Thâm Quyến…
Nguồn: Ifeng.com

Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2012

Thứ Bảy, 21 tháng 4, 2012

Có hay không tổ chức A.B ở Việt Nam trước năm 1945?


TẠP CHÍ XƯA&NAY

Có hay không tổ chức A.B ở Việt Nam trước năm 1945?

Số 401 (4 – 2012)
Mạch Quang Thắng
A.B là viết tắt tiếng Pháp Anti-bol -chévik có nghĩa là phần tử hoặc tổ chức giả danh  cộng sản chui vào hàng ngũ của đảng bônsêvích (đảng cộng sản) để phá hoại đảng cộng sản. Một vấn đề còn chưa được làm sáng tỏ trong lịch sử Việt Nam là: trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, ở Việt Nam có hay không có tổ chức A.B (“A.B đoàn”)?
Một số ý kiến cho là có. Một số ý kiến ngược lại, cho là không.
Một số ý kiến cho là có “A.B đoàn” này thì viện dẫn ý kiến của X.X.X (bút danh của Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Đông Dương Trường Chinh) đăng trên báo Cờ Giải Phóng (tờ báo của Đảng Cộng sản Đông Dương), số 9, ngày 25-12-1944. Bài báo này có tên là “Kinh nghiệm công tác làm thế nào nhận biết một phần tử là A.B”. Bài báo viết rằng, bọn đế quốc biết không thể đánh đập, tù đày, chém giết mà phá được Đảng ta, nên chúng phải dùng bọn A.B cho đeo mặt nạ vào Đảng để ngầm phá Đảng. Chúng ta phải hết sức tỉnh táo, hằng giờ, hằng phút kiểm tra hàng ngũ để tìm ra bọn A.B đặng kịp thời đối phó. Bọn A.B thường có những tư cách hay hành động như dưới đây:
a) Hay tò mò, hay điều tra người này để biết người kia, hay bóc thư trộm.
b) Hay ăn mặc xa xỉ, tiêu hoang và thường có nhiều tiền tiêu.
c) Hay đi lại bất thường khó kiểm soát nổi.
d) Hay giao dịch với những người tung tích mờ ám hoặc đáng ngờ.
đ) Hay thả tin vịt để tâng bốc lực lượng đế quốc, gieo sợ sệt trong hàng ngũ Đảng.
e) Hay đặt chuyện để gièm pha các đồng chí tốt và làm mất tín nhiệm các đồng chí ấy.
g) Hay ngửa tay hứng lấy những việc mạo hiểm để gây tín nhiệm và có khi làm được những việc kỳ quái mà người khác không làm nổi” (1) . Ngày 27-6-1945, trong cao trào đấu tranh giành chính quyền, Ban Thường vụ Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương gửi thư cho các đồng chí ở Trung kỳ. Bức thư có đoạn:
“Mấy năm nay trong khi phần đông các chiến sĩ trung thực bị nhốt trong lao thì một bọn mạo danh cộng  sản,  gia nhập “A.B đoàn”, đeo chiêu bài cựu chính trị phạm mà lừa dân, phá Đảng. Những vụ khủng bố hàng trăm, có khi hàng nghìn người, những vụ bắt bớ các đồng chí phụ trách quan trọng không những đã chứng tỏ thủ đoạn dã man cực điểm của đế quốc, còn chỉ rõ tội ác của bọn A.B nữa!
Đảng bộ Trung Kỳ vì sao mà ốm yếu, vì sao mà rời rã? Chính vì bọn A.B. Nhiệm vụ trước mắt của các đồng chí Trung kỳ lúc này là phải cải tổ các tổ chức của Đảng từ trên đến dưới, định rõ tội trạng của bọn A.B từng nơi, tẩy trừ những phần tử khả nghi, cơ hội,  bè phái, không trung thành ra khỏi hàng ngũ Đảng…”(2).
Từ các văn bản “gốc” này mà sinh ra nhiều nhận định của các cuốn sách lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam viết về sau này. Một số cuốn sách đó cho rằng, các thời kỳ vận động cách mạng 1930-1945 của Đảng (Đảng Cộng sản Việt Nam, Đảng Cộng sản Đông Dương), đặc biệt là ở các giai đoạn 1936-1939, 1939-1945, ở Việt Nam đã tồn tại “A.B đoàn”, và đương nhiên đã có tổ chức thì có những phần tử A.B.
Sau đây, xin dẫn ra một số cuốn sách có nhận định trên:
Cuốn Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Sơ thảo, tập I,  1920-1954 do Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng Trung ương (sau là Viện Lịch sử Đảng thuộc Viện Nghiên cứu chủ nghĩa  Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh) biên soạn dưới sự chủ trì của GS. Nguyễn Văn  Phùng (Nxb Sự thật, Hà Nội, 1982), ở các trang 353-354 có đoạn viết: Trong việc xây dựng và củng cố tổ chức Đảng, Đảng thường xuyên quan tâm đến việc xiết chặt hàng ngũ, tăng cường sự đoàn kết thống nhất của toàn Đảng trên cơ sở đường lối đúng đắn, thanh toán triệt để những khuynh hướng chia rẽ, bè phái trong Đảng. Chủ trương tăng  cường đoàn kết thống nhất trong Đảng được gắn liền với chủ trương không ngừng nâng cao cảnh giác, ngăn ngừa bọn A.B. chui vào Đảng để phá Đảng từ trong phá ra. Năm 1941, ở miền Bắc, Đảng đã kịp thời  khám phá vụ tên Công âm mưu lôi kéo một vài đồng chí bất mãn trong Xứ ủy Bắc kỳ hòng chống lại Trung ương, gây bè phái trong Đảng. Ở miền Trung, Đảng cũng khám phá được bọn A.B. do tên Đinh Văn Di cầm đầu, chui vào Đảng và hoạt động phá hoại, chia rẽ một thời gian dài, gây cho Đảng nhiều thiệt hại nghiêm trọng”.
Cuốn Lịch sử Cách mạng tháng Tám năm 1945 (Nxb CTQG, HN, 1995) do Viện Lịch sử Đảng thuộc Viện Nghiên cứu chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh viết, ở trang 41-42, sau khi nêu lên cao trào cứu nước ở các địa phương trong  những năm tiến tới khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945, có nêu: “Song sự vươn lên của phong trào đã làm cho địch chú ý đánh phá ngày càng dữ dội hơn. Bọn A.B cũng ra sức  hoạt động, gây cho phong trào nhiều tổn thất, nội bộ lãnh đạo thiếu thống  nhất, nghi  ngờ  lẫn  nhau. Hầu hết cán bộ của Xứ và Tỉnh ủy QuảngNam bị bắt, nhiều cơ sở bị vỡ. Xứ ủy Trung kỳ vừa được khôi phục, hoạt động được hơn nửa năm thì bị vỡ. Đây là một khó khăn lớn đối với việc xây dựng phong trào cách mạng ở các tỉnh Trung kỳ”.
Một điều chắc chắn là rất nhiều cuốn sách lịch sử đảng bộ của địa phương (chủ yếu là tỉnh) đều có nhận định tương tự, nghĩa là đều nêu có tổ chức và phần tử A.B phá hoại trong giai đoạn đấu tranh giành chính quyền. Xin nêu điển hình là cuốn  Lịch sử Đảng bộ Nghệ An, tập I (1930-1954) do BCH Đảng bộ ĐCSVN tỉnh Nghệ An biên soạn (Nxb CTQG, HN, 1998), ở các trang 148-149 có đoạn viết: Trong thời gian sau Hội nghị Trung ương Đảng tháng 5-1941, “trước thủ đoạn thâm độc của mật thám Pháp, một số ít đảng  viên, cán bộ đã có biểu hiện hoang mang dao động, cầu an, trong đó có kẻ phản bội, tiếp  tay cho địch phá hoại tổ chức đảng và phong trào cách mạng. Tình hình trên không chỉ riêng ở Nghệ An mà trong toàn quốc, nhiều nơi phong trào cách mạng cũng bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Ngày 26-8-1943, báo Cờ Giải Phóng đăng bài Đừng mắc mưu địch của Tân Trào (Trường Chinh) (3). Bài báo vạch trần âm mưu, thủ đoạn phá hoại tinh vi, thâm độc của địch. Chúng đã “tìm hết cách gieo mối hoài nghi, chia rẽ trong hàng ngũ cách mạng”; đồng thời nhắc nhở các cấp bộ đảng phải tăng cường cảnh giác, kịp thời phát hiện và chống lại những thủ đoạn của địch: “…Phải kịp thời nhận rõ bọn khiêu khích đeo mặt nạ len vào Đảng, phải tích cực đấu tranh chống bọn A.B, nhưng phải phân biệt chân giả, đừng mắc mưu gian của lũ phát xít mà để cho hoài nghi chủ nghĩa giam hãm cõi lòng”.
