Thứ Bảy, 21 tháng 4, 2012

Có hay không tổ chức A.B ở Việt Nam trước năm 1945?


TẠP CHÍ XƯA&NAY

Có hay không tổ chức A.B ở Việt Nam trước năm 1945?

Số 401 (4 – 2012)
Mạch Quang Thắng
A.B là viết tắt tiếng Pháp Anti-bol -chévik có nghĩa là phần tử hoặc tổ chức giả danh  cộng sản chui vào hàng ngũ của đảng bônsêvích (đảng cộng sản) để phá hoại đảng cộng sản. Một vấn đề còn chưa được làm sáng tỏ trong lịch sử Việt Nam là: trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, ở Việt Nam có hay không có tổ chức A.B (“A.B đoàn”)?
Một số ý kiến cho là có. Một số ý kiến ngược lại, cho là không.
Một số ý kiến cho là có “A.B đoàn” này thì viện dẫn ý kiến của X.X.X (bút danh của Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Đông Dương Trường Chinh) đăng trên báo Cờ Giải Phóng (tờ báo của Đảng Cộng sản Đông Dương), số 9, ngày 25-12-1944. Bài báo này có tên là “Kinh nghiệm công tác làm thế nào nhận biết một phần tử là A.B”. Bài báo viết rằng, bọn đế quốc biết không thể đánh đập, tù đày, chém giết mà phá được Đảng ta, nên chúng phải dùng bọn A.B cho đeo mặt nạ vào Đảng để ngầm phá Đảng. Chúng ta phải hết sức tỉnh táo, hằng giờ, hằng phút kiểm tra hàng ngũ để tìm ra bọn A.B đặng kịp thời đối phó. Bọn A.B thường có những tư cách hay hành động như dưới đây:
a) Hay tò mò, hay điều tra người này để biết người kia, hay bóc thư trộm.
b) Hay ăn mặc xa xỉ, tiêu hoang và thường có nhiều tiền tiêu.
c) Hay đi lại bất thường khó kiểm soát nổi.
d) Hay giao dịch với những người tung tích mờ ám hoặc đáng ngờ.
đ) Hay thả tin vịt để tâng bốc lực lượng đế quốc, gieo sợ sệt trong hàng ngũ Đảng.
e) Hay đặt chuyện để gièm pha các đồng chí tốt và làm mất tín nhiệm các đồng chí ấy.
g) Hay ngửa tay hứng lấy những việc mạo hiểm để gây tín nhiệm và có khi làm được những việc kỳ quái mà người khác không làm nổi” (1) . Ngày 27-6-1945, trong cao trào đấu tranh giành chính quyền, Ban Thường vụ Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương gửi thư cho các đồng chí ở Trung kỳ. Bức thư có đoạn:
“Mấy năm nay trong khi phần đông các chiến sĩ trung thực bị nhốt trong lao thì một bọn mạo danh cộng  sản,  gia nhập “A.B đoàn”, đeo chiêu bài cựu chính trị phạm mà lừa dân, phá Đảng. Những vụ khủng bố hàng trăm, có khi hàng nghìn người, những vụ bắt bớ các đồng chí phụ trách quan trọng không những đã chứng tỏ thủ đoạn dã man cực điểm của đế quốc, còn chỉ rõ tội ác của bọn A.B nữa!
Đảng bộ Trung Kỳ vì sao mà ốm yếu, vì sao mà rời rã? Chính vì bọn A.B. Nhiệm vụ trước mắt của các đồng chí Trung kỳ lúc này là phải cải tổ các tổ chức của Đảng từ trên đến dưới, định rõ tội trạng của bọn A.B từng nơi, tẩy trừ những phần tử khả nghi, cơ hội,  bè phái, không trung thành ra khỏi hàng ngũ Đảng…”(2).
