Hiển thị các bài đăng có nhãn Trương Đức Duy. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Trương Đức Duy. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 5 tháng 6, 2012

NHẬT KÍ LÝ BẰNG TIẾT LỘ ĐẦU ĐUÔI CHUYỆN BÌNH THƯỜNG HÓA QUAN HỆ TRUNG-VIỆT NĂM 1990


NHẬT KÍ LÝ BẰNG TIẾT LỘ ĐẦU ĐUÔI CHUYỆN

BÌNH THƯỜNG HÓA QUAN HỆ TRUNG-VIỆT NĂM 1990

Tác giả: Lý Bằng
Người dịch: Quốc Thanh
02-05-2012
Ý cốt lõi: Về việc bình thường hóa mối quan hệ kinh tế Trung-Việt, nên dựa trên nguyên tắc hai bên bình đẳng và cùng có lợi, sẽ do các đối tác của hai bên bàn bạc giải quyết, Trung Quốc giữ thái độ tích cực với tất cả các lĩnh vực thương mại, bưu chính, vận tải, thanh toán ngân hàng, khôi phục lại giao thông đường bộ.
Bài này trích trong cuốn “Hòa bình Phát triển Hợp tác – Nhật ký ngoại sự của Lý Bằng” Tác giả: Lý Bằng Nhà xuất bản: Tân Hoa xuất bản xã Nguồn: people.com.cn 
Vào cuối thập kỷ 70 của thế kỷ 20, Việt Nam xuất quân sang Campuchia. Năm 1979, quan hệ Trung-Việt bị chìm xuống đáy. Tháng 12 năm 1986, Nguyễn Văn Linh nhậm chức Tổng bí thư Đảng cộng sản Việt Nam. Cùng với sự xấu đi của cục diện quốc tế, đặc biệt là sau biến động ở Châu Âu, Liên Xô bị tan rã, Nguyễn Văn Linh đã điều chỉnh lại chính sách, tìm kiếm sự bình thường hóa quan hệ Trung-Việt.   

Qua đường liên lạc bí mật giữa hai bên Trung-Việt, từ 3 – 4.9.1990, Nguyễn Văn Linh đi cùng Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Việt Nam Đỗ Mười, cùng với lãnh đạo Trung Quốc tổ chức cuộc gặp mặt ở Thành Đô, sự kiện này trở thành bước ngoặt trong việc bình thường hóa quan hệ Trung-Việt.
[Năm 1986] Thứ sáu ngày 26.12, mưa u ám.
 Nguyễn Văn Linh được bầu làm Tổng bí thư Đảng cộng sản Việt Nam tại Đại hội 6 Đảng cộng sản Việt Nam, thay cho nguyên Tổng bí thư Lê Duẩn đã qua đời vào tháng 7.
[Năm 1989] Thứ bảy ngày 26.8, mưa u ám.
Hôm nay, Việt Nam tuyên bố đã “rút quân toàn bộ” khỏi Campuchia. Điều này tạo điều kiện cho việc giải quyết vấn đề Campuchia một cách thuận lợi, đồng thời cũng gạt bỏ được sự trở ngại cho bình thường hóa quan hệ Trung-Việt. 
  