Những nhận định trên còn có mặt trong các cuốn sách giáo khoa, giáo trình dùng cho nhà trường, như cuốn giáo trình Lịch sử Đảng Cộng sản ViệtNam, tập I của Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp biên soạn (Nxb Đại học và giáo dục chuyên nghiệp, Hà Nội, 1988).
Cũng như cuốn giáo trình Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam (Nxb CTQG, HN, 2001), do 13 người biên soạn với 8 cộng tác viên đặt dưới sự chỉ đạo của Hội đồng Trung ương chỉ đạo biên soạn giáo trình quốc gia các bộ môn khoa học Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.
Tôi cho rằng, cho đến thời điểm hiện nay, chưa có chứng cớ nào chắc  chắn chứng minh rằng, ở Việt Nam trong thời  kỳ trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945 có tổ chức A.B (“A.B đoàn”) và các phần tử A.B.
Nhận định này của tôi dựa trên những lập luận sau đây:
Trong thực tế lịch sử ĐCSVN từ khi thành lập đến nay, chưa bao giờ Đảng thực sự phát hiện được tổ chức A.B. Bởi vì một lý do đơn giản là tổ chức này không tồn tại trên thực tế. Trong từ điển tiếng Nga, tiếng Pháp và cả trong từ điển bách khoa, không hề có những từ này.
Nếu có tổ chức A.B, thì mô tả tổ chức này (hoặc thường được gọi trong nhiều tài liệu là  “A.B  đoàn”) cụ thể thế nào? Nghĩa là tổ chức này hình thù ra sao, được cấu tạo như thế nào, ra đời ở đâu, chân rết như thế nào, ai cầm đầu, lực lượng bố trí ra sao, có bao  nhiêu  người? Trong các tài liệu, sách, thậm chí trong cả các tài liệu lưu trữ, tài liệu của mật thám Pháp thời kỳ trước năm 1945, không hề có một dòng nào mô tả về tổ chức này.
Các cuốn sách “chính sử” (tôi tạm gọi như thế) đã viết nhiều, đã có tính khẳng định là ở Việt Nam trong các giai đoạn đấu tranh giành chính quyền, có tổ chức và các phần tử A.B. Tôi cho rằng, sở dĩ như vậy là căn cứ vào các bài báo của đồng chí Tổng Bí thư Trường Chinh cuối năm 1944 cũng như bức thư của Ban Thường vụ Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương ngày 27-6-1945 gửi các đồng chí Trung kỳ.  Rồi từ đó là những  chuỗi viết theo, cuốn sau viết theo cuốn  trước mà chưa đưa ra một chứng cứ nào xác đáng để chứng minh tổ chức A.B là có thật ở Việt Nam trong những năm đó.
Những năm 70 của thế kỷ XX, trong quá trình nghiên cứu và biên soạn lịch sử Đảng bộ  tỉnh Nghệ An, một số cán bộ ở Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng thuộc Tỉnh ủy Nghệ An đã tiến hành xác minh bài báo của đồng chí Tân Trào (Trường Chinh) đăng trên báo Cờ Giải Phóng , khi ra Hà Nội có hỏi đồng chí Trường Chinh về bài báo có nội dung đề cập tổ chức A.B, thì đồng chí Trường Chinh nói rằng: “Lúc đó, có đồng chí ở Trung kỳ ra phản  ánh tình hình, trên cơ sở đó tôi viết bài báo này để nhắc nhở chung, nhưng không có điều kiện để thẩm tra xác minh sự việc cụ thể” (4). Trong các văn kiện Đảng, trừ Thư của Ban Thường vụ Trung ương ĐCSĐD gửi các đồng chí Trung kỳ ngày 27-6-1945, còn lại thì không thấy bất kỳ một tài liệu chính thức nào nữa đề cập tổ chức A.B. Đặc biệt, tại Hội nghị Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương tháng 11 năm 1939 trong bối cảnh thực dân Pháp đang khủng bố mạnh sau một thời gian Đảng hoạt động công khai, bán công khai, và trong thời kỳ bắt đầu chuyển hướng chỉ đạo chiến lược, tập trung vào nhiệm vụ giải phóng dân tộc, cũng không thấy đề cập tổ chức A.B mà chỉ lưu ý đến việc chống  sự  khiêu  khích của mật thám. Cả hai Hội nghị Trung ương ĐCSĐD sau đó (Hội  nghị cuối năm 1940 tại Bắc Ninh và Hội nghị do Nguyễn Ái Quốc chủ trì tháng 5-1941 tại Pác Bó (Cao Bằng) cũng không nói đến tổ chức A.B.
Trong Nghị quyết Hội nghị Trung ương ĐCSĐD tháng 11-1939, có đoạn viết: “Phải chú ý chống nạn khiêu khích mật thám: Nói đến sự củng cố nội bộ không thể không nói đến sự tranh đấu chống nạn khiêu khích mật thám. Sự khiêu khích mật thám là một hình thức tranh đấu của Chính phủ, của giai cấp thống trị chống với Đảng cách mệnh, các phong trào cách mệnh. Giai cấp thống trị hàng giờ hàng phút dùng hình thức tranh đấu khốn nạn ấy để phá phong trào cách mệnh. Sự thờ ơ sao nhãng của Đảng ta chống bọn khiêu khích mật thám đã đưa lại cho Đảng nhiều đau đớn [...]. Trong khi đi lại với các cơ quan phải cẩn thận, phải có cách viết, cách giao thông bí mật, các đồng chí có công việc liên lạc với nhau chỉ nói cho nhau biết những điều cần phải biết để làm việc chứ không thể nói những điều có thể nói cho nhau biết được, cái căn bản chống nạn khiêu khích mật thám là vấn đề củng cố các tổ chức và biết phân công và củ soát công việc” (5).
Việc xác định có hay không Có tổ chức A.B liên quan đến sự kiện, mà cụ thể ở đây là có hai nhân vật trong các công trình nghiên cứu cho là người của A.B đoàn: năm 1941 ở Bắc kỳ có người tên là Công, thời kỳ 1936-1939 ở Trung kỳ có Đinh Văn Di.
Thực ra, hai người này không phải là những phần tử A.B. Họ không phải là thành viên của tổ chức không có trên thực tế. Điều đáng nói là, ngoài sách và bài tạp chí đã công bố khẳng định có tổ chức A.B  ra, còn có một số tác phẩm văn học nghệ thuật cũng dựa vào đó để hư cấu, cho  à có phần tử A.B trong tổ chức A.B. Theo hồi ký của đồng chí Nguyễn Đức Dương đã nêu trên đây, thì có cuốn  “Những  mẩu chuyện trong tù” của tác giả  N.T.  (Nxb Tác phẩm mới, Hà Nội, 1981). Ngoài ra còn có vở kịch với tên là “Đêm dài” của tác giả H.P. (6) phát trên “Sân khấu truyền thanh” Đài Tiếng  nói ViệtNamtối thứ Bảy ngày 24-8-1985.
