Hiển thị các bài đăng có nhãn Đặng Tiểu Bình. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Đặng Tiểu Bình. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 5 tháng 6, 2012

NHẬT KÍ LÝ BẰNG TIẾT LỘ ĐẦU ĐUÔI CHUYỆN BÌNH THƯỜNG HÓA QUAN HỆ TRUNG-VIỆT NĂM 1990


NHẬT KÍ LÝ BẰNG TIẾT LỘ ĐẦU ĐUÔI CHUYỆN

BÌNH THƯỜNG HÓA QUAN HỆ TRUNG-VIỆT NĂM 1990

Tác giả: Lý Bằng
Người dịch: Quốc Thanh
02-05-2012
Ý cốt lõi: Về việc bình thường hóa mối quan hệ kinh tế Trung-Việt, nên dựa trên nguyên tắc hai bên bình đẳng và cùng có lợi, sẽ do các đối tác của hai bên bàn bạc giải quyết, Trung Quốc giữ thái độ tích cực với tất cả các lĩnh vực thương mại, bưu chính, vận tải, thanh toán ngân hàng, khôi phục lại giao thông đường bộ.
Bài này trích trong cuốn “Hòa bình Phát triển Hợp tác – Nhật ký ngoại sự của Lý Bằng” Tác giả: Lý Bằng Nhà xuất bản: Tân Hoa xuất bản xã Nguồn: people.com.cn 
Vào cuối thập kỷ 70 của thế kỷ 20, Việt Nam xuất quân sang Campuchia. Năm 1979, quan hệ Trung-Việt bị chìm xuống đáy. Tháng 12 năm 1986, Nguyễn Văn Linh nhậm chức Tổng bí thư Đảng cộng sản Việt Nam. Cùng với sự xấu đi của cục diện quốc tế, đặc biệt là sau biến động ở Châu Âu, Liên Xô bị tan rã, Nguyễn Văn Linh đã điều chỉnh lại chính sách, tìm kiếm sự bình thường hóa quan hệ Trung-Việt.   

Qua đường liên lạc bí mật giữa hai bên Trung-Việt, từ 3 – 4.9.1990, Nguyễn Văn Linh đi cùng Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Việt Nam Đỗ Mười, cùng với lãnh đạo Trung Quốc tổ chức cuộc gặp mặt ở Thành Đô, sự kiện này trở thành bước ngoặt trong việc bình thường hóa quan hệ Trung-Việt.
[Năm 1986] Thứ sáu ngày 26.12, mưa u ám.
 Nguyễn Văn Linh được bầu làm Tổng bí thư Đảng cộng sản Việt Nam tại Đại hội 6 Đảng cộng sản Việt Nam, thay cho nguyên Tổng bí thư Lê Duẩn đã qua đời vào tháng 7.
[Năm 1989] Thứ bảy ngày 26.8, mưa u ám.
Hôm nay, Việt Nam tuyên bố đã “rút quân toàn bộ” khỏi Campuchia. Điều này tạo điều kiện cho việc giải quyết vấn đề Campuchia một cách thuận lợi, đồng thời cũng gạt bỏ được sự trở ngại cho bình thường hóa quan hệ Trung-Việt. 
  