* Bước ngoặt trong quan hệ Trung-Việt – Hội nghị Thành Đô
[Năm 1990] Thứ tư ngày 6.6, nắng.
Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh đã gặp đại sứ Trương Đức Duy tại Bộ quốc phòng Việt Nam. Nguyễn [Văn Linh] hi vọng thực hiện bình thường hóa được mối quan hệ giữa hai nước, hai đảng, đồng thời mong sớm được sang thăm Trung Quốc.
Chủ nhật ngày 26.8, mưa u ám.
  Về chuyến thăm nội bộ tới Trung Quốc của các nhà lãnh đạo chính bên Việt Nam gồm Tổng bí thư Đảng cộng sản Việt Nam Nguyễn Văn Linh…, tôi đã nói với đồng chí Giang Trạch Dân, ông ta tỏ ý hoàn toàn tán thành.
Thứ hai ngày 27.8, mưa.
 Về việc đồng chí Giang Trạch Dân và tôi sẽ hội kiến với Nguyễn Văn Linh, tôi đã báo cáo lên đồng chí Đặng Tiểu Bình. Xét thấy Á vận hội (Asian Games) sẽ được tổ chức ở Bắc Kinh, mà cuộc gặp mặt này lại đề cập đến việc bình thường hóa quan hệ Trung-Việt, đặc biệt hệ trọng, nên để tiện cho việc bảo mật, địa điểm hội đàm sẽ được bố trí ở Thành Đô.
Thứ năm ngày 30.8, nắng.
  Việc đồng chí Giang Trạch Dân và tôi đến Thành Đô hội đàm nội bộ với Tổng bí thư Đảng cộng sản Việt Nam Nguyễn Văn Linh, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Việt Nam Đỗ Mười, đã có gửi lời mời cho Việt Nam. Bây giờ thử xem trả lời từ Việt Nam ra sao.
Chủ nhật ngày 2.9, nắng.
  Ba giờ rưỡi chiều, tôi đáp chiếc chuyên cơ cất cánh từ sân bay Tây Giao Bắc Kinh, khoảng 6 giờ tới sân bay Thành Đô. Chúng tôi ngồi ô tô qua lộ trình mất hơn 20 phút đến Nhà khách Kim Ngưu, Bí thư Tỉnh ủy Dương Nhữ Đại đang đợi. Đồng chí Giang Trạch Dân đáp một chiếc chuyên cơ khác đến Thành Đô chậm hơn tôi nửa giờ. Từ 8 giờ rưỡi tối đến 11 giờ đêm, tôi và đồng chí Giang Trạch Dân trao đổi với nhau về phương châm của cuộc hội đàm với phía Việt Nam vào ngày mai.
Thành Đô thứ hai ngày 3.9, nắng.
 Buổi sáng, tôi ở chỗ đồng chí Giang Trạch Dân cùng với ông ta tiếp tục nghiên cứu về phương châm của cuộc hội đàm sẽ tiến hành với phía Việt Nam.
  Khoảng 2 giờ chiều, Tổng bí thư Đảng cộng sản Việt Nam Nguyễn Văn Linh, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Đỗ Mười và Cố vấn Ban chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam Phạm Văn Đồng tới Nhà khách Kim Ngưu ở Thành Đô, Giang Trạch Dân và tôi đón họ ở nhà một tầng số 1. Nguyễn Văn Linh mặc bộ com lê màu cà phê, mang hơi hướng phong cách học giả. Đỗ Mười thân hình còn tráng kiện, tóc bạc phơ, mặc bộ com lê màu xanh thẫm. Cả hai đều 73-74 tuổi, còn Phạm Đồng thì hai mắt bị đục thủy tinh thể, thị lực cực kém, mặc bộ áo đại cán, giống các cán bộ lão thành của Trung Quốc.