Ông Nguyễn Đức Dương  – người hoạt động cùng thời với ông  Đinh Văn Di (mà có một số người cho ông Đinh Văn Di là phần tử A.B)  –  khẳng định rằng, trong lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam không hề có tổ chức A.B. Ông Lê Duẩn – người mà ngay những năm 1938-1939 đã nghi ngờ có sự phản bội của một số đảng viên cộng sản Trung kỳ thời kỳ 1936-1939 – cũng không khẳng định có tổ chức A.B. Trường Chinh, Tổng Bí thư Đảng thời kỳ từ năm 1940 và là người viết một số bài đăng trên báo Cờ giải phóng có đề cập tổ  chức A.B thì sau này, những năm 70 của thế kỷ XX, có nói lại rằng, thời kỳ đó chỉ nghe một người ở Trung Kỳ ra báo cáo rồi viết thế chứ chưa có điều kiện xác minh lại có đúng là có tổ chức A.B haykhông.Tôi cho rằng, đã đến lúc các nhà sử học Việt Nam cần thiết đính chính sự kiện này trong các tác phẩm lịch sử của Việt Nam. Dẫu biết rằng làm việc này không  đơn giản; để xóa đi “lối mòn” đã trở thành định kiến trong không ít nhà khoa học nghiên cứu lịch sử Đảng Cộng sản ViệtNam, thì đúng vậy, quả thực không đơn giản. Song, như vậy không có nghĩa không làm. Như thế, đủ biết rằng, trách nhiệm của những  người nghiên cứu khoa học lịch sử nước nhà lớn lắm thay.
 
CHÚ THÍCH:
1. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, T.7 (1940-1945), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr.516-517. 
2. Như trên, tr.401-402.
3. Một số cuốn sách khác cũng có đề cập bài báo của Tân Trào (bút danh của đồng chí Trường Chinh) Đừng mắc mưu địch đăng trên báo Cờ Giải Phóng  ngày 26-8-1943. Nhưng, trong Văn kiện Đảng toàn tập, tập 7 (1940-1945), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, ở phần Phụ lục có đăng một số bài của đồng chí Trường Chinh trong báo Cờ Giải Phóng, nhưng rất tiếc/rất lạ là lại không thấy đăng lại bài báo Đừng mắc mưu địch.
4. Theo hồi ký của đồng chí Nguyễn Đức Dương, nguyên Bí thư Tỉnh ủy Nghệ An từ tháng 4-1938 đến tháng 3-1939. Đoạn ghi lại lời nói trên đây của đồng chí Trường Chinh  là do đồng chí Nguyễn Đức Dương viết lại theo báo cáo của đồng chí Nguyễn Đình Triển, nguyên Trưởng Ban Nghiên cứu lịch sử Đảng Tỉnh ủy Nghệ Tĩnh trong một Hội  nghị về lịch sử Đảng bộ Nghệ Tĩnh họp tại Hà Nội từ ngày 21-11-1984 đến ngày  25-11-1984. Tôi xin tạm sử dụng tài liệu thứ cấp này. Khi nào có điều kiện, tôi sẽ xác minh lại cho chính xác hơn. Hồi ký của đồng chí Nguyễn Đức Dương hiện lưu tại Viện Lịch sử Đảng thuộc Học viện Chính trị – Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh.
5. Đảng Cộng sản ViệtNam: Văn kiện Đảng toàn tập, tập 6, 1936-1939 Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,  2005tr.564-565.
6. Có thể là nhà viết kịch Học Phi, cũng là một nhà cách mạng lão thành (B.T.).

Thứ Năm, 26 tháng 1, 2012

Học giả Nguyễn Kiến Giang


Học giả Nguyễn Kiến Giang

Nguyễn Thanh Giang
Có lẽ Nguyễn Kiến Giang là một trong những người đầu tiên nêu yêu cầu bỏ điều 4 của Hiến pháp nước ta. Trong bài phát biểu tại Hội thảo do Câu lạc bộ Liên hiệp các hội Khoa học Kỹ thuật Việt Nam tổ chức ngày 20 tháng 2 năm 1990 và sau đó đăng trên tạp chí Khoa học và Tổ quốc dưới tiêu đề “Bàn về sự lãnh đạo của Đảng” ông đã nêu mấy kiến nghị:
  • Xóa bỏ điều 4 trong Hiến pháp qui định về mặt pháp lý vai trò lãnh đạo của Đảng trong xã hội, để cho các tổ chức Đảng và đảng viên không thể dựa vào ưu thế pháp lý của mình trong sự lãnh đạo, và sự lãnh đạo của Đảng chỉ dựa vào phương pháp thuyết phục. Tất cả các nghị quyết, chỉ thị của Đảng không mang tính chất bắt buộc đối với các công dân về mặt pháp lý (trừ những trường hợp đã biến thành luật);
  • Đảng không độc chiếm các cơ quan dân cử, các cơ quan lãnh đạo và quản lý xã hội; chỉ dành một tỉ lệ không quá 50% thành phần các cơ quan này cho đảng viên, như vậy sẽ tập hợp được những người ngoài Đảng ưu tú vào công việc quản lý đất nước;
  • Ban lãnh đạo các cấp, kể cả trung ương, tiến hành những cuộc đối thoại bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau với những người tiêu biểu cho các xu hướng khác nhau trong xã hội, cả với những người có ý kiến ngược với ý kiến của Đảng, không định kiến, không trù dập;
  • Tiến hành những cuộc tranh luận công khai trên báo chí về các vấn đề quốc kế dân sinh, không hạn chế tự do tư tưởng, chỉ với điều kiện không trái với hiến pháp và luật pháp được xây dựng thật sự dân chủ;
  • Các cơ quan thuộc bộ máy Đảng không được trực tiếp chỉ huy điều hành những cơ quan, những tổ chức không thuộc hệ thống tổ chức của Đảng (cụ thể: ban tuyên huấn không trực tiếp chỉ huy báo chí, ban tổ chức không được trực tiếp quyết định công việc nhân sự…).
  • Cuối cùng, giải quyết tất cả những vụ án oan về tư tưởng và chính trị trước đây, sòng phẳng với những sai lầm của Đảng trong quá khứ; thật sự khôi phục đầy đủ các quyền công dân cho người bị oan ức; thực hiện hòa hợp dân tộc một cách chân thành.
Ông giải thích lý do kiến nghị là để giải quyết tệ trạng: “Từ chỗ là một sự lựa chọn lịch sử khách quan, sự độc quyền lãnh đạo của Đảng dần dần được hiểu và được thực hiện thành sự thống trị tuyệt đối của Đảng trong mọi lĩnh vực đời sống xã hội, có khi cả đời sống cá nhân, thành ‘Đảng trị’ (partocratie), Đảng biến thành ‘Đảng – Nhà nước’, thành một thứ ‘siêu nhà nước’, có toàn quyền quyết định tất cả, từ những chủ trương lớn đến những biện pháp thực hiện nhỏ, và mọi người dân chỉ được phép nghĩ theo, nói theo và làm theo những quyết định của Đảng, có khi chỉ là của một cấp lãnh đạo, thậm chí của một cá nhân lãnh đạo nào đó. Mọi ý kiến khác với ý kiến những người lãnh đạo của Đảng bị coi là chống Đảng, mà chống Đảng cũng có nghĩa là chống Nhà nước, chống chế độ, chống cách mạng. Cho đến khi Đảng nhận ra được những sai lầm của mình (triệt để hay không triệt để) thì xã hội đã gánh chịu những hậu quả cay đắng, chưa nói tới một số người phải chịu đựng sự trừng phạt trái pháp luật mà đến nay vẫn chưa giũ bỏ được hết số phận oan trái của mình.”
Kết quả của việc đăng kiến nghị này là tạp chí Khoa học và Tổ quốc bị đình bản và tổng biên tập Phạm Quế Dương suýt bị khởi tố.
Nguyễn Kiến Giang sinh ngày 22-1-1931 tại một làng quê Quảng Bình bên con sông Kiến Giang. Ông tham gia Mặt trận Việt Minh rất sớm và năm 1945 đã trở thành đảng viên cộng sản khi mới 14 tuổi. Năm 1947 ông được cử vào huyện ủy rồi được điều lên công tác ỏ tỉnh ủy Quảng Bình (1945-1955). Năm 1956 ông được chuyển về công tác tại Hà Nội và đã từng được đề bạt làm Phó Giám đốc Nhà xuất bản Sự Thật. Năm 1962 ông được cử đi học Trường Đảng cao cấp tại Liên Xô. Khi Trung ương Đảng ra Nghị quyết 9 chống chủ nghĩa xét lại thì tất cả anh em trong khóa học của ông đều bị gọi về nước. Từ 1964-1967 ông bị đưa đi “công tác thực tế” tại Quảng Bình và Thái Bình; sau đó bị tống giam cho đến 1973. Ra khỏi tù, ông vẫn bị đưa đi quản chế tại Thanh Ba, Vĩnh Phú cho đến năm 1976. Ông tâm sự: “Cho đến bây giờ tôi cũng không biết là tôi có tội gì nữa cơ. Nghe người ta bảo là tôi phản động, tay sai nước ngoài, thì cũng nghe nói thế thôi, chứ còn trên thực tế từ giam ở xà lim mấy năm, và mấy năm quản chế, khoảng gần 10 năm. Khi tôi trở về Hà Nội với tư cách là một người công dân thì tôi cũng không biết là tôi có tội gì. Cho tới nay cũng không ai nói với tôi là tôi có tội gì nữa.”
