Hiển thị các bài đăng có nhãn Võ Nguyên Giáp. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Võ Nguyên Giáp. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 16 tháng 4, 2012

TRUNG QUỐC ĐÃ HI SINH HÀNG NGÀN NGƯỜI GIÚP VIỆT NAM ĐÁNH MỸ


BÊN TRONG CHUYỆN KHÁNG MỸ VIỆN VIỆT: 

TRUNG QUỐC ĐÃ HI SINH

HÀNG NGÀN NGƯỜI

GIÚP VIỆT NAM ĐÁNH MỸ 

20.5.2011
(Không có tên tác giả)
Người dịch:  Quốc Thanh
Trung Quốc với Việt Nam là láng giềng núi liền núi sông liền sông, từ sau Cách mạng tháng 10, nhân dân và các nhà cách mạng hai nước Trung-Việt đã xây dựng nên tình đoàn kết chiến đấu sâu nặng.
 Năm 1955, sau khi quân đội Pháp bắt đầu rút quân khỏi Việt Nam theo Hiệp định Giơnevơ, Mỹ đã ngang nhiên vi phạm Hiệp định về việc khôi phục lại hòa bình ở các nước Đông Dương được thông qua tại Hội nghị Giơnevơ bằng thủ đoạn cung cấp viện trợ quân sự để thừa cơ nhanh chóng thâm nhập vào Nam Việt[i], thay thế thế lực Pháp, tăng cường sự khống chế đối với Việt Nam, hỗ trợ chính quyền Sài Gòn, ngăn trở sự thống nhất Nam-Bắc của Việt Nam, âm mưu biến Nam Việt thành thuộc địa và căn cứ quân sự của Mỹ. Vì thế, nhân dân Nam Việt buộc phải đứng lên phản kháng, tổ chức đấu tranh vũ trang chống Mỹ. Để dập tắt ngọn lửa đấu tranh của nhân dân Nam Việt, tháng 5 năm 1961, Mỹ đã phát động cuộc “chiến tranh đặc biệt” ở Nam Việt của Việt Nam do Mỹ xuất súng, xuất tiền, xuất cố vấn, còn Nam Việt thì xuất người, để người Việt Nam đánh người Việt Nam. Sau khi cuộc “chiến tranh đặc biệt” do Mỹ tiến hành ở Nam Việt bị thất bại, vào ngày 5.8.1964, lấy cớ quân hạm của mình bị quân Bắc Việt [ii] bắn ở ven biển Việt Nam thuộc vịnh Bắc Bộ, cái gọi là “Sự kiện vịnh Bắc Bộ”, Mỹ đã điều hàng loạt máy bay tới bắt đầu ném bom Bắc Việt. Đây lại là sự leo thang mới can thiệp vũ trang của Mỹ.    
 Trung tuần tháng 3.1965, Mỹ điều 3500 thủy quân lục chiến đổ bộ lên cảng Cam Ranh, điều các lực lượng mặt đất khác tiến vào tham chiến ở Nam Việt, đồng thời tăng cường ném bom xuống Miền Bắc Việt Nam.
Từ đó, cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam của Mỹ đã diễn tiến thành cuộc chiến tranh toàn diện với đặc điểm quân Mỹ là chủ thể, “đánh Miền Nam, ném bom Miền Bắc”. Đồng thời, máy bay quân sự Mỹ cũng liên tục xâm nhập vào vùng trời khu vực đảo Hải Nam và Vân Nam, Quảng Tây để ném bom và phóng tên lửa, làm chết và làm bị thương các thuyền viên và chiến sĩ giải phóng quân Trung Quốc. Báo chí Mỹ thì nhân cơ hội này trắng trợn tuyên truyền rằng trong chiến tranh Việt Nam sẽ không có chuyện “ẩn náu” như trong chiến tranh Triều Tiên, mà quân đội Mỹ sẽ thực hiện “tìm diệt”… An ninh Trung Quốc bị đe dọa nghiêm trọng. Nhân dân Việt Nam anh hùng, dưới sự lãnh đạo của Hồ Chí Minh và Đảng Lao động Việt Nam, đã tích cực lao vào cuộc đấu tranh chống Mỹ cứu nước “bảo vệ Miền bắc, giải phóng Miền nam, thống nhất đất nước”. Đồng thời, chính phủ Việt Nam không ngừng vạch mặt và tố cáo hành động tội ác xâm lược của Mỹ với nhân dân thế giới, kêu gọi sự viện trợ quốc tế.       