  Buổi chiều, cuộc hội đàm bắt đầu, Nguyễn Văn Linh làm một bài nói dài trước. Tuy bày tỏ nguyện vọng nhanh chóng giải quyết vấn đề Campuchia, đồng thời nói việc thành lập Hội đồng tối cao Campuchia là chuyện cấp bách, không nên loại trừ bất cứ bên nào, nhưng lại tỏ ý không muốn can thiệp vào công việc nội bộ của Campuchia. Xem ra về vấn đề Campuchia, Nguyễn Văn Linh chỉ muốn làm một sự bày tỏ thái độ về nguyên tắc, còn trọng điểm là đặt vào phương diện bình thường hóa quan hệ Trung-Việt.
Cuộc hội đàm tiếp tục một mạch đến 8 giờ tối, 8 giờ rưỡi mới bắt đầu mở tiệc. Bên bàn tiệc, tôi và đồng chí Giang Trạch Dân lại lần lượt làm việc với Đỗ Mười và Nguyễn Văn Linh .  
Thứ ba ngày 4.9, râm mát.
Buổi sáng, chúng tôi tiếp tục họp với các đồng chí lãnh đạo của Việt Nam. Đến đây, có thể nói những vấn đề nêu ra trong hội nghị đã đi đến đồng thuận một cách khá thỏa mãn, cùng quyết định khởi thảo một bản Kỷ yếu hội nghị.
  Hai giờ rưỡi chiều, hai bên Trung-Việt tổ chức lễ ký kết ở nhà một tầng số 1 tại Nhà khách Kim Ngưu, hai bên lần lượt do Tổng bí thư và Thủ tướng ký. Đây là một bước ngoặt mang tính lịch sử trong quan hệ Trung-Việt. Đồng chí Giang Trạch Dân tặng ngay tại chỗ cho các đồng chí Việt Nam câu thơ “Độ tận kiếp ba huynh đệ tại, Tương phùng nhất tiếu mẫn ân cừu” (Qua hết sóng gió anh em vẫn còn, Gặp nhau cười một cái là quên ân oán). Câu thơ này là của Lỗ Tấn. Trước việc này, các đồng chí Việt Nam tỏ ra rất vui.
  Bốn giờ chiều, chuyên cơ cất cánh về Bắc Kinh, khoảng 6 giờ 10 tới nơi.
* Đảng cộng sản Việt Nam họp Đại hội 7 
[Năm 1991] Thứ bảy ngày 29.6.
Đại hội 7 Đảng cộng sản Việt Nam bế mạc, Đỗ Mười được bầu làm Tổng bí thư, Nguyễn Văn Linh, Phạm Văn Đồng làm cố vấn. Quan điểm chủ yếu chung của Đại hội 7 Đảng cộng sản Việt Nam là kiên trì chủ nghĩa xã hội, làm cải cách kinh tế, chủ trương tình hữu nghị Việt-Xô, Việt-Trung. Tinh thần của Đại hội này có lợi cho việc cải thiện quan hệ Trung-Việt.
Bắc Kinh thứ ba ngày 30.7, nắng.
Buổi chiều, tôi hội kiến với đại diện đặc biệt của Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam là Lê Duẩn và Hồng Hà. Họ yêu cầu tổ chức cuộc gặp cấp cao Trung-Việt. Tôi nói để cho nhân dân hai nước có sự chuẩn bị, để cho ASEAN và các nước khác không nảy sinh nghi ngờ, hai bên Trung-Việt cần tiến hành cuộc gặp ở các cấp thứ trưởng và bộ trưởng ngoại giao trước đã, còn về cuộc gặp cấp cao thì phía Trung Quốc cho rằng về nguyên tắc không có vấn đề gì. Ngày hôm sau Tổng bí thư Giang Trạch Dân sẽ có trả lời chính thức với họ. Về việc bình thường hóa quan hệ kinh tế Trung-Việt, nên dựa trên nguyên tắc bình đẳng và hai bên cùng có lợi, sẽ do các đối tác của hai bên bàn bạc giải quyết, Trung Quốc giữ thái độ tích cực với tất cả các lĩnh vực thương mại, bưu chính, vận tải, thanh toán ngân hàng, khôi phục lại giao thông đường bộ.