Từ tháng 9-1976 được về với gia đình tại Hà Nội sống như một người ngoài lề xã hội, ông ngồi dịch và viết sách báo dưới nhiều bút hiệu khác như Lương Dân, Lê Diên, Lê Minh Tuệ…
Sách đã viết gồm có: Phác qua tình hình ruộng đất và đời sống nông dân trước Cách mạng Tháng Tám (1959), Việt Nam năm đầu tiên sau Cách mạng Tháng Tám (1961), Việt Nam – Khủng hoảng và lối raTuyển tập Nguyễn Kiến Giang (1993).
Cùng viết với Nguyễn Khắc Viện có: Liên Xô 70 năm trên đường khai phá (1987), Cách mạng 1789 và chúng ta (1989).
Những bài viết của Nguyễn Kiến Giang trong thập niên 90 đã đăng rải rác trên báo chí trong ngoài nước hoặc tán phát chuyền tay được talawas gom thành một tập hợp mang tên “Suy tư 90”. Trong tập hợp này có nhiều bài giá trị như: “Đi tìm cách tiếp cận bản tính gốc người Việt”, “Một cuộc chiến chống lại phi lý tính”, “Nên đặt vấn đề Nho giáo như thế nào?”, “Khủng hoảng và lối ra”, “Thử dò tìm một cách tiếp cận mới đối với thế giới hiện đại”, “Một quan niệm về hiện đại hóa ở Việt Nam”, “Đời sống tâm linh và ý thức tôn giáo”, “Từ Duy tân đến Đổi mới”, “Nhìn nhận thực trạng văn hóa Việt Nam hiện nay”, “Công bằng xã hội và kinh tế”, “Nhìn lại quá trình du nhập chủ nghĩa Mác-Lênin vào Việt Nam”.
Bàn về nguồn gốc bản sắc văn hóa Việt Nam ngoài các học giả thường quy nạp vào nền văn minh trồng trọt và trồng lúa nước để phân biệt với nền văn minh chăn nuôi, du mục; có người nhấn mạnh tới tính chất sửa vặt (bricolage) của văn hóa Việt Nam, Nguyễn Kiến Giang thì chứng minh rằng: “văn hóa Việt Nam là một hệ thống mở trong hàng nghìn năm tồn tại của tộc người Việt. Nó là một hệ thống có nhiều cơ tầng có liên quan tới những đợt tiếp xúc với những nền văn hóa bên ngoài (cũng tương tự như tiếng Việt gồm nhiều cơ tầng khác nhau mà các nhà ngôn ngữ học đã tìm thấy). Với những cơ tầng hình thành nối tiếp nhau trong lịch sử như vậy, rõ ràng người Việt chúng ta đã tiếp nhận (như một cái phễu ngày càng rộng miệng) rất nhiều nguồn văn hóa khác nhau trong lịch sử (Trung Quốc, Ấn Độ, Chiêm Thành, Pháp, Nhật Bản, Liên Xô, Mỹ…)… Nhưng vẫn có một cái gì đó làm cho văn hóa của chúng ta trở thành của chính chúng ta mà không trộn lẫn với bất cứ một thứ văn hóa nào khác. Cái gì đó, theo tôi nghĩ, có lẽ là một bộ lọc. Bộ lọc này gồm ba yếu tố là ứng xử, ngôn ngữ và tâm thức, ba yếu tố này quyện chặt với nhau đến mức không thể tách riêng từng yếu tố, nói cho đúng, tuy ba mà một (cũng có thể gọi là tam vị nhất thể (trinité) như ở một số tôn giáo, nhưng ở đây không có “ba ngôi” theo thứ bậc, mà là cùng tồn tại và hòa vào nhau).”[1]
Ông có ý “chê”: “Óc khái quát chưa bao giờ là mặt mạnh của người Việt cả. Những đỉnh cao trí tuệ và tâm linh, in đậm sức sáng tạo và tính độc đáo, gần như rất hiếm hoi, có lẽ chỉ trừ lĩnh vực y học và đánh giặc, hai lĩnh vực có liên quan trực tiếp đến sống chết của con người. Năng lực tư duy của người Việt quá kém cỏi chăng? Tôi không muốn nghĩ như vậy, vì trong lịch sử, thời nào cũng có những trang tài giỏi mà năng lực tư duy không kém ai. Nhưng chính họ cũng không đẩy được những kết quả tư duy của mình lên thành học thuyết, thành hệ thống có tính phổ quát, mà nói chung, chỉ dừng lại ở trình độ vận dụng như ta nói hiện nay, dù là vận dụng sáng tạo hay vận dụng tuyệt vời đi nữa.”[2] Ông giải thích điều này là do: “Chưa kịp xây dựng những hệ thống tư tưởng riêng của mình, thì người Việt đã có sẵn những câu giải đáp về đời sống tâm linh và hiện hữu của con người nằm sẵn trong những tôn giáo và triết thuyết của hai nền văn minh khổng lồ ấy. Từ Trung Quốc truyền sang (có kèm theo những đạo quân xâm lược hay không) nhiều học thuyết khác nhau, chủ yếu là Khổng giáo và Đạo giáo. Phật giáo thì từ Ấn Độ truyền sang bằng những con đường khác nhau, trực tiếp hay gián tiếp, với sức thuyết phục của nó là chính… Ảnh hưởng của những tư tưởng Trung Quốc và Ấn Độ giống như hai bóng cây khổng lồ trùm phủ lên mảnh đất nước ta ngày xưa, khiến cho mọi thứ cây tư tưởng của người Việt bị cớm nắng. Tình trạng này đưa tới một hệ quả nặng nề: dựa dẫm vào những tư tưởng bên ngoài, và như vậy trong gần hai nghìn năm. Sức sáng tạo tư tưởng bị còi cọc: lối suy nghĩ giáo điều, sao chép và học thuộc lòng sách vở nước ngoài trở thành một tâm thức quá quen thuộc, như một thứ thuộc tính khó dứt bỏ.”[3] Ông bình luận: “người Việt ngày xưa lấy Khổng giáo làm hệ tư tưởng chính thống, tạo ra tâm thức phục tùng chính thống gần như vô điều kiện… Tâm thức này có mặt tốt: những lúc đất nước đứng trước nguy cơ lớn đối với sự tồn tại của nó, một hệ tư tưởng chính thống là cần thiết để có thể tập hợp tất cả những sức mạnh của dân tộc thành một sức mạnh thống nhất có sức chiến đấu cao. Nhưng chính tâm thức này đã cản trở không ít những sức mạnh sáng tạo về tư tưởng. Mọi sáng tạo tư tưởng ít nhiều đều không ăn khớp, thậm chí ngược lại với hệ tư tưởng chính thống. Nếu duy trì hệ tư tưởng chính thống như cái gì duy nhất đúng, thì xin dùng lại hình ảnh trên đây, sẽ tạo ra một thứ bóng cây trùm phủ lên tất cả và mọi tư tưởng sáng tạo chắc chắn bị cớm. Phải chăng trong hoàn cảnh nước ta hiện nay, khi phải tìm kiếm những con đường, những phương pháp để hiện đại hóa, sự thống nhất về tư tưởng là cần thiết, nhưng chỉ nên thống nhất ở những mục tiêu, còn về những con đường, những phương pháp thì nên để cho sức sáng tạo được phát triển một cách tự do, dù có những cái không theo chính thống.”[4]
Một tuần lễ sau ngày chiếc máy bay của bọn khủng bố đâm sập hai tòa nhà chọc trời của Trung tâm Thương mại Thế giới ở New York, cũng như cộng đồng nhân loại, Nguyễn Kiến Giang thảng thốt kêu lên: “Loài người chưa tận thế, tôi tin như vậy, nhưng sẽ sống với những thời khắc, thời điểm, thời đại không dễ gì minh định được. Bằng những bước dò dẫm và khủng khiếp này, loài người – một sinh vật có lý trí duy nhất được biết cho đến nay – đang đi vào một cuộc tự sát chăng? Những vũ khí hạt nhân đã có và đang có trong tay một số quốc gia trước đây và hiện nay, dù sao cũng không gây ra những cảm giác hãi hùng như những vũ khí thông thường trong tay một nhóm người cảm tử bước vào cái chết một cách không phải dửng dưng mà với một đam mê lớn nhất trong đời họ: lên thiên đàng.”[5] Ông bầy tỏ: “Tiêu diệt chủ nghĩa khủng bố là mệnh lệnh cấp bách của nền văn minh loài người”, “tôi hoàn toàn ủng hộ mọi hành động không chỉ của Mỹ mà của bất cứ lực lượng nào trừ diệt được những tay thủ lĩnh khủng bố nguy hiểm như kiểu Bin Laden. Ðó là những ổ ung thư trên cơ thể cộng đồng loài người, mà để nó lan rộng, di căn thì cơ thể này không thể tồn tại bình thường được.”[6]
Tuy nhiên, nhận thức rằng chủ nghĩa khủng bố là sự kết hợp của 3 yếu tố: cuồng tín tôn giáo + vũ khí hiện đại + tổ chức toàn cầu, cho nên ông khẳng định không thể có cuộc tấn công trả đũa ồ ạt nào có thể diệt trừ sạch sanh chủ nghĩa khủng bố.