 Tháng 4 năm 1965, Bí thư thứ nhất Đảng Lao động Việt Nam Lê Duẩn, Phó thủ tướng chính phủ kiêm Bộ trưởng Bộ quốc phòng Võ Nguyên Giáp…, được sự ủy nhiệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đã dẫn đầu Đoàn đại biểu Đảng, chính phủ và quân đội đi thăm Trung Quốc, yêu cầu Trung Quốc mở rộng quy mô viện trợ và điều bộ đội chi viện cho Việt Nam. Lê Duẩn nói, “chúng tôi muốn mời một số phi công chí nguyện quân, chiến sĩ chí nguyện quân…, các phương diện khác thì phải có nhân viên, bao gồm cả những nhân viên về đường sá, cầu cống trong số đó”. Đảng và chính phủ Trung Quốc đã thỏa mãn yêu cầu của phía Việt Nam. Trong cuộc hội đàm hai Đảng Trung-Việt được tổ chức ngày 8 tháng 4, Phó chủ tịch Ban chấp hành Trung ương Lưu Thiếu Kỳ thay mặt phía Trung Quốc bày tỏ: Viện trợ Việt Nam tiến hành đấu tranh chống Mỹ, “đây là nghĩa vụ mà Trung Quốc chúng tôi phải làm hết sức mình, là nghĩa vụ mà Đảng Trung Quốc phải làm hết sức mình”; “phương châm của chúng tôi là hễ các bạn yêu cầu là chúng tôi có mặt, chúng tôi phải viện trợ hết mức cho các bạn”; “các bạn không mời chúng tôi không tới. Các bạn mời những ai, chúng tôi sẽ tới những người đó”. Ở lần hội đàm này, hai phía Trung-Việt đã ký kết bản Hiệp định  về việc điều bộ đội chi viện Trung Quốc cho Việt Nam. Ngày 12 tháng 4, Trung ương ra chỉ thị về tăng cường công tác sẵn sàng chiến đấu, kêu gọi toàn Đảng, toàn quân và toàn thể nhân dân về mặt tư tưởng và công tác chuẩn bị ứng đối với những tình thế nghiêm trọng nhất, phát huy tinh thần yêu nước và tinh thần quốc tế, chi viện cho cuộc đấu tranh chống Mỹ của nhân dân Việt Nam bằng tất cả những gì có thể.    
Để tổ chức chi viện cho Việt Nam một cách thống nhất, và xử lý những vấn đề đối ngoại liên quan đến chi viện cho Việt Nam một cách thống nhất, Thủ tướng Chu Ân Lai quyết định tổ chức các bộ phận có liên quan thuộc Trung ương, Quốc vụ viện và quân đội thành “Nhóm chi viện Việt Nam của Trung ương và Quốc vụ viện”. Nhóm này được hợp thành từ những đồng chí phụ trách có liên quan của 21 đơn vị như Bộ ngoại giao, Bộ đường sắt, Bộ giao thông, Bộ bưu chính, Bộ vật tư, Bộ ngoại thương, Ủy ban kinh tế, Ủy ban kế hoạch, Ủy ban kinh tế đối ngoại, Tổng cục chính trị, Tổng cục hậu cần, hải quân, không quân, bộ đội đường sắt, bộ đội kỹ thuật công trình, Ban tổng tham mưu tác chiến, Ban quân vụ, Ban vũ trang, Ban giao thông quân sự, Ban thông tin, Ban tình báo… Theo đó, giải phóng quân nhân dân Trung Quốc  sẽ đến Miền Bắc