* Bước ngoặt trong quan hệ Trung-Việt – Hội nghị Thành Đô
[Năm 1990] Thứ tư ngày 6.6, nắng.
Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh đã gặp đại sứ Trương Đức Duy tại Bộ quốc phòng Việt Nam. Nguyễn [Văn Linh] hi vọng thực hiện bình thường hóa được mối quan hệ giữa hai nước, hai đảng, đồng thời mong sớm được sang thăm Trung Quốc.
Chủ nhật ngày 26.8, mưa u ám.
  Về chuyến thăm nội bộ tới Trung Quốc của các nhà lãnh đạo chính bên Việt Nam gồm Tổng bí thư Đảng cộng sản Việt Nam Nguyễn Văn Linh…, tôi đã nói với đồng chí Giang Trạch Dân, ông ta tỏ ý hoàn toàn tán thành.
Thứ hai ngày 27.8, mưa.
 Về việc đồng chí Giang Trạch Dân và tôi sẽ hội kiến với Nguyễn Văn Linh, tôi đã báo cáo lên đồng chí Đặng Tiểu Bình. Xét thấy Á vận hội (Asian Games) sẽ được tổ chức ở Bắc Kinh, mà cuộc gặp mặt này lại đề cập đến việc bình thường hóa quan hệ Trung-Việt, đặc biệt hệ trọng, nên để tiện cho việc bảo mật, địa điểm hội đàm sẽ được bố trí ở Thành Đô.
Thứ năm ngày 30.8, nắng.
  Việc đồng chí Giang Trạch Dân và tôi đến Thành Đô hội đàm nội bộ với Tổng bí thư Đảng cộng sản Việt Nam Nguyễn Văn Linh, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Việt Nam Đỗ Mười, đã có gửi lời mời cho Việt Nam. Bây giờ thử xem trả lời từ Việt Nam ra sao.
Chủ nhật ngày 2.9, nắng.
  Ba giờ rưỡi chiều, tôi đáp chiếc chuyên cơ cất cánh từ sân bay Tây Giao Bắc Kinh, khoảng 6 giờ tới sân bay Thành Đô. Chúng tôi ngồi ô tô qua lộ trình mất hơn 20 phút đến Nhà khách Kim Ngưu, Bí thư Tỉnh ủy Dương Nhữ Đại đang đợi. Đồng chí Giang Trạch Dân đáp một chiếc chuyên cơ khác đến Thành Đô chậm hơn tôi nửa giờ. Từ 8 giờ rưỡi tối đến 11 giờ đêm, tôi và đồng chí Giang Trạch Dân trao đổi với nhau về phương châm của cuộc hội đàm với phía Việt Nam vào ngày mai.
Thành Đô thứ hai ngày 3.9, nắng.
 Buổi sáng, tôi ở chỗ đồng chí Giang Trạch Dân cùng với ông ta tiếp tục nghiên cứu về phương châm của cuộc hội đàm sẽ tiến hành với phía Việt Nam.
  Khoảng 2 giờ chiều, Tổng bí thư Đảng cộng sản Việt Nam Nguyễn Văn Linh, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Đỗ Mười và Cố vấn Ban chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam Phạm Văn Đồng tới Nhà khách Kim Ngưu ở Thành Đô, Giang Trạch Dân và tôi đón họ ở nhà một tầng số 1. Nguyễn Văn Linh mặc bộ com lê màu cà phê, mang hơi hướng phong cách học giả. Đỗ Mười thân hình còn tráng kiện, tóc bạc phơ, mặc bộ com lê màu xanh thẫm. Cả hai đều 73-74 tuổi, còn Phạm Đồng thì hai mắt bị đục thủy tinh thể, thị lực cực kém, mặc bộ áo đại cán, giống các cán bộ lão thành của Trung Quốc.
  Buổi chiều, cuộc hội đàm bắt đầu, Nguyễn Văn Linh làm một bài nói dài trước. Tuy bày tỏ nguyện vọng nhanh chóng giải quyết vấn đề Campuchia, đồng thời nói việc thành lập Hội đồng tối cao Campuchia là chuyện cấp bách, không nên loại trừ bất cứ bên nào, nhưng lại tỏ ý không muốn can thiệp vào công việc nội bộ của Campuchia. Xem ra về vấn đề Campuchia, Nguyễn Văn Linh chỉ muốn làm một sự bày tỏ thái độ về nguyên tắc, còn trọng điểm là đặt vào phương diện bình thường hóa quan hệ Trung-Việt.
Cuộc hội đàm tiếp tục một mạch đến 8 giờ tối, 8 giờ rưỡi mới bắt đầu mở tiệc. Bên bàn tiệc, tôi và đồng chí Giang Trạch Dân lại lần lượt làm việc với Đỗ Mười và Nguyễn Văn Linh .  
Thứ ba ngày 4.9, râm mát.
Buổi sáng, chúng tôi tiếp tục họp với các đồng chí lãnh đạo của Việt Nam. Đến đây, có thể nói những vấn đề nêu ra trong hội nghị đã đi đến đồng thuận một cách khá thỏa mãn, cùng quyết định khởi thảo một bản Kỷ yếu hội nghị.
  Hai giờ rưỡi chiều, hai bên Trung-Việt tổ chức lễ ký kết ở nhà một tầng số 1 tại Nhà khách Kim Ngưu, hai bên lần lượt do Tổng bí thư và Thủ tướng ký. Đây là một bước ngoặt mang tính lịch sử trong quan hệ Trung-Việt. Đồng chí Giang Trạch Dân tặng ngay tại chỗ cho các đồng chí Việt Nam câu thơ “Độ tận kiếp ba huynh đệ tại, Tương phùng nhất tiếu mẫn ân cừu” (Qua hết sóng gió anh em vẫn còn, Gặp nhau cười một cái là quên ân oán). Câu thơ này là của Lỗ Tấn. Trước việc này, các đồng chí Việt Nam tỏ ra rất vui.