Ông đi tìm nguyên nhân sâu xa của chủ nghĩa khủng bố và từ nỗi xót đau hơn cả nỗi xót đau trước cái tang gần chục ngàn người chết, ông lên án: “Phương Tây nói chung và Hoa Kỳ nói riêng không làm bất cứ một điều gì cần thiết để lấp sự ngăn cách  giữa hai thế giới cả. Họ vẫn tiếp tục đường lối đào sâu hố ngăn cách khi từ chối những trách nhiệm của mình đối với sự nghèo khổ và lạc hậu ở nhiều nước Á, Phi và Mỹ Latin.”[7] Bằng cái tâm nhân ái và cái tầm thấu đáo của mình, ông đặt vấn đề: “chữ tâm phải đóng vai trò chủ yếu trong cuộc chiến tranh chống chủ nghĩa khủng bố. Đó là một sự thanh toán lịch sử công bằng, với những sự bù đắp cần thiết cho con cháu những người bị bán làm nô lệ trong thời kỳ tích lũy tư bản nguyên thủy. Đó là thái độ công bằng, không thiên vị trong cuộc xung đột giữa Israel và người Palestin. Đó là sự giúp đỡ tận tình của Hoa Kỳ và phương Tây cho những người nghèo khổ và lạc hậu để họ cùng với phương Tây bước vào nền văn minh của loài người.”[8]
Cho nên, để giải quyết thảm họa chủ nghĩa khủng bố, thay vì chỉ quan tâm lập mặt trận thế giới chống khủng bố, học giả Nguyễn Kiến Giang kêu gọi: “Còn cần phải lập Liên minh Thế giới chống nghèo khổ và lạc hậu nữa!”[9]
Đầu thập ký 90, trước hiện tượng xuất hiện những “con rồng”, “con hổ” châu Á như Nhật Bản, Nam Triều Tiên, Đài Loan, Singapore, các học giả Đại Hán khởi xướng cuộc bàn luận về tác dụng to lớn của Nho giáo đối với những thành công đáng kinh ngạc đó. Và, tuồng như có sự chỉ đạo, một số khoa học chính trị gia Việt Nam đã tích cực phụ họa. Thậm chí trong bài “Nho giáo đã thành vấn đề thế nào với nước Việt Nam hiện nay?” đăng trên báo Văn hóa và Đời sống Thành phố Hồ Chí Minh số tháng 11 năm 1992, tác giả Trần Đình Hượu còn nêu một định đề lớn: “Phải chăng cũng có thể nghĩ đến một con đường phương Đông để hiện đại hóa? Và như vậy thì nhiều hay ít – và có lẽ nhiều hơn ít – con đường đó sẽ có quan hệ với Nho giáo”.
Điều trớ trêu là, trong khi vào đầu thế kỷ 20, chống lại thuyết của nhà xã hội học Đức Max Weber gắn công sinh thành chủ nghĩa tư bản Tây Âu với đạo Tin lành, Marx quy bước tiến lịch sử này vào mối quan hệ chặt chẽ với các quá trình kinh tế thì các nhà nghiên cứu cộng sản Trung Quốc và Việt Nam ngày nay lại bỏ Marx để theo hướng Max Weber.
Trước “sự cố” này, Nguyễn Kiến Giang đã đi tiên phong phát động cuộc đấu tranh tư tưởng-văn hóa qua vấn đề đang được nêu ra. Ông viết: “phải chăng các nước Ðông Á đã thành công trong sự nghiệp hiện đại hóa nhờ có Nho giáo (hay Khổng giáo, để nói thật chính xác)? Tôi nghi ngờ về điểm này. Công cuộc hiện đại hóa ở Nhật Bản, chẳng hạn, bắt đầu từ thời Minh Trị Duy Tân (mà một học giả Nhật còn gọi là Cách mạng Minh Trị). Ý tưởng Duy Tân ấy và toàn bộ những biện pháp để thực hiện ý tưởng ấy đều không bắt nguồn từ Nho giáo như vốn có. Không phải ngẫu nhiên mà các nhà duy tân ở Ðông Á vào cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX đều coi Nho giáo là vật cản cần phải vượt qua để hiện đại hóa đất nước.”[10] Và ông đã kết luận bài viết của mình như sau: “Riêng tôi, tôi không tin lắm vào tác dụng có ý nghĩa quyết định của Nho giáo đối với tiến trình hiện đại hóa ở nước ta. Và càng không tin rằng Nho giáo có thể trở thành một hệ tư tưởng của con đường phát triển xã hội Việt Nam. Tôi không hề phủ nhận những giá trị tích cực, vững bền nào đó do truyền thống Nho giáo để lại trong tâm thức và văn hóa người Việt. Nhưng nói rằng Nho giáo có thể là cơ sở của con đường phát triển xã hội Việt Nam hiện nay thì tôi xin được phép không đồng ý. Vì điều đó không những không thích hợp với những điều kiện xã hội – lịch sử và cả những điều kiện trí tuệ của dân tộc ta hôm nay, mà còn có thể nguy hiểm nữa.”[11]
Tuy nhiên, tôi ngỡ ngàng khi đọc những dòng này của Nguyễn Kiến Giang: “Hiện đại hóa là một biến đổi xã hội tận gốc, xét về mặt nội dung của nó. Nhưng đây không phải là một sự nghiệp phá hoại mà là một sự nghiệp xây dựng. Vì thế nó đòi hỏi một sự ổn định xã hội, một trật tự xã hội chặt chẽ và nghiêm khắc. Không một sự nghiệp hiện đại hóa nào thành công trong bối cảnh hỗn loạn xã hội cả. Chính vì thế, khi Nho giáo cung cấp được một hệ giá trị lấy kỷ cương và phục tùng làm gốc, thì điều đó đáp ứng được một trong những yêu cầu cơ bản của hiện đại hóa.”[12]
Phải chăng gốc của kỷ cương đạo Nho là “tam cương, ngũ thường”; là “tam tòng, tứ đức”?
Ngày nay, không chỉ phụ nữ mà bất cứ ai cũng không thể chấp nhận được cái thứ kỷ cương tam tòng đối với phụ nữ (tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử).
Tam cương thì lại càng kinh dị hơn: quân xử thần tử, thần bất tử bất trung (vua khiến bầy tôi chết, không chết không trung); phụ xử tử vong, tử bất vong bất hiếu (cha khiến con chết, con không chết không hiếu), phu xướng phụ tùy (chồng nói ra, vợ phải theo).
Một gia đình mà chỉ có con phải nhất nhất nghe cha thì gia đình đó vô phúc (con hơn cha là nhà có phúc). Một đất nước mà nhân dân bị buộc phải “tuyệt đối tin tưởng ở sự lãnh đạo của Đảng” thì không thể nào khai thác triệt để trí tuệ của quần chúng, không thể ngóc đầu lên cho bằng người được, không thể tiến kịp trào lưu nhân loại được.