Việt Nam để chấp hành việc triển khai toàn diện công tác chuẩn bị cho nhiệm vụ chi viện Việt Nam chống Mỹ. Cơ quan Bộ tổng tham mưu giải phóng quân nhân dân Trung Quốc căn cứ theo quyết định của Quân ủy trung ương, đã nhiều lần mở hội nghị nghiên cứu triển khai các công việc thành lập, vận hành và nhiệm vụ…của bộ đội chi viện. Ngày 18 tháng 4, Bộ tổng tham mưu đã ban mệnh lệnh sẵn cho bộ đội kỹ thuật công trình, đường sắt…chi viện Việt Nam, đã quyết định thành lập “Đội kỹ thuật công trình tình nguyện của nhân dân Trung Quốc” tới Việt Nam thừa hành các nhiệm vụ tu sửa cấp tốc, sửa chữa đường sắt, xây dựng công trình quốc phòng và xây dựng sân bay. Ngày 6 tháng 7, Bộ tổng tham mưu lại ban mệnh lệnh sẵn về việc tổ chức 10 vạn bộ đội kỹ thuật chi viện Việt Nam làm đường quốc lộ. Đồng thời, Bộ tổng tham mưu đã tập kết bộ đội pháo cao xạ đang đợi lệnh làm tốt mọi khâu chuẩn bị lên đường. Tổng cục chính trị đã ban hành “Điều lệ về kỷ luật cho nhân viên bộ đội chi viện Việt Nam chống Mỹ”. Nhân viên các đơn vị tiếp nhận nhiệm vụ chi viện Việt Nam hết sức sôi nổi mạnh mẽ, chỉ trong thời gian ngắn đã nhanh chóng hoàn thành được công tác chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu tới Việt Nam thừa hành nhiệm vụ.
Bí mật tới Việt Nam
Cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam“đánh Miền Nam, ném bom Miền Bắc” của Mỹ ngày càng khốc liệt.
   Năm 1967, hao tổn chi phí quân sự của Mỹ là khoảng 30 tỷ đôla Mỹ. Ở Miền Nam Việt Nam, lính tác chiến mặt đất của quân Mỹ tiếp tục được đưa vào, đến tháng 3 năm 1967, số quân Mỹ ở Miền Nam đã lên tới 56 vạn, ngoài ra còn có hơn 7,2 vạn quân các nước Ôxtrâylia, New Zealand, Nam Triều Tiên…; không quân Mỹ ném bom Miền Bắc, dịch ra phía bắc từ 20º vĩ bắc ở phía nam, mở rộng cho đến cả vùng đệm ở biên giới Trung-Việt. Những nơi ban đầu được xếp vào khu cấm ném bom cũng đã trở thành mục tiêu bắn phá điên cuồng. Theo tuyên bố của Bộ quốc phòng Mỹ, từ 2.1965 đến 11.1968, không quân Mỹ đã tiến hành không kích Miền Bắc Việt Nam tới 107.700 lần, ném xuống 258 vạn tấn bom, bình quân mỗi km2 ở Bắc Việt hứng chịu 16,2 tấn, mật độ ném bom vượt xa so với bất cứ cuộc chiến nào trong lịch sử, Miền Bắc Việt Nam khói lửa mịt mù, Miền Nam chiến tranh khắp mọi nơi, dân tộc Việt Nam đứng trước thảm họa chưa từng thấy, chiến tranh Việt Nam lại phát triển thành cuộc chiến tranh cục bộ xâm lược và phản xâm lược tiếp theo cuộc chiến tranh Triều Tiên kể từ sau Đại chiến thế giới II.         