Từ các văn bản “gốc” này mà sinh ra nhiều nhận định của các cuốn sách lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam viết về sau này. Một số cuốn sách đó cho rằng, các thời kỳ vận động cách mạng 1930-1945 của Đảng (Đảng Cộng sản Việt Nam, Đảng Cộng sản Đông Dương), đặc biệt là ở các giai đoạn 1936-1939, 1939-1945, ở Việt Nam đã tồn tại “A.B đoàn”, và đương nhiên đã có tổ chức thì có những phần tử A.B.
Sau đây, xin dẫn ra một số cuốn sách có nhận định trên:
Cuốn Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Sơ thảo, tập I,  1920-1954 do Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng Trung ương (sau là Viện Lịch sử Đảng thuộc Viện Nghiên cứu chủ nghĩa  Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh) biên soạn dưới sự chủ trì của GS. Nguyễn Văn  Phùng (Nxb Sự thật, Hà Nội, 1982), ở các trang 353-354 có đoạn viết: Trong việc xây dựng và củng cố tổ chức Đảng, Đảng thường xuyên quan tâm đến việc xiết chặt hàng ngũ, tăng cường sự đoàn kết thống nhất của toàn Đảng trên cơ sở đường lối đúng đắn, thanh toán triệt để những khuynh hướng chia rẽ, bè phái trong Đảng. Chủ trương tăng  cường đoàn kết thống nhất trong Đảng được gắn liền với chủ trương không ngừng nâng cao cảnh giác, ngăn ngừa bọn A.B. chui vào Đảng để phá Đảng từ trong phá ra. Năm 1941, ở miền Bắc, Đảng đã kịp thời  khám phá vụ tên Công âm mưu lôi kéo một vài đồng chí bất mãn trong Xứ ủy Bắc kỳ hòng chống lại Trung ương, gây bè phái trong Đảng. Ở miền Trung, Đảng cũng khám phá được bọn A.B. do tên Đinh Văn Di cầm đầu, chui vào Đảng và hoạt động phá hoại, chia rẽ một thời gian dài, gây cho Đảng nhiều thiệt hại nghiêm trọng”.
Cuốn Lịch sử Cách mạng tháng Tám năm 1945 (Nxb CTQG, HN, 1995) do Viện Lịch sử Đảng thuộc Viện Nghiên cứu chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh viết, ở trang 41-42, sau khi nêu lên cao trào cứu nước ở các địa phương trong  những năm tiến tới khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945, có nêu: “Song sự vươn lên của phong trào đã làm cho địch chú ý đánh phá ngày càng dữ dội hơn. Bọn A.B cũng ra sức  hoạt động, gây cho phong trào nhiều tổn thất, nội bộ lãnh đạo thiếu thống  nhất, nghi  ngờ  lẫn  nhau. Hầu hết cán bộ của Xứ và Tỉnh ủy QuảngNam bị bắt, nhiều cơ sở bị vỡ. Xứ ủy Trung kỳ vừa được khôi phục, hoạt động được hơn nửa năm thì bị vỡ. Đây là một khó khăn lớn đối với việc xây dựng phong trào cách mạng ở các tỉnh Trung kỳ”.