T. Jefferson chí lý hơn Khổng Tử khi ông nói: “Chống lại bạo chúa là vâng lời Thượng Đế” (Nghĩ rằng: Thượng Đế là hiện thân của bác ái, công lý, chân lý…)
Không ai phải nhất nhất nghe theo, tuyệt đối phục tùng ai cả. Xã hội sẽ thực sự ổn định khi mọi người đều tuân thủ luật pháp, hiến pháp và tôn trọng đạo lý.
Tôi cũng nhận thức về tôn giáo như Nguyễn Kiến Giang: “Tôi đã và vẫn không phải là tín đồ một tôn giáo nào (trong lý lịch, ở mục “theo tôn giáo nào”, tôi luôn luôn ghi chữ “không”), nhưng tôi tin vào cái thiêng liêng, tôi tin con người có đời sống tâm linh, có ý thức tôn giáo hiểu theo nghĩa hướng tới cái tuyệt đối, cái vô hạn, cái toàn năng và cái siêu việt. Không theo tôn giáo nào, nhưng lại có ý thức tôn giáo.”[13]
Cũng như Nguyễn Kiến Giang, không là tín đồ nhưng tôi thờ phụng (chỉ bằng tâm tưởng) cả Phật, cả Chúa. Tôi quý mến những tín đồ chân chính. Tôi cho rằng không thể để tôn giáo thiếu vắng trong đời sống xã hội.
Vậy mà, trên cơ sở coi tôn giáo hình thành từ sự bất lực của con người trước thiên nhiên và xã hội mà dốt nát và nghèo khổ vừa là nguyên nhân vừa là kết quả, Engels cho tôn giáo là “sự phản ảnh hoang đường những hoàn cảnh bên ngoài thống trị con người, dưới hình thức những sức mạnh siêu nhiên”. Từ điển triết học Liên Xô (1983) định nghĩa tôn giáo là “một hiện tượng bị qui định về mặt xã hội và, do đó là một hiện tượng lịch sử nhất thời”. Theo cách nhìn này, trong một thời kỳ lịch sử rất dài, con người chưa biết tới tôn giáo, vì tôn giáo chỉ xuất hiện ở một trình độ phát triển nhất định của xã hội nguyên thủy. Đến xã hội có giai cấp, sự tồn tại của tôn giáo còn gắn thêm với sự bất lực của con người trước những quá trình phát triển tự phát của xã hội trong sự bóc lột lẫn nhau và trong tình cảnh thiếu thốn. Tôn giáo, do đó, là phương tiện giải thoát bằng ảo ảnh của người nghèo khổ. Mác nói tôn giáo là “tiếng thở dài của người bị áp bức”. Chủ nghĩa cộng sản cho rằng xóa bỏ chế độ người bóc lột người sẽ chấm dứt nạn nghèo khổ của quần chúng nhân dân, từ đấy cũng đồng thời là sự kết thúc của tôn giáo.
Với những người theo chủ nghĩa duy vật, dù xem xét về mặt nhận thức luận hay về mặt xã hội học, tôn giáo chỉ là một hiện tượng nhất thời, tạm thời và nằm ở bên ngoài con người. Nó thuộc về quá khứ mà không thuộc về tương lai của con người. Nó kìm hãm sự phát triển của xã hội, mà không phải là một nhu cầu của con người. Nó đáng bị lên án, bài xích và phải bị xóa bỏ càng sớm càng tốt. Lênin từng nói: “Chúng ta phải đấu tranh chống tôn giáo. Đó là toàn bộ chủ nghĩa duy vật và, do đó, của chủ nghĩa Mác. Nhưng chủ nghĩa Mác không phải là chủ nghĩa duy vật dừng lại ở a b c. Chủ nghĩa Mác đi xa hơn. Nó nói rằng: cần phải biết đấu tranh chống tôn giáo, và để làm điều đó, cần phải giải thích một cách duy vật về nguồn gốc của lòng tin và của tôn giáo ở quần chúng.”
Nguyễn Kiến Giang nghiêng về mặt bản thể luận khi xem xét vấn đề tôn giáo, và, như một số nhà nghiên cứu, ông coi cái cốt lõi của tôn giáo là lòng tin vào một cái gì siêu nhiên. Ông cho rằng: “trong đời sống con người, không phải cái gì lý trí cũng có thể nhận biết. Cái thiêng liêng là một trong những cái không thể nhận biết bằng lý trí. Vì một khi đã nhận biết được một đối tượng thiêng liêng bằng lý trí (bằng khám phá và kiểm nghiệm khoa học), thì nó không còn là thiêng liêng nữa. Cũng có thể nói như vậy về chân, mỹ, thiện. Người ta bao giờ cũng hướng tới những cái đó, nhưng không bao giờ có thể đạt tới ở mức cuối cùng. Tất cả những gì là thiêng liêng, là cao cả bao giờ cũng vẫy gọi con người, làm cho nó luôn luôn tự vượt mình, hướng tới cái cao hơn (hướng thượng), hướng tới cái siêu việt, tới trạng thái chân hơn, mỹ hơn, thiện hơn. Xu hướng ấy của con người tạo ra một mặt cơ bản của đời sống con người: đời sống tâm linh.”[14]; “Cái thiêng liêng gắn với sự thăng hoa, với sự tự vươn lên của con người tới cái tuyệt đối, cái vô cùng, cái toàn năng, cái hoàn thiện. Những cái đó là có thể nhận thức được, tất nhiên không phải bằng lý trí, bằng khoa học, mà bằng sự cảm nhận tính toàn bộ (holisme) của vũ trụ. Chẳng hạn trong Phật giáo, con người bằng trực giác có thể ngộ cái chân như, cái chân tâm với tư cách bản thể của sự vật, mặc dầu không coi đó là cái thần bí. Trong Phật giáo, có cái thiêng liêng nhưng không có cái thần bí.”[15]
Không phải chỉ những kẻ nghèo khổ, dốt nát mới tìm đến tôn giáo, nhiều nhà khoa học vĩ đại từng là những tín đồ ngoan đạo. Mọi khám phá khoa học chỉ được thực hiện trong một phạm vi nhất định mà sự chiếm lĩnh tôn giáo là không hạn chế, nó đem lại cho con người khả năng cảm nhận vũ trụ nói chung, cùng với nguyên ủy và cứu cánh của vũ trụ (dù với sự sáng thế và tận thế của Kitô giáo hay với trạng thái “vô thủy vô chung” của Phật giáo…).
Đức Phật nói rằng thế giới là “sắc sắc không không”, có mà không, không mà có. Cái triết thuyết “vô minh” ấy chỉ có thể hiểu được khi vật lý lượng tử ra đời. Vật lý lượng tử chỉ ra rằng những hạt – sóng ánh sáng có “ý thức”. Những hạt tưởng là vật chất ấy chỉ là kết quả của sự vận động giữa các trường, mà trường lại là một phạm trù phi vật chất.
Cho nên tôi rất nể phục Nguyễn Kiến Giang khi ông đưa ra được định nghĩa này: “tôn giáo là sự chiếm lĩnh thế giới chung quanh một cách vô hạn, toàn bộ, thông qua cái thiêng liêng được đối tượng hóa hay một đối tượng được thiêng liêng hóa làm môi giới”. Đó là một sự chiếm lĩnh đặc biệt, khác với mọi sự chiếm lĩnh khác.