* Thực hiện bình thường hóa quan hệ Trung-Việt
Thứ ba ngày 5.11, nắng.
  Năm giờ chiều, đồng chí Giang Trạch Dân và tôi tổ chức lễ đón chính thức Tổng bí thư Đảng cộng sản Việt Nam Đỗ Mười và Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Võ Văn Kiệt tại quảng trường ở ngoài cửa phía đông Đại lễ đường nhân dân. Tiếp đó, chúng tôi đã tiến hành hội đàm. Đỗ Mười có thái độ rất rõ ràng về vấn đề Đài Loan. Đồng chí Giang Trạch Dân nói, sau khi quan hệ hai nước đã trải qua một quãng đường gập ghềnh, lãnh đạo hai nước Trung-Việt ngày hôm nay có thể ngồi cùng với nhau để tiến hành cuộc gặp cấp cao là mang ý nghĩa quan trọng. Đây là một cuộc gặp gác lại quá khứ, hướng tới tương lai, nó đánh dấu sự bình thường hóa trong quan hệ hai nước, tất sẽ có ảnh hưởng sâu xa đối với sự phát triển quan hệ hai nước. Đỗ Mười nói, bình thường hóa mối quan hệ hai nước Việt-Trung là phù hợp với nguyện vọng và lợi ích căn bản của nhân dân hai nước, đồng thời cũng giúp ích cho hòa bình và ổn định của khu vực này và thế giới. Tiếp đó, mở tiệc.
Thứ tư ngày 6.11, nắng.
Buổi chiều, tôi hội đàm với Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Việt Nam Võ Văn Kiệt, không khí rất tốt. Tôi nêu ra trước là Tổng bí thư Giang Trạch Dân và Tổng bí thư Đỗ Mười đã tiến hành hội đàm rất tốt, đã trao đổi được hết ý kiến. Về vấn đề Đài Loan, thái độ thể hiện của Võ Văn Kiệt rất tốt. Tôi điểm qua các vấn đề về nợ, biên giới, dân tị nạn… trong cuộc hội đàm. Hai bên đồng ý sau này sẽ không bàn tới nữa. Với các dự án vay vốn do phía Việt Nam đề xuất mới, tôi hứa sẽ cho khảo sát các dự án của phía Việt Nam trước. Về vấn đề Campuchia, tôi nêu rõ, thỏa thuận về giải pháp chính trị toàn diện cho vấn đề Campuchia đã được ký tại Paris, việc thực hiện thỏa thuận vẫn đòi hỏi các bên phải tiếp tục nỗ lực.
Thứ năm ngày 7.11, nắng.
  Buổi chiều, Hiệp định Thương mại Trung-Việt và Hiệp định tạm thời về việc xử lý các vấn đề biên giới giữa hai nước đã được ký kết tại Nhà khách chính phủ Điếu Ngư Đài. Các lãnh đạo đảng và chính phủ hai nước đã dự lễ ký kết, sau đó, tôi cùng đồng chí Giang Trạch Dân chia tay Đỗ Mười và Võ Văn Kiệt. Họ sẽ đi thăm Quảng Châu, Thâm Quyến…
Nguồn: Ifeng.com

Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2012

Thứ Ba, 6 tháng 3, 2012

CỰU ĐẠI SỨ TQ TỪNG NHƯ THƯ KÝ RIÊNG VÀ Ở BÊN HỒ CHÍ MINH ĐẾN CUỐI ĐỜI


Phiên dịch tiếng Việt Trương Đức Duy, không quản lâm nguy nhậm chức sĩ quan liên lạc, chuyên trách theo chữa bệnh cho Hồ Chí Minh, đôi khi còn nấu ăn cả cho khách

TRỞ THÀNH THƯ KÝ RIÊNG, ÔNG Ở BÊN

HỒ CHÍ MINH ĐẾN GIỜ PHÚT CUỐI CÙNG

 20.2.2012
Tác giả/nhà báo:  Đào Vận Tây
Người dịch:  Quốc Thanh

Về Trương Đức Duy

Người phiên dịch tiếng Việt có thâm niên của nước ta, sinh năm 1930 ở Quảng Đông, từng là Hoa kiều học tập tại Việt Nam.  
Năm 1954, tham gia thành lập Đại sứ quán Trung Quốc tại Việt Nam, phụ trách phần phiên dịch và điều tra nghiên cứu. Từng lần lượt giữ chức Vụ phó Vụ Châu Á Bộ ngoại giao, Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Trung Quốc tại Vương quốc Thái Lan kiêm Đại sứ tại Campuchia dân chủ, đồng thời là Đại diện thường trú của Ủy ban Kinh tế và Xã hội Khu vực Châu Á-Thái Bình Dương của Liên Hiệp Quốc, Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Trung Quốc tại Việt Nam.
Sau khi về hưu, từng trải qua các chức vụ Phó chủ tịch Hội hữu nghị Trung-Việt, Chủ tịch các khóa 3, khóa 4, khóa 5 và Chủ tịch danh dự Hội hữu nghị Hoa kiều Việt Nam, Campuchia, Lào.
Năm 1967, Hồ Chí Minh bị bệnh đến Trung Quốc nghỉ dưỡng, Trương Đức Duy làm phiên dịch theo suốt cả thời gian này. Trong khoảng thời gian 2 năm sau đó, Trương Đức Duy luôn ở bên Hồ Chí Minh cho đến khi Hồ Chí Minh qua đời.   
Năm 1967, quân xâm lược Mỹ gieo ngọn lửa chiến tranh khắp cả hai miền Nam Bắc Việt Nam, Trương Đức Duy tinh thông tiếng Việt đang làm việc ở Sứ quán Trung Quốc tại Việt Nam.  
“Khi ấy, lãnh đạo tối cao của Việt Nam là Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ông dẫn dắt quân dân Việt Nam, với sự chi viện một lượng lớn vật lực, tài lực và nhân lực từ Trung Quốc, ngoan cường chống Mỹ cứu nước”, Trương Đức Duy nói.
Chính vào thời điểm ngặt nghèo ấy, không ai ngờ bệnh tật lại tàn nhẫn tấn công người lãnh tụ huyền thoại này. “Sức khỏe của ông quá quan trọng đối với Việt Nam! Ông yêu cầu tôi đi cùng ông sang Trung Quốc chữa bệnh. Khỏi cần nói cũng hiểu là tôi phải gánh trên vai nhiệm vụ nặng nề đến nhường nào”. Trong 2 năm tiếp đó, Trương Đức Duy là phiên dịch của Hồ Chí Minh và là Thư ký Tổ chăm sóc y tế Trung Quốc, luôn ở bên Hồ Chí Minh cho đến giây phút cuối cùng.   
 “Tôi gọi ông là Bác Hồ (bác đại diện cho thế hệ cha chú trong tiếng Việt), ông gọi tôi là em Duy. Ông để râu dài, đặc biệt rất sợ tiêm. Ông để chúng tôi ăn cơm cùng, kể cho chúng tôi nghe những câu chuyện cách mạng phiêu lưu mạo hiểm của mình, mọi người nghe rất thích thú”. Trương Đức Duy nhớ lại. 

Không quản hiểm nguy

Người phiên dịch Trung Quốc thành “thư ký” của Hồ Chí Minh
Vào một ngày đầu năm 1967, Trương Đức Duy đang là Bí thư thứ ba Sứ quán Trung Quốc tại Việt Nam nhận được cuộc điện thoại từ Vũ Kỳ, Thư ký của Hồ Chí Minh, nói Bác Hồ có chuyện muốn ông trực tiếp đến ngôi nhà gỗ nhỏ một chút.    
“Tôi bước vào, chợt thấy chột dạ, sao Bác Hồ không làm việc mà lại nằm trên giường?” Trương Đức Duy hốt hoảng, nhẹ bước tới bên giường, hỏi thăm Hồ Chí Minh. Ông cụ vẫy tay ra ý bảo ông ngồi xuống cạnh giường: “Bác gọi chú đến là muốn chú báo cáo với đồng chí Chu Ân Lai, nhưng chú phải chú ý giữ bí mật”.  
Thì ra thời gian gần đây, cả tay và chân của Hồ Chí Minh đều không còn cử động linh hoạt được nữa, tuy đã được bác sĩ khám, và cũng đã qua một vài loại trị liệu, nhưng không thấy biến chuyển. Cho nên, ông muốn sang Trung Quốc khám bệnh.
“Tôi hiểu rồi!” Trương Đức Duy về ngay đại sứ quán, điện báo cho Chu Ân Lai. Hai ngày sau, sứ quán nhận được điện trả lời của Bắc Kinh, Chu Ân Lai đề nghị đưa Hồ Chí Minh tới ở Nhà khách Tùng Hóa Ôn Tuyền tỉnh Quảng Đông, rồi Trung ương sẽ chọn cử một bác sĩ giàu kinh nghiệm đến chẩn trị.  Ngày 14 tháng 4, Hồ Chí Minh lên chiếc chuyên cơ bay đến Quảng Châu, người đi theo chỉ có Trương Đức Duy, Thư ký Vũ Kỳ và Cục trưởng Cục bảo vệ sức khỏe Nhữ Thế Bảo.
Theo chỉ thị của Chu Ân Lai, về phía Quảng Châu đã thành lập “Tổ chăm sóc y tế Trung Quốc” để kiểm tra sức khỏe và chữa trị một cách có hệ thống cho Hồ Chí Minh, còn Trương Đức Duy thì là Thư ký của Tổ chăm sóc y tế. 
Tổ chăm sóc y tế kiểm tra thêm rồi chẩn đoán là: Bị chứng xơ vữa động mạch tuổi già, máu cung cấp lên não thiếu nặng, một vùng mạch máu não nào đó bị tắc nghẽn, cho nên mới sinh ra liệt nhẹ nửa người. Nhằm đúng vào nguyên nhân bệnh và triệu chứng ấy, Tổ chăm sóc y tế đã bố trí phương án trị liệu tổng hợp.
Song Thư ký Vũ Kỳ và Cục trưởng Nhữ Thế Bảo lại đến tìm Trương Đức Duy, nói cho ông biết một tình huống đặc biệt – Bác Hồ sợ nhất là tiêm, đề nghị Tổ chăm sóc y tế không áp dụng phương pháp tiêm. Vì thế, phương án trị liệu đã không sử dụng cách châm cứu, mà dùng cách day ấn huyệt vị. Trương Đức Duy, Vũ Kỳ và Nhữ Thế Bảo cũng cùng với Hồ Chí Minh tiến hành tập luyện hồi phục sức khỏe vừa phải, “chúng tôi ném bóng cho ông, ông đỡ lấy rồi lại ném lại, ông được vui vẻ nói cười nên cũng không cảm thấy cô đơn nhàm chán”.

Tự tay nấu bếp

Ông làm món sườn hấp chao[1] cho Bác Hồ
Để giúp Hồ Chí Minh tăng cường thể lực, các đầu bếp lần nào cũng làm ra đầy một bàn các thức ngon, nhưng Hồ Chí Minh tiết kiệm quen rồi, vẫn giữ mỗi bữa chỉ cần ăn một món tanh[2], một món rau, một món canh. Các bác sĩ khuyên ông ăn thức ăn phong phú một chút thì sẽ giúp ích cho việc hồi phục sức khỏe, ông mới ăn thêm chút ít thức bổ dưỡng.     
Song Hồ Chí Minh nói, cơm và thức ăn quá nhiều, mỗi lần dùng bữa chỉ có mình ông, vừa ăn không hết lại vừa cảm thấy cô quạnh. Thế là muốn để cho cả Trương Đức Duy, Vũ Kỳ và Nhữ Thế Bảo cùng ăn. Để phối hợp với trị liệu cho người già, sau khi được sự đồng ý của lãnh đạo cấp trên, họ bắt đầu cùng ăn cơm với Hồ Chí Minh.    
Trương Đức Duy phát hiện ông thích ăn thịt gà và sườn, nhưng  đầu bếp lại sợ răng người già không tốt, nên khi ninh hầm thường nấu cho nát nhừ, mất cả hương vị. “Tôi liền đề nghị đầu bếp làm mấy món thịt gà luộc chặt miếng và sườn hấp chao kiểu Quảng Đông thử xem, quả nhiên ông rất hào hứng với mấy món này, cứ  khen ngon mãi. Rồi còn yêu cầu đầu bếp thường xuyên nấu kiểu cơm nhà, như vậy “vừa tiết kiệm tiền lại vừa ngon”. Trương Đức Duy nói.
 Trị liệu được hơn 2 tháng, hiệu quả chữa trị rõ, Hồ Chí Minh rất hài lòng, vì nhớ đến cuộc đấu tranh chống Mỹ cứu nước của Việt Nam, nên ngày 1 tháng 7 năm 1967 đã rời Quảng Châu quay về Hà Nội. Song về Hà Nội không lâu, Vũ Kỳ đã gọi điện nói Bác Hồ lại thèm ăn món sườn hấp chao rồi, nhưng mà đầu bếp không biết làm, nên muốn Trương Đức Duy dạy cho. Thế là Trương Đức Duy đã đến Phủ chủ tịch để bày cho đầu bếp cách làm.
Mấy hôm sau, Vũ Kỳ lại gọi điện nói đầu bếp nấu không đúng vị, Bác nuốt không nổi, mong Trương Đức Duy tới tự tay làm một lần, vừa nghe nói được tự tay nấu ăn cho Hồ Chí Minh, Trương Đức Duy thấy vô cùng vinh dự, lập tức tới làm luôn. “Kết quả là Bác Hồ ăn hết, luôn mồm khen ngon, ‘đây mới là món sườn hấp chao chính cống’. Tôi nghe mà thấy trong lòng cũng quá phấn khởi”.  