Một điều chắc chắn là rất nhiều cuốn sách lịch sử đảng bộ của địa phương (chủ yếu là tỉnh) đều có nhận định tương tự, nghĩa là đều nêu có tổ chức và phần tử A.B phá hoại trong giai đoạn đấu tranh giành chính quyền. Xin nêu điển hình là cuốn  Lịch sử Đảng bộ Nghệ An, tập I (1930-1954) do BCH Đảng bộ ĐCSVN tỉnh Nghệ An biên soạn (Nxb CTQG, HN, 1998), ở các trang 148-149 có đoạn viết: Trong thời gian sau Hội nghị Trung ương Đảng tháng 5-1941, “trước thủ đoạn thâm độc của mật thám Pháp, một số ít đảng  viên, cán bộ đã có biểu hiện hoang mang dao động, cầu an, trong đó có kẻ phản bội, tiếp  tay cho địch phá hoại tổ chức đảng và phong trào cách mạng. Tình hình trên không chỉ riêng ở Nghệ An mà trong toàn quốc, nhiều nơi phong trào cách mạng cũng bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Ngày 26-8-1943, báo Cờ Giải Phóng đăng bài Đừng mắc mưu địch của Tân Trào (Trường Chinh) (3). Bài báo vạch trần âm mưu, thủ đoạn phá hoại tinh vi, thâm độc của địch. Chúng đã “tìm hết cách gieo mối hoài nghi, chia rẽ trong hàng ngũ cách mạng”; đồng thời nhắc nhở các cấp bộ đảng phải tăng cường cảnh giác, kịp thời phát hiện và chống lại những thủ đoạn của địch: “…Phải kịp thời nhận rõ bọn khiêu khích đeo mặt nạ len vào Đảng, phải tích cực đấu tranh chống bọn A.B, nhưng phải phân biệt chân giả, đừng mắc mưu gian của lũ phát xít mà để cho hoài nghi chủ nghĩa giam hãm cõi lòng”.
Những nhận định trên còn có mặt trong các cuốn sách giáo khoa, giáo trình dùng cho nhà trường, như cuốn giáo trình Lịch sử Đảng Cộng sản ViệtNam, tập I của Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp biên soạn (Nxb Đại học và giáo dục chuyên nghiệp, Hà Nội, 1988).
Cũng như cuốn giáo trình Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam (Nxb CTQG, HN, 2001), do 13 người biên soạn với 8 cộng tác viên đặt dưới sự chỉ đạo của Hội đồng Trung ương chỉ đạo biên soạn giáo trình quốc gia các bộ môn khoa học Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.
Tôi cho rằng, cho đến thời điểm hiện nay, chưa có chứng cớ nào chắc  chắn chứng minh rằng, ở Việt Nam trong thời  kỳ trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945 có tổ chức A.B (“A.B đoàn”) và các phần tử A.B.
Nhận định này của tôi dựa trên những lập luận sau đây:
Trong thực tế lịch sử ĐCSVN từ khi thành lập đến nay, chưa bao giờ Đảng thực sự phát hiện được tổ chức A.B. Bởi vì một lý do đơn giản là tổ chức này không tồn tại trên thực tế. Trong từ điển tiếng Nga, tiếng Pháp và cả trong từ điển bách khoa, không hề có những từ này.
Nếu có tổ chức A.B, thì mô tả tổ chức này (hoặc thường được gọi trong nhiều tài liệu là  “A.B  đoàn”) cụ thể thế nào? Nghĩa là tổ chức này hình thù ra sao, được cấu tạo như thế nào, ra đời ở đâu, chân rết như thế nào, ai cầm đầu, lực lượng bố trí ra sao, có bao  nhiêu  người? Trong các tài liệu, sách, thậm chí trong cả các tài liệu lưu trữ, tài liệu của mật thám Pháp thời kỳ trước năm 1945, không hề có một dòng nào mô tả về tổ chức này.
Các cuốn sách “chính sử” (tôi tạm gọi như thế) đã viết nhiều, đã có tính khẳng định là ở Việt Nam trong các giai đoạn đấu tranh giành chính quyền, có tổ chức và các phần tử A.B. Tôi cho rằng, sở dĩ như vậy là căn cứ vào các bài báo của đồng chí Tổng Bí thư Trường Chinh cuối năm 1944 cũng như bức thư của Ban Thường vụ Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương ngày 27-6-1945 gửi các đồng chí Trung kỳ.  Rồi từ đó là những  chuỗi viết theo, cuốn sau viết theo cuốn  trước mà chưa đưa ra một chứng cứ nào xác đáng để chứng minh tổ chức A.B là có thật ở Việt Nam trong những năm đó.