  Bốn giờ chiều, chuyên cơ cất cánh về Bắc Kinh, khoảng 6 giờ 10 tới nơi.
* Đảng cộng sản Việt Nam họp Đại hội 7 
[Năm 1991] Thứ bảy ngày 29.6.
Đại hội 7 Đảng cộng sản Việt Nam bế mạc, Đỗ Mười được bầu làm Tổng bí thư, Nguyễn Văn Linh, Phạm Văn Đồng làm cố vấn. Quan điểm chủ yếu chung của Đại hội 7 Đảng cộng sản Việt Nam là kiên trì chủ nghĩa xã hội, làm cải cách kinh tế, chủ trương tình hữu nghị Việt-Xô, Việt-Trung. Tinh thần của Đại hội này có lợi cho việc cải thiện quan hệ Trung-Việt.
Bắc Kinh thứ ba ngày 30.7, nắng.
Buổi chiều, tôi hội kiến với đại diện đặc biệt của Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam là Lê Duẩn và Hồng Hà. Họ yêu cầu tổ chức cuộc gặp cấp cao Trung-Việt. Tôi nói để cho nhân dân hai nước có sự chuẩn bị, để cho ASEAN và các nước khác không nảy sinh nghi ngờ, hai bên Trung-Việt cần tiến hành cuộc gặp ở các cấp thứ trưởng và bộ trưởng ngoại giao trước đã, còn về cuộc gặp cấp cao thì phía Trung Quốc cho rằng về nguyên tắc không có vấn đề gì. Ngày hôm sau Tổng bí thư Giang Trạch Dân sẽ có trả lời chính thức với họ. Về việc bình thường hóa quan hệ kinh tế Trung-Việt, nên dựa trên nguyên tắc bình đẳng và hai bên cùng có lợi, sẽ do các đối tác của hai bên bàn bạc giải quyết, Trung Quốc giữ thái độ tích cực với tất cả các lĩnh vực thương mại, bưu chính, vận tải, thanh toán ngân hàng, khôi phục lại giao thông đường bộ.
* Thực hiện bình thường hóa quan hệ Trung-Việt
Thứ ba ngày 5.11, nắng.
  Năm giờ chiều, đồng chí Giang Trạch Dân và tôi tổ chức lễ đón chính thức Tổng bí thư Đảng cộng sản Việt Nam Đỗ Mười và Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Võ Văn Kiệt tại quảng trường ở ngoài cửa phía đông Đại lễ đường nhân dân. Tiếp đó, chúng tôi đã tiến hành hội đàm. Đỗ Mười có thái độ rất rõ ràng về vấn đề Đài Loan. Đồng chí Giang Trạch Dân nói, sau khi quan hệ hai nước đã trải qua một quãng đường gập ghềnh, lãnh đạo hai nước Trung-Việt ngày hôm nay có thể ngồi cùng với nhau để tiến hành cuộc gặp cấp cao là mang ý nghĩa quan trọng. Đây là một cuộc gặp gác lại quá khứ, hướng tới tương lai, nó đánh dấu sự bình thường hóa trong quan hệ hai nước, tất sẽ có ảnh hưởng sâu xa đối với sự phát triển quan hệ hai nước. Đỗ Mười nói, bình thường hóa mối quan hệ hai nước Việt-Trung là phù hợp với nguyện vọng và lợi ích căn bản của nhân dân hai nước, đồng thời cũng giúp ích cho hòa bình và ổn định của khu vực này và thế giới. Tiếp đó, mở tiệc.
Thứ tư ngày 6.11, nắng.
Buổi chiều, tôi hội đàm với Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Việt Nam Võ Văn Kiệt, không khí rất tốt. Tôi nêu ra trước là Tổng bí thư Giang Trạch Dân và Tổng bí thư Đỗ Mười đã tiến hành hội đàm rất tốt, đã trao đổi được hết ý kiến. Về vấn đề Đài Loan, thái độ thể hiện của Võ Văn Kiệt rất tốt. Tôi điểm qua các vấn đề về nợ, biên giới, dân tị nạn… trong cuộc hội đàm. Hai bên đồng ý sau này sẽ không bàn tới nữa. Với các dự án vay vốn do phía Việt Nam đề xuất mới, tôi hứa sẽ cho khảo sát các dự án của phía Việt Nam trước. Về vấn đề Campuchia, tôi nêu rõ, thỏa thuận về giải pháp chính trị toàn diện cho vấn đề Campuchia đã được ký tại Paris, việc thực hiện thỏa thuận vẫn đòi hỏi các bên phải tiếp tục nỗ lực.
Thứ năm ngày 7.11, nắng.
  Buổi chiều, Hiệp định Thương mại Trung-Việt và Hiệp định tạm thời về việc xử lý các vấn đề biên giới giữa hai nước đã được ký kết tại Nhà khách chính phủ Điếu Ngư Đài. Các lãnh đạo đảng và chính phủ hai nước đã dự lễ ký kết, sau đó, tôi cùng đồng chí Giang Trạch Dân chia tay Đỗ Mười và Võ Văn Kiệt. Họ sẽ đi thăm Quảng Châu, Thâm Quyến…
Nguồn: Ifeng.com

Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2012

Thứ Sáu, 9 tháng 3, 2012

Giải mật: vụ Hoàng Văn Hoan đào thoát sang Trung Quốc


GIẢI MẬT: LÃNH ĐẠO CẤP CAO NHẤT CỦA

NƯỚC NGOÀI ĐÀO THOÁT TỚI TRUNG QUỐC!

15.11.2008
Tác giả:  Phi Lâm
Người dịch:  Quốc Thanh
Ngày 3 tháng 12 năm 1960, Mao Trạch Đông hội kiến với Hồ Chí Minh-Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Chủ tịch Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam. Bên phải là Hoàng Văn Hoan.
Lãnh đạo Việt Nam Hoàng Văn Hoan “đào thoát” tới Trung Quốc năm 1979
Năm 1979, giữa hai nước Trung-Việt xảy ra một sự kiện khiến cho tập đoàn Lê Duẩn đương quyền khi ấy ở Việt Nam bị bẽ mặt, cả thế giới phải kinh ngạc. Hoàng Văn Hoan – một trong những nhà lãnh đạo lão thành của Việt Nam đã đáp phi cơ từ Cộng hòa Dân chủ Đức (Đông Đức) bay tới Bắc Kinh. Cho đến tận giờ, người ta vẫn gọi việc Hoàng Văn Hoan đến Trung Quốc là “Lãnh đạo cấp cao nhất của nước ngoài đào thoát tới Trung Quốc”.
Trong nội bộ Đảng cộng sản Việt Nam có hai phái thân Xô và thân Hoa. Phái thân Hoa có Đại tướng Nguyễn Chí Thanh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Thượng tướng Chu Văn Tấn, Hoàng Văn Hoan… Sau khi Hồ Chí Minh qua đời, Lê Duẩn, Lê Đức Thọ… thuộc phái thân Xô nắm hết quyền lực trong Đảng, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh đã bị chết trận. Thượng tướng Chu Văn Tấn bị giam lỏng. Đại tướng Võ Nguyên Giáp bị treo giò.
Hoàng Văn Hoan lúc này trong người cảm thấy khó chịu, vùng não luôn bị đau âm ỉ, bệnh viện ở Hà Nội kiểm tra nói: bị lao phổi. Nhưng lại chữa mãi vẫn không khỏi.
Ông sinh năm 1905 tại tỉnh Nghệ An (nay là tỉnh Nghệ Tĩnh[1]), Việt Nam. Tên thật là Trần Xuân Phong. Năm 1925 tham gia học lớp đào tạo thanh niên Việt Nam do Hồ Chí Minh mở ở Quảng Châu, sau đó làm công tác cách mạng ở các nước Thái Lan, Miến Điện, Campuchia… và ở Châu Âu, nói thành thạo tiếng Trung Quốc giọng Quảng Đông, viết được những bài thơ hay bằng chữ Hán.
Năm 1966, cùng với Chủ tịch Hồ Chí Minh tại cuộc tụ họp quần chúng ở Quảng trường Ba Đình
Chính Hoàng Văn Hoan đã ý thức được rằng nếu ở lại trong nước thì không những chẳng làm được việc gì, mà bệnh của mình lại có thể còn bị nặng thêm. Ông lợi dụng dịp đi thăm nước Cộng hòa Dân chủ Đức cũ, với sự giúp sức của bạn bè và tình báo Trung Quốc, đã tới Bắc Kinh theo ngả Pakistan.
 Năm 1979, tại cuộc họp báo tổ chức tại Bắc Kinh
Ngày thứ ba tới Bắc Kinh, kết quả kiểm tra ở Bệnh viện 301 Giải phóng quân cho thấy thực ra trong người ông có một khối u dài 6cm, rộng 5cm, được chẩn đoán là bị ung thư phổi sắp đến giai đoạn cuối.