Xem lễ ở quảng trường

Phiên dịch giúp Hồ Chí Minh ăn mặc cải trang
Ai ngờ chỉ hơn 1 tháng sau, sức khỏe Hồ Chí Minh đột ngột xuất hiện vấn đề mới.
“Khi ấy Vũ Kỳ gọi điện cho tôi đến Phủ chủ tịch, khi gặp ông bảo Bác Hồ về nước làm việc và hoạt động quá nhiều, mấy hôm trước mưa dầm bị sốt cao, mãi chưa dứt”. Bí thư Trung ương Đảng Việt Nam Lê Văn Lương mong Trung Quốc điều Tổ chăm sóc y tế đến Hà Nội chữa trị.
Chu Ân Lai được tin liền lập tức điều Tổ chăm sóc y tế đến Hà Nội, cho chữa trị kết hợp Đông Tây y, sốt hạ luôn, nhưng căn bệnh cũ ở não lại có hội chứng tái phát, tim cũng xuất hiện vấn đề mới. Cuối cùng, qua bàn bạc nhiều phía, Hồ Chí Minh lại sang Trung Quốc nằm tại Nhà điều dưỡng Trung ương Ngọc Tuyền Sơn ở Bắc Kinh dưỡng bệnh trong hơn nửa năm.
Ngày 1 tháng 10 cùng năm là lễ kỷ niệm 18 năm ngày thành lập nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, sáng hôm ấy ở Quảng trường Thiên An Môn có quần chúng diễu hành chúc mừng, Trung ương muốn để Hồ Chí Minh được dự lễ, nhưng vì bảo mật nên lại không thể bố trí Hồ Chí Minh lên lầu thành Thiên An Môn được. Thế là, Chu Ân Lai đã nghĩ ra được một biện pháp tuyệt diệu, để Đặng Dĩnh Siêu đi theo Hồ Chí Minh bí mật lên tầng 4 của Đại lễ đường nhân dân, nhìn ra từ cửa sổ cảnh tượng tráng lệ của cuộc diễu hành quần chúng. Còn buổi tối, Mao Chủ tịch sẽ mời Hồ Chí Minh lên lầu thành Thiên An Môn xem bắn pháo hoa.
“Việc này cần phải bảo mật ra sao đã tốn mất rất nhiều suy nghĩ. Cuối cùng chúng tôi quyết định giúp ông ăn mặc cải trang để đi xem lễ”. Trương Đức Duy hóa trang cho Hồ Chí Minh, mặc bộ Tôn Trung Sơn, đội một chiếc mũ cán bộ Trung Quốc, đeo một chiếc khẩu trang, cuốn hết râu lại, như vậy sẽ chẳng ai nhận ra được.
Tối đó, Hồ Chí Minh gặp mặt Mao Chủ tịch, Chu Ân Lai và Ủy viên trưởng Chu Đức một cách suôn sẻ. Mao Chủ tịch còn đích thân đi cùng Hồ Chí Minh ra ngoài lầu thành, ngồi trên mội chiếc ghế nhỏ xem pháo hoa. Trương Đức Duy nhớ lại: “Hai vị chủ tịch đều xem rất hào hứng, trao đổi với nhau bên nào bắn đẹp hơn, tôi đứng đằng sau làm phiên dịch”. 
Trên đường về chỗ ở, Hồ Chí Minh cảm khái nói Mao Chủ tịch, Chu Ân Lai đã quá quan tâm đến ông! “Không ngờ lại chu đáo đến vậy, còn thân thiết hơn cả đồng chí và anh em!”  