Những năm 70 của thế kỷ XX, trong quá trình nghiên cứu và biên soạn lịch sử Đảng bộ  tỉnh Nghệ An, một số cán bộ ở Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng thuộc Tỉnh ủy Nghệ An đã tiến hành xác minh bài báo của đồng chí Tân Trào (Trường Chinh) đăng trên báo Cờ Giải Phóng , khi ra Hà Nội có hỏi đồng chí Trường Chinh về bài báo có nội dung đề cập tổ chức A.B, thì đồng chí Trường Chinh nói rằng: “Lúc đó, có đồng chí ở Trung kỳ ra phản  ánh tình hình, trên cơ sở đó tôi viết bài báo này để nhắc nhở chung, nhưng không có điều kiện để thẩm tra xác minh sự việc cụ thể” (4). Trong các văn kiện Đảng, trừ Thư của Ban Thường vụ Trung ương ĐCSĐD gửi các đồng chí Trung kỳ ngày 27-6-1945, còn lại thì không thấy bất kỳ một tài liệu chính thức nào nữa đề cập tổ chức A.B. Đặc biệt, tại Hội nghị Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương tháng 11 năm 1939 trong bối cảnh thực dân Pháp đang khủng bố mạnh sau một thời gian Đảng hoạt động công khai, bán công khai, và trong thời kỳ bắt đầu chuyển hướng chỉ đạo chiến lược, tập trung vào nhiệm vụ giải phóng dân tộc, cũng không thấy đề cập tổ chức A.B mà chỉ lưu ý đến việc chống  sự  khiêu  khích của mật thám. Cả hai Hội nghị Trung ương ĐCSĐD sau đó (Hội  nghị cuối năm 1940 tại Bắc Ninh và Hội nghị do Nguyễn Ái Quốc chủ trì tháng 5-1941 tại Pác Bó (Cao Bằng) cũng không nói đến tổ chức A.B.
Trong Nghị quyết Hội nghị Trung ương ĐCSĐD tháng 11-1939, có đoạn viết: “Phải chú ý chống nạn khiêu khích mật thám: Nói đến sự củng cố nội bộ không thể không nói đến sự tranh đấu chống nạn khiêu khích mật thám. Sự khiêu khích mật thám là một hình thức tranh đấu của Chính phủ, của giai cấp thống trị chống với Đảng cách mệnh, các phong trào cách mệnh. Giai cấp thống trị hàng giờ hàng phút dùng hình thức tranh đấu khốn nạn ấy để phá phong trào cách mệnh. Sự thờ ơ sao nhãng của Đảng ta chống bọn khiêu khích mật thám đã đưa lại cho Đảng nhiều đau đớn [...]. Trong khi đi lại với các cơ quan phải cẩn thận, phải có cách viết, cách giao thông bí mật, các đồng chí có công việc liên lạc với nhau chỉ nói cho nhau biết những điều cần phải biết để làm việc chứ không thể nói những điều có thể nói cho nhau biết được, cái căn bản chống nạn khiêu khích mật thám là vấn đề củng cố các tổ chức và biết phân công và củ soát công việc” (5).
Việc xác định có hay không Có tổ chức A.B liên quan đến sự kiện, mà cụ thể ở đây là có hai nhân vật trong các công trình nghiên cứu cho là người của A.B đoàn: năm 1941 ở Bắc kỳ có người tên là Công, thời kỳ 1936-1939 ở Trung kỳ có Đinh Văn Di.
Thực ra, hai người này không phải là những phần tử A.B. Họ không phải là thành viên của tổ chức không có trên thực tế. Điều đáng nói là, ngoài sách và bài tạp chí đã công bố khẳng định có tổ chức A.B  ra, còn có một số tác phẩm văn học nghệ thuật cũng dựa vào đó để hư cấu, cho  à có phần tử A.B trong tổ chức A.B. Theo hồi ký của đồng chí Nguyễn Đức Dương đã nêu trên đây, thì có cuốn  “Những  mẩu chuyện trong tù” của tác giả  N.T.  (Nxb Tác phẩm mới, Hà Nội, 1981). Ngoài ra còn có vở kịch với tên là “Đêm dài” của tác giả H.P. (6) phát trên “Sân khấu truyền thanh” Đài Tiếng  nói ViệtNamtối thứ Bảy ngày 24-8-1985.