Năm 1979, tới Bắc Kinh, được đồng chí Đặng Tiểu Bình đón tiếp thịnh tình
Bệnh viện 301 áp dụng phương pháp Đông Tây y kết hợp, đầu tiên tiến hành xạ trị, tiếp đó dùng các bài thuốc Đông y quý để tiến hành liệu pháp Đông y. Nằm chữa trị ở bệnh viện được hơn 1 tháng, khối u đã nhỏ lại chỉ còn dài 5cm, rộng 4cm. Khối u nhỏ lại được nhanh như vậy có thể nói là hết sức có hiệu quả.
Nói chuyện với Việt kiều ở Côn Minh năm 1980
Bởi được trị liệu theo Đông Tây y kết hợp ở Bệnh viện 301, được dùng những bài thuốc Đông y vừa quý lại vừa đích thực có tác dụng kháng ung thư, cho nên Hoàng Văn Hoan đã hơn 70 tuổi vẫn sống tiếp được tới 15 năm nữa một cách đầy khỏe mạnh.  
Bơi ở Thanh Đảo năm 1984
Hoàng Văn Hoan tới Trung Quốc không lâu, Việt Nam lần lượt tuyên bố hủy bỏ các chức vụ Đại biểu Quốc hội, Phó chủ tịch Ủy ban thường vụ Quốc hội, Ủy viên Đoàn chủ tịch Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam…, xóa Đảng tịch Đảng cộng sản Việt Nam của ông. Ngày 26 tháng 6 năm 1980, bị chính quyền Việt Nam xử tử hình vắng mặt. 
Ở Thanh Đảo năm 1984
Với sự nỗ lực của Trường Chinh, Nguyễn Văn Linh, quan hệ Trung-Việt được khôi phục. Nhất là Nguyễn Văn Linh còn cho đưa cả người nhà của Hoàng Văn Hoan sang Trung Quốc, khiến cho Hoàng Văn Hoan được đoàn tụ với gia đình vào những năm cuối đời.
Đang viết: “Việt Trung hữu nghi, vạn cổ trường thanh”
Còn có một giả thuyết khác, khi các nhà lãnh đạo Nguyễn Văn Linh… muốn khôi phục lại quan hệ bình thường với Trung Quốc, do qua kênh bình thường có chút khó khăn, nên con trai cả của Hoàng Văn Hoan đang làm việc tại Viện khoa học xã hội Việt Nam đã bí mật đến Sứ quán Trung Quốc để đẩy nhanh sự tiếp xúc giữa lãnh đạo hai nước. **
Đang viết thơ chữ Hán
Đang đánh cờ với nhân viên làm việc
Mộ Hoàng Văn Hoan hình chữ nhật, sau mộ lập một tấm bia đá cao to, chính giữa bên trên có khảm bức di ảnh màu của Hoàng Văn Hoan, hai bên khắc nổi năm sinh năm mất “1905-1991”. Dưới di ảnh viết “Mộ đồng chí Hoàng Văn Hoan, nhà cách mạng lão thành Việt Nam, người bạn lâu năm được nhân dân Trung Quốc tôn kính”.  
Hoàng Văn Hoan (1905-1991)
Lãnh đạo Đảng và chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Sinh ở tỉnh Nghệ An. Năm 1926 tham gia lớp huấn luyện cách mạng do Hồ Chí Minh mở ở Trung Quốc, sau gia nhập Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí hội. Năm 1930, gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương. Năm 1928-1942, lần lượt hoạt động cách mạng ở Xiêm và Trung Quốc.
Năm 1942, về nước triển khai đấu tranh vũ trang và tiến hành các hoạt động lập căn cứ địa. Năm 1945, được bầu làm Ủy viên trung ương, nhậm chức Bí thư Đảng ủy Khu giải phóng Việt Bắc, sau thắng lợi của Cách mạng Tháng 8 cùng năm, từng nhậm chức Thứ trưởng Bộ quốc phòng và Ủy viên chính trị toàn quốc Vệ quốc quân.