    Đứng trước cuộc xâm lược vũ trang của Mỹ, Trung ương Đảng lao động Việt Nam đứng đầu là Hồ Chí Minh đã lãnh đạo nhân dân Miền Nam và Miền Bắc mở rộng cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước vô cùng gian khổ. Đồng thời chính phủ Việt Nam đã yêu cầu chính phủ Trung Quốc điều bộ đội chi viện tới viện trợ. Vì thế, từ 6.1965 đến 8.1973, Trung Quốc đã lần lượt điều lính cao xạ pháo, kỹ sư công trình, đường sắt, rà phá bom mìn, hậu cần…, tổng cộng hơn 32 vạn quân, năm cao nhất lên tới hơn 17 vạn, thừa hành các nhiệm vụ phòng không, tác chiến, làm đường, xây dựng công trình quốc phòng, rà phá bom mìn và bảo đảm hậu cần… ở Miền Bắc Việt Nam. Chặng đường trải qua gian nan mà vinh quang của bộ đội chi viện Trung Quốc tại Việt Nam được chia làm 2 giai đoạn:   
Giai đoạn 1: Bắt đầu từ 6.1965 và kết thúc vào 7.1970. Giai đoạn này là giai đoạn ác liệt nhất và gian khổ nhất của cuộc chiến tranh Việt Nam. Trung Quốc điều 32 vạn lính chi viện, thừa hành các nhiệm vụ tác chiến phòng không, sửa chữa và tu sửa cấp tốc đường sắt, sân bay, thông tin liên lạc, kỹ thuật công trình, xây dựng công trình quốc phòng… Tình trạng thời chiến của họ là:
 Bộ đội phòng không tới Việt Nam hiệp trợ Miền Bắc tác chiến phòng không, bảo vệ đường giao thông. Theo Hiệp định giữa hai quân đội Trung-Việt và theo lời mời của Bộ tổng tham mưu quân đội Việt Nam ngày 14.7.1965, đợt bộ đội pháo cao xạ chi viện Việt Nam đầu tiên đã vào Việt Nam ngày 1.8.1965. Đợt thứ nhất là 3 phân đội (nguyên văn “chi đội”) 61, 62 và 63, lần lượt từ Vân Nam, Quảng Tây vào Việt Nam tác chiến ở Miền Bắc, đến 2.1966 về nước; đợt thứ 2, bộ đội pháo cao xạ vào Việt Nam tác chiến từ 2.1966, đến 10.1966 về nước; đợt thứ 3, bộ đội pháo cao xạ vào Việt Nam tác chiến từ 10.1966, đến 6.1967 về nước; đợt thứ 4, bộ đội pháo cao xạ vào Việt Nam tác chiến từ 1.1967, đến 8.1967 về nước; đợt thứ 5, bộ đội pháo cao xạ vào Việt Nam tác chiến từ 5.1967, đến 1.1968 về nước; đợt thứ 6, bộ đội pháo cao xạ vào Việt Nam tác chiến từ 6.1967, đến 1.1968 về nước; đợt thứ 7, bộ đội pháo binh cao xạ vào Việt Nam tác chiến từ 8.1967, đến 3.1968 về nước; đợt thứ 8, bộ đội pháo cao xạ vào Việt Nam tác chiến từ 1.1968, đến 2.1969 về nước; đợt thứ 9, bộ đội pháo cao xạ vào Việt Nam tác chiến từ 3.1968, đến 2.1969 về nước. Đến 4.1969 thì ngừng. Bộ đội pháo cao xạ vào Việt Nam luân phiên tác chiến, có 16 phân đội , 63 trung đoàn trực thuộc và 50 đội thuộc tiểu đoàn pháo cao xạ, một bộ phận đại đội súng cao nòng và phân đội hậu cần…, tổng cộng hơn 15 vạn người. Chủ yếu đảm nhận nhiệm vụ tác chiến phòng không đoạn từ Bắc Ninh đến Lạng Sơn thuộc tuyến đường sắt Hà Nội-Hữu nghị quan, đoạn từ Yên Bái đến Lào Cai thuộc tuyến đường sắt Hà Nội-Lào Cai, tuyến đường sắt Kép-Thái Nguyên mới mở và Khu gang thép Thái Nguyên, đồng thời yểm hộ thi công của bộ đội kỹ sư công trình chi viện Việt Nam của Trung Quốc.                          
      Máy bay Mỹ ném bom Miền Bắc Việt Namvới chiến thuật thay đổi lắt léo. Với mục tiêu dưới đất thì thực hiện ném bom bừa bãi; với bộ đội phòng không thì gây nhiễu điện tử rađa ngắm pháo, sử dụng tên lửa chống rađa “Chim bách thanh” (“Shrike”); với người, sử dụng các loại bom bi, bom từ trường và bom bướm… gây sát thương lớn.