Bàn về sự điều tiết giữa công bằng xã hội và phát triển kinh tế là rơi vào một lĩnh vực hắc búa. Đòi hỏi kinh tế phát triển nhanh nhưng vẫn phải bảo đảm công bằng xã hội tuyệt đối là một bài toán không giải được, vì cho đến nay, hai mặt này dường như mâu thuẫn nhau đến mức khó điều hòa. Đặt công bằng xã hội lên trên hết và coi đó là mục tiêu trực tiếp phải được thực hiện dưới dạng gần như tuyệt đối, thì khó có thể bảo đảm hiệu quả kinh tế (như “chủ nghĩa xã hội hiện thực” cho thấy). Ngược lại, đặt hiệu quả kinh tế lên cao, coi đó là thước đo duy nhất của sự phát triển kinh tế, thì lại không tránh khỏi những bất công xã hội (như “chủ nghĩa tư bản tự do” cho thấy). Có điều là giữa hai cách giải quyết, cách giải quyết thứ hai thực tế đã đem lại những kết quả khách quan có lợi hơn cho xã hội nói chung và cả cho những người lao động. Nguyễn Kiến Giang đưa ra hình ảnh “Một bên chúng ta có một chiếc bánh đem chia thành những phần gần đều nhau cho mọi người, dần dà chiếc bánh ấy cứ nhỏ dần, nhỏ dần. Cho tới lúc gần như không còn gì để chia nữa, và nếu trong hoàn cảnh đó lại có những kẻ đòi phần hơn thì những người khác mất phần. Một bên khác, chúng ta có một chiếc bánh chia không đều nhau, kẻ được miếng to, người được miếng bé, nhưng do chiếc bánh to dần lên nên kẻ được miếng bánh bé chẳng những không mất phần mà còn có thể được khá hơn một chút. Rốt cuộc, chẳng có công bằng xã hội, chỉ có các cách chia khác nhau và mỗi bên bất công gần giống nhau.”[16]
Chủ nghĩa Mác do quan niệm duy vật của mình, coi sản xuất vật chất là nền tảng của tất cả các mặt đời sống xã hội, coi kinh tế là cơ sở hạ tằng của xã hội, vì thế, khi bàn tới công bằng xã hội, trước hết và gần như, chỉ bàn về công bằng xã hội trong lĩnh vực kinh tế. Từ đây, coi việc xóa bỏ chế độ tư hữu làm điều kiện tiên quyết để giải quyết công bằng xã hội.
Để gỡ nút một phần cho kinh tế phát triển, đồng thời cho công bằng xã hội, chủ nghĩa xã hội-dân chủ chủ trương: Việc xóa bỏ chế độ tư hữu không thể làm ngay một lúc, đó phải là một quá trình lâu dài, tùy thuộc vào sự phát triển kinh tế, nhất là sự phát triển của lực lượng sản xuất. Đi xa hơn, Nguyễn Kiến Giang cho rằng: “Không thể đạt tới công bằng xã hội bằng sự triệt tiêu cá nhân và những lợi ích cá nhân.”[17] Ông ủng hộ quan điểm của John Rawls – tác giả cuốnMột lý luận về sự công bằng – chủ trương: một xã hội công bằng là một xã hội xác định được những giới hạn và những bối cảnh cho các cá nhân nỗ lực hoạt động, đồng thời đem lại cho họ một nền tảng quyền hạn, một cơ hội có hiệu quả nhất.
Cho rằng nếu chỉ dừng lại ở văn minh công nghiệp thì xã hội loài người sẽ còn bế tắc khi muốn giải quyết vấn đề công bằng xã hội, Nguyễn Kiến Giang kỳ vọng vào nền văn minh hậu công nghiệp mà ở đây nền sản xuất dựa chủ yếu vào tri thúc, vào trí tuệ cá nhân chứ không phải vào sức mạnh của những phương tiện vật chất nằm trong tay các lực lượng xã hội. Ông giải thích: “Xét về mặt công bằng xã hội, ít ra tri thức có hai thuộc tính phù hợp với việc giải quyết vấn đề này. Thứ nhất, tri thức bao giờ cũng nằm ở cá nhân (dù đó là trí tuệ tập thể đi nữa, thì cũng do các cá nhân mang nó), cá nhân và năng lực của cá nhân là điểm xuất phát để tính những giải pháp kinh tế tối ưu. Thứ hai, tri thức mang bản chất dân chủ, không phải và không thể là độc quyền của bất cứ ai, và như A. Toffler, nó mang thuộc tính thật sự cách mạng ở chỗ là những người yếu kém nhất và những người nghèo khổ nhất cũng có thể chiếm lĩnh nó.”[18]
Dẫu sao, như một tiếng thở dài nhân ái, Nguyễn Kiến Giang vẫn phải thừa nhận: “Nói cho cùng, công bằng xã hội là một cái đích không bao giờ đạt tới một cách tuyệt đối cả. Cả trong tương lai xa vời, sẽ không bao giờ loài người có thể xoa tay và dõng dạc tuyên bố: “Đã có công bằng xã hội rồi! Nhưng cũng giống như sự vận động của tri thức và nhận thức trên đường đi tới nhưng chân lý không bao giờ đạt tới, công bằng xã hội chỉ có thể vận động theo hướng ngày càng ít bất công hơn mà thôi. Nghĩa là, công bằng xã hội, với tư cách một lý tưởng xã hội, vẫn cứ là một ảo tưởng, nhưng là một ảo tưởng cần thiết.[19]
Khi bàn về quá trình tìm đường đánh đuổi ngoại xâm tạo cơ hội chấn hưng đất nước Nguyễn Kiến Giang đã từng đánh giá rất cao các chí sỹ Duy Tân: “Tôi xin nói thật rằng: nếu ngày nay, giới trí thức chúng ta (lớp kẻ sĩ hiện đại) có được tầm trí tuệ và khí phách ngang với những sĩ phu Duy Tân, thì đã là điều đáng mừng lắm rồi.”[20] Ông viết: “Ngày nay chúng ta đã có tiền đề độc lập dân tộc và đang nói tới văn minh trong bối cảnh một nền văn minh khác, nhưng hệ vấn đề dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng và văn minh là sự phục hồi và sự tiếp tục của hệ vấn đề đã đặt ra đầu thế kỷ, từ thời Duy Tân. Một sự trùng lập đáng ngạc nhiên: Ngày nay từ đổi mới được dùng như tên gọi một sự nghiệp lịch sử của toàn thể dân tộc nhằm hiện đại hóa đất nước cũng là từ duy tân ở đầu thế kỷ, chỉ khác nhau ở một từ là thuần Việt còn từ kia là Hán Việt.”[21]
Tiếp nối Duy Tân, ngoài những người lúc đầu chống cộng sản quyết liệt như Huỳnh Thúc Kháng, một số thanh niên yêu nước cấp tiến ngả sang sự lựa chọn con đường cách mạng vô sản ở những mức độ khác nhau, đồng thời, vẫn truyền bá những tư tưởng của Cách mạng Pháp 1789 (tiêu biểu là Nguyễn An Ninh). Một số khác lựa chọn con đường trung gian không chống cộng cũng không theo cộng sản, đặt cách mạng quốc gia lên trên cách mạng thế giới (tức cách mạng giai cấp) như Việt Nam Quốc dân Đảng. Số còn lại từng bước hướng vào chủ nghĩa cộng sản như Hồ Tùng Mậu, Trần Hữu Độ, Trần Huy Liệu…
Trả lời câu hỏi “Ai du nhập chủ nghĩa Mác-Lênin vào Việt Nam?”, Nguyễn Kiến Giang viết: “Đúng là Nguyễn Ái Quốc là người cộng sản đầu tiên của Việt Nam (không có ai trở thành đảng viên Đảng Cộng sản từ 1920 như Nguyễn Ái Quốc cả, nếu tính tuổi đảng thì Nguyễn Ái Quốc hơn tuổi đảng của lớp cộng sản đầu tiên khoảng trên dưới 10 năm), và cũng đúng là Nguyễn Ái Quốc là người viết về chủ nghĩa cộng sản sớm nhất trên sách báo cách mạng Việt Nam (lúc đầu là trên Le Paria, trong cuốn Le procès de la colonisation francaise, sau đó là trên tờ Thanh niên và trong cuốn Đường Cách mệnh). Nhưng không phải chỉ có Nguyễn Ái Quốc làm công việc giới thiệu chủ nghĩa cộng sản vào Việt Nam trong những năm 20. Xin nêu lên vài tên tuổi đã đóng góp vào công việc này: Phan Văn Trường, Nguyễn Thế Truyền, Nguyễn An Ninh, Đào Duy Anh… Chúng ta biết Phan Văn Trường là người từng cộng tác với Nguyễn Ái Quốc và Phan Chu Trinh để khởi thảo ra Bản yêu sách Tám điều do Nguyễn Ái Quốc mang tới Hội nghị Versailles năm 1919.”[22]