Cuối năm 1946, nhậm chức Đại diện Liên khu 4 tại Chính phủ trung ương, lãnh đạo đấu tranh chống Pháp. Năm 1948, nhậm chức Đặc phái viên hải ngoại tại Chính phủ trung ương. Tháng 12 năm 1950, nhậm chức Đại sứ đầu tiên ở Trung Quốc, kiêm Đại sứ tại Triều Tiên, Mông Cổ. Tại “Đại hội 2” năm 1951 và “Đại hội 3” năm 1960 được bầu làm Ủy viên Trung ương. Hai lần, vào tháng 8 năm 1958 và tháng 9 năm 1960, được bầu làm Ủy viên Bộ chính trị Trung ương Đảng. Từ năm 1958, nhậm chức Phó chủ tịch Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Tháng 12 năm 1971, được bầu là Ủy viên Đoàn chủ tịch Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc. Năm 1979, sau khi Việt Nam trắng trợn bài Hoa, vì phản đối tập đoàn Lê Duẩn… nên đã bị đánh và bức hại, để đấu tranh lại với những thế lực bài Hoa trong Đảng, vào tháng 7 bị bức phải rời Việt Nam gián tiếp chuyển tới Bắc Kinh, đã di cư tới Trung Quốc. Không lâu sau, Việt Nam lần lượt tuyên bố hủy bỏ các chức vụ Đại biểu Quốc hội, Phó chủ tịch Ủy ban thường vụ Quốc hội, Ủy viên Đoàn chủ tịch Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam…, xóa Đảng tịch Đảng cộng sản Việt Nam của ông.
Ngày 26 tháng 6 năm 1980, bị chính quyền Việt Nam xử tử hình vắng mặt. Là người bạn lâu năm của nhân dân Trung Quốc, có tình cảm sâu nặng với nhân dân Trung Quốc. Đã làm rất nhiều công việc hữu ích để phát triển tình hữu nghị giữa nhân dân hai nước Trung-Việt. Đồng thời còn là một người “thông hiểu về Trung Quốc”, có nhiều nghiên cứu về văn hóa truyền thống Trung Quốc, đã viết nhiều bài thơ, câu đối bằng tiếng Hán trong đời. Trong thời gian bệnh nặng, các vị lãnh đạo Đảng và nhà nước như Dương Thượng Côn, Trần Vân, Lý Tiên Niệm… đã lần lượt đến bệnh viện thăm và an ủi động viên.
Ngày 18 tháng 5 năm 1991 qua đời tại Bắc Kinh, hưởng thọ 86 tuổi. An táng tại Nghĩa trang cách mạng Bát Bảo Sơn Bắc Kinh. Tác phẩm để lại có “Hoàng Văn Hoan văn tập”. 
Nguồn: www.tiexue.net *
Bản tiếng Việt © Việt sử ký 2012
[1] Chỗ này tác giả nhầm. Tỉnh Nghệ Tĩnh đã được tách ra lại thành 2 tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh từ  năm 1991.- ND.
-
Trang mạng được mở năm 2001, tiền thân là trang mạng mô phỏng chiến tranh thành lập năm 1999 tại Bắc Kinh; mạng www.tiexue.net có nội dung chủ yếu là về quân sự, cung cấp những thông tin thiết thực toàn diện và có giá trị. Qua vài năm phát triển, mạng www.tiexue.net đã phát triển thành mạng quân sự bằng tiếng Trung lớn nhất toàn cầu. (Nguồn: http://www.tiexue.net/).