Giây phút hấp hối

Ông đã chứng kiến những giờ phút cuối cùng của Hồ Chí Minh
Trong khoảng thời gian 2 năm tiếp đó, Tổ chăm sóc y tế còn từng 3 lần đến Hà Nội chữa bệnh cho Hồ Chí Minh. Mùa hè năm 1969, Hồ Chí Minh muốn để cho Tổ chăm sóc y tế được về Trung Quốc nghỉ phép 1 tháng, tiện thể nhờ Trương Đức Duy mang thư đến cho Thủ tướng Chu Ân Lai luôn.   
“Thư ông đã tự mình viết xong, chủ yếu là bày tỏ sự cảm ơn và nguyện vọng muốn sang Trung Quốc lần nữa. Tôi dịch ra tiếng Trung, ông xem rồi ký 3 chữ Hồ Chí Minh bằng chữ Hán”.
Vào trung tuần tháng 8 năm đó, Hồ Chí Minh ra ngoài đi thị sát đột nhiên bị cảm, dẫn đến viêm phế quản cấp, từng bị choáng mất một lúc. Cả bệnh tim và bệnh mạch máu não cùng phát, tiếp đến viêm phế quản chuyển thành viêm phổi cấp.
Bắt đầu từ ngày 25 tháng 8, Bắc Kinh điều sang thêm liên tiếp 2 tốp chuyên gia và đội chăm sóc y tế Đông, Tây y…, mang theo các loại thuốc cấp cứu và dụng cụ đáp chuyên cơ tới Hà Nội. Các thầy thuốc Trung Quốc thay phiên túc trực ngày đêm bên giường bệnh Hồ Chí Minh, đã dùng một loạt các biện pháp trị liệu, nhưng đều không thấy có hiệu quả.
“Tôi còn nhớ rất rõ, trong những ngày tháng cuối cùng ấy, ông cụ tỏ ra rất yên lặng”. Trương Đức Duy nói, ông luôn ở trước giường Hồ Chí Minh, có lần Hồ Chí Minh bị hôn mê khi tỉnh lại, nhìn thấy  hộ lý Trung Quốc đứng bên giường còn yêu cầu các cô hát.  
Hai cô hộ lý liền khẽ hát bài hát “Ca ngợi xã hội chủ nghĩa” đã quen thuộc với mọi người.[3] Hồ Chí Minh nghe xong mỉm cười gật đầu, mãn nguyện chìm vào giấc ngủ.
Rạng sáng ngày 2 tháng 9, Hồ Chí Minh đã không còn tự chủ được hơi thở, tim ngừng đập hoàn toàn. Các bác sĩ Trung Quốc đã sử dụng mọi loại thiết bị, nhưng cuối cùng vẫn không thể hồi phục được nhịp tim cho ông cụ.
Ba tốp chuyên gia chăm sóc y tế do Chu Ân Lai lệnh điều thêm vào ngày hôm đó còn chưa kịp tới Hà Nội thì tử thần đã cướp đi mất sinh mạng của Hồ Chí Minh. Đồng hồ điểm đúng 9 giờ 47 phút ngày 2 tháng 9 năm 1969, Hồ Chí Minh đã không vượt qua nổi cái mốc 79 tuổi.
(Nguồn:  “Báo Pháp chế buổi chiều”)
Bản tiếng Việt © Việt sử ký 2012

[1] Một món ăn dưỡng sinh của Trung Quốc -ND.
[2] “Tanh” ở đây là gọi thức ăn đối lập với “chay”-ND.
[3] Nguyên văn: 《社会主义好》.  Bài ca cách mạng ra đời khi nước Trung Quốc mới được thành lập. – ND.
-