Nguyễn Kiến Giang còn quả quyết: “Một số người cộng sản ngày nay nói một cách khẳng định rằng: chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản là sự lựa chọn của nhân dân Việt Nam. Đúng thế chăng? Tôi xin phép được nghi ngờ. Có lẽ không có gì rõ hơn sự lựa chọn của nhân dân Việt Nam trong thời kỳ Cách mạng Tháng Tám. Hồi đó, nhân dân lựa chọn cái gì? Lựa chọn độc lập, tự do, hạnh phúc, lựa chọn Nhà nước cộng hòa dân chủ, lựa chọn Việt Minh như một mặt trận thống nhất dân tộc thật sự với những thành viên khác nhau của nó, lựa chọn những người có đức có tài lãnh đạo quốc dân. Lựa chọn bằng những cuộc khởi nghĩa tháng Tám đầy khí thế. Lựa chọn bằng tham gia Giải phóng quân, Vệ quốc đoàn, Nam tiến… Lựa chọn bằng Tổng tuyển cử (6-1-1946) một cuộc bầu cử hoàn toàn tự do, có sự tham gia của nhiều tổ chức và cá nhân thuộc những xu hướng chính trị khác nhau. Lựa chọn bằng Hiến pháp thật sự dân chủ tháng 11-1946 do Quốc hội đầu tiên thông qua. Sự lựa chọn của người dân là như vậy. Còn sự lựa chọn chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản là sự lựa chọn của những người cộng sản, một bộ phận (dù là cách mạng nhất đi nữa thì cũng là một bộ phận) mà không phải của nhân dân nói chung, của toàn dân.”[23]
Ông thừa nhận: “Tất cả những người lựa chọn chủ nghĩa cộng sản đều nung nấu tinh thần yêu nước mạnh mẽ. Việc lựa chọn chủ nghĩa này trong phần lớn các trường hợp là do nhìn thấy nó đem lại những sức mạnh mới từ trong nước và trên thế giới có thể giúp giải phóng dân tộc một cách có hiệu quả hơn. Nói cách mạng vô sản nhưng chủ nghĩa yêu nước vẫn là một nền tảng tư tưởng của tất cả những người cộng sản.”[24]
Nhưng đến nay, ông cho rằng: “Cuộc sống đã chứng minh khá đầy đủ rằng chủ nghĩa Mác-Lênin đã thuộc về quá khứ (một quá khứ thật oanh liệt, đầy những hào hùng và những bi kịch), mà không thuộc về hiện tại, lại càng không thuộc về tương lai. Ở một mức độ nào đó, số phận của nó cũng giống như số phận của Nho giáo ngày xưa.”[25]
Nguyễn Kiến Giang không phủ định sạch trơn, không phỉ báng chủ nghĩa Mác. Ông tâm sự trong bài trả lời phỏng vấn BBC ngày 1 tháng 2 năm 2004: “Trước đây tôi để chủ nghĩa Mác-Lênin lên đầu và coi là giá trị lớn nhất, giá trị cao nhất của tư tưởng loài người và tôi bị cái vòng kim cô của chủ nghĩa Mác-Lênin xiết chặt đầu tôi lại. Bây giờ tôi làm một việc khác, tức là tôi đặt bàn thờ chủ nghĩa Mác Lênin sang một bên, chứ không đặt lên đầu tôi nữa, tức là ngang với những nhà tư tưởng lớn của loài người như Rousseau, Robespierre, Montesquieu v.v. Tôi coi mỗi nhà tư tưởng đều có đóng góp của mình vào trong tiến triển của tư tưởng loài người cả.”
Trở thành đảng viên cộng sản ở tuổi 15, từng đảm lãnh trách nhiệm phó giám đốc một cơ quan chuyên xuất bản sách Mác-Lênin, Nguyễn Kiến Giang đã từng vật vã quằn quại: “khi tôi viết xong để mình từ giã chủ nghĩa xã hội khoa học thì gần như không ăn. Uống thì có nhưng gần như không ăn, vì nó mệt quá… Bởi vì đây là một niềm tin, một cái gì đó rất thiêng liêng, mà tự mình phải lột bỏ đi. Cái đó là một sự đau đớn ghê gớm.”
*
Viết xong bài này, tôi gọi điện thoại định đến xin ý kiến Nguyễn Kiến Giang nhưng người nhà bảo ông đã vào Sài Gòn tránh rét và dưỡng bệnh.
Cách đây hơn một năm, tiễn tôi ra cửa, ông nắm tay rất lâu và như nén xúc động, dặn dò: “Thanh Giang ơi, còn sống thì hãy còn gặp nhau nhé!”. Thế mà, bẵng đi cho đến hôm nay.
Ôi cái tuổi già! (Ông đã bát tuần, còn tôi, không chỉ ngoại thất thập mà đến nỗi đã ở giữa thất-bát thập). Dẫu có là Bá Nha–Tử Kỳ chúng tôi cũng không thể năng đến với nhau để cùng tấu khúc tương cầu. Nhưng sao, tuồng như cả hai vẫn cứ còn vấn vít mãi cái “Thế sự du du nại lão hà” này? Chỉ mong sao, rồi tất cả sẽ không còn phải “ẩm hận đa”.
© 2010 Nguyễn Thanh Giang
© 2010 talawas

[2] Bđd.
[3] Bđd.
[4] Bđd.
[6] Bđd.
[7] Bđd.
[8] Bđd.
[9] Bđd.
[11] Bđd.
[12] Bđd.
[14] Bđd.
[15] Bđd.
[17] Bđd.
[18] Bđd.
[19] Bđd.
[21] Bđd.
[22] Bđd.
[23] Bđd.
[24] Bđd.
[25] Bđd.
Ba Sàm mời đọc thêm:
+   Vụ án Xét lại Chống Đảng (Wikipedia): “Những nhân vật bị bắt: gồm những nhân vật lão thành trong đảng, nhiều vị tướng cùng một số những nhà nghiên cứu và nhà báo như: Viện trưởng Viện Triết học Mác-Lênin Hoàng Minh Chính; Vụ trưởng Lễ tân Bộ Ngoaị giao Vũ Đình Huỳnh; nhà báo Vũ Thư Hiên; Cục trưởng Cục 2 (Cục Tình báo quân đội) đại tá Lê Trọng Nghĩa; Chánh Văn phòng Bộ Quốc phòng Đại tá Lê Minh Nghĩa; Cục trưởng Cục Tác chiến đại tá Đỗ Đức Kiên; Tổng Biên tập báo Quân đội Nhân dân Hoàng Thế Dũng; phó giám đốc nhà xuất bản Sự thật, nguyên tỉnh Ủy viên tỉnh Ủy Quảng BìnhNguyễn Kiến Giang; giám đốc nhà xuất bản Sự thật Minh Tranh; phó bí thư thành ủy Hà Nội kiêm Phó chủ tịch Ủy ban Hành chính thành phố Hà Nội Trần Minh Việt; phó tổng biên tập báo Hà Nội Mới Phạm Hữu Viết; phó tổng biên tập tạp chí Học Tập Phạm Kỳ Vân; Tổng thư kí toà báo Quân Đội Nhân DânTrần Thư“.
+  Cuốn hồi ký để đời của Vũ Thư Hiên “Đêm giữa ban ngày”, trong đó có nói tới Nguyễn Kiến Giang. Chương 1: “Cùng bị bắt với cha tôi và tướng Ðặng Kim Giang trong đợt này có các anh Trần Minh Việt, Phạm Kỳ Vân, Nguyễn Kiến Giang, Ðinh Chân, Nguyễn Văn Thẩm. Trần Minh Việt – phó bí thư thành ủy kiêm phó chủ tịch Ủy ban hành chính thành phố Hà Nội, Phạm Kỳ Vân – phó tổng biên tập, Nguyễn Kiến Giang – biên tập viên tạp chí Học Tập, Ðinh Chân – biên tập viên báo Quân đội Nhân dân, Nguyễn Văn Thẩm – bí thư của thứ trưởng Bộ Văn hóa Lê Liêm…“  Chương kết: “Nguyễn Kiến Giang cũng ra được một tuyển tập những bài viết về chủ nghĩa Mác thời hiện đại trong mối quan hệ với vận mệnh đất nước, được người đọc chú ý. Cũng như phần lớn anh em trong vụ án, anh sống bằng nghề dịch – sách văn học, sách chính trị, sách triết học, tài liệu thương mại, đủ thứ.”