 Nhằm vào những đặc điểm thay đổi chiến thuật của máy bay Mỹ, vũ khí mới và ném bom bừa bãi có sức sát thương mạnh…, bộ đội pháo cao xạ đã áp dụng chiến thuật kết hợp giữa xây công sự trọng điểm với tác chiến cơ động và cách đánh cận chiến tập trung hỏa lực, giành lại chủ động từ thế bị động, tiêu diệt máy bay Mỹ, bảo vệ an toàn cho mục tiêu. Trong 3 năm 9 tháng tác chiến phòng không chi viện Việt Nam chống Mỹ, tổng cộng đã tác chiến 2153 lần, bắn rơi 1707 chiếc, bắn bị thương 1608 chiếc, giáng một đòn nặng vào quân xâm lược Mỹ, bảo vệ vùng trời Miền Bắc Việt Nam, ủng hộ mạnh mẽ cuộc đấu tranh chống Mỹ cứu nước của nhân dân Việt Nam. Ngày 31.3.1968, chính phủ Mỹ gây áp lực với trong nước và quốc tế, bắt đầu “leo thang” ném bom Miền Bắc Việt Nam. Ngày 31.5, chính phủ hai nước Việt-Mỹ đã bắt đầu cuộc đàm phán hòa bình ở Paris. Từ 1.11, quân Mỹ ngừng ném bom Miền Bắc Việt Nam. Theo đó, với sự đồng ý của chính phủ hai nước, bộ đội pháo cao xạ chi viện Việt Nam của Trung Quốc lần lượt về nước trước hạn 4.1969.     
Giúp xây dựng hai sân bay hiện đại Nội Bài, Yên Bái và hang máy bay. Sân bay vốn có của Miền Bắc Việt Nam không đủ sức cho máy bay phản lực lên xuống, gây ảnh hưởng rất lớn cho tác chiến chống Mỹ. Theo yêu cầu của chính phủ Việt Nam, Cục không quân và hàng không dân dụng Trung Quốc trong khoảng thời gian từ năm 1961 đến năm 1965 đã cử các nhóm chuyên gia tới tiến hành thiết kế, chỉ đạo, đồng thời cũng cấp các thiết bị và nguyên liệu lắp ráp. Hang máy bay của sân bay do Phân đội 7 của Trung Quốc chi viện xây dựng từ 16.9.1968 đến 5.11.1969. Tháng 1 năm 1965, Việt Nam yêu cầu Trung Quốc giúp xây dựng một sân bay không quân ở Yên Bái. Tháng 5, Phân đội 3 của Trung Quốc chi viện xây dựng công trình sân bay này đã cử nhân viên tới Yên Bái trước, bắt đầu thiết kế thăm dò hiện trường. Sân bay Yên Bái có địa hình phức tạp, nằm kề Sông Hồng, có núi bao quanh. Yên Bái còn là một trong những trọng điểm không kích của Mỹ, cả thành phố lại bị ném bom tan nát. Phân đội 3 chính thức bắt đầu động thổ vào 22.11, trải qua 3 năm 6 tháng gian khổ nỗ lực, đã hoàn thành toàn bộ vào 21.5.1969. Hang máy bay của sân bay này được khởi công  vào 9.1968, hoàn thành trước thời hạn vào 27.10 cùng năm, chất lượng công trình rất tốt.       
 Phân đội 1 bộ đội chi viện Trung Quốc tới Việt Nam tu sửa cấp tốc, cải tạo sửa chữa, làm mới đường sắt. Đầu năm 1965, Mỹ leo thang trong cuộc chiến tranh Việt Nam, liên tục tiến hành không kích Miền Bắc Việt Nam, chỉ từ ngày 3 đến ngày 6 tháng 4, đã điều rất nhiều máy bay liên tục ném bom xuống 5 chiếc cầu đường sắt. Do máy bay địch