Ông Nguyễn Đức Dương  – người hoạt động cùng thời với ông  Đinh Văn Di (mà có một số người cho ông Đinh Văn Di là phần tử A.B)  –  khẳng định rằng, trong lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam không hề có tổ chức A.B. Ông Lê Duẩn – người mà ngay những năm 1938-1939 đã nghi ngờ có sự phản bội của một số đảng viên cộng sản Trung kỳ thời kỳ 1936-1939 – cũng không khẳng định có tổ chức A.B. Trường Chinh, Tổng Bí thư Đảng thời kỳ từ năm 1940 và là người viết một số bài đăng trên báo Cờ giải phóng có đề cập tổ  chức A.B thì sau này, những năm 70 của thế kỷ XX, có nói lại rằng, thời kỳ đó chỉ nghe một người ở Trung Kỳ ra báo cáo rồi viết thế chứ chưa có điều kiện xác minh lại có đúng là có tổ chức A.B haykhông.Tôi cho rằng, đã đến lúc các nhà sử học Việt Nam cần thiết đính chính sự kiện này trong các tác phẩm lịch sử của Việt Nam. Dẫu biết rằng làm việc này không  đơn giản; để xóa đi “lối mòn” đã trở thành định kiến trong không ít nhà khoa học nghiên cứu lịch sử Đảng Cộng sản ViệtNam, thì đúng vậy, quả thực không đơn giản. Song, như vậy không có nghĩa không làm. Như thế, đủ biết rằng, trách nhiệm của những  người nghiên cứu khoa học lịch sử nước nhà lớn lắm thay.
 
CHÚ THÍCH:
1. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, T.7 (1940-1945), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr.516-517. 
2. Như trên, tr.401-402.
3. Một số cuốn sách khác cũng có đề cập bài báo của Tân Trào (bút danh của đồng chí Trường Chinh) Đừng mắc mưu địch đăng trên báo Cờ Giải Phóng  ngày 26-8-1943. Nhưng, trong Văn kiện Đảng toàn tập, tập 7 (1940-1945), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, ở phần Phụ lục có đăng một số bài của đồng chí Trường Chinh trong báo Cờ Giải Phóng, nhưng rất tiếc/rất lạ là lại không thấy đăng lại bài báo Đừng mắc mưu địch.
4. Theo hồi ký của đồng chí Nguyễn Đức Dương, nguyên Bí thư Tỉnh ủy Nghệ An từ tháng 4-1938 đến tháng 3-1939. Đoạn ghi lại lời nói trên đây của đồng chí Trường Chinh  là do đồng chí Nguyễn Đức Dương viết lại theo báo cáo của đồng chí Nguyễn Đình Triển, nguyên Trưởng Ban Nghiên cứu lịch sử Đảng Tỉnh ủy Nghệ Tĩnh trong một Hội  nghị về lịch sử Đảng bộ Nghệ Tĩnh họp tại Hà Nội từ ngày 21-11-1984 đến ngày  25-11-1984. Tôi xin tạm sử dụng tài liệu thứ cấp này. Khi nào có điều kiện, tôi sẽ xác minh lại cho chính xác hơn. Hồi ký của đồng chí Nguyễn Đức Dương hiện lưu tại Viện Lịch sử Đảng thuộc Học viện Chính trị – Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh.
5. Đảng Cộng sản ViệtNam: Văn kiện Đảng toàn tập, tập 6, 1936-1939 Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,  2005tr.564-565.
6. Có thể là nhà viết kịch Học Phi, cũng là một nhà cách mạng lão thành (B.T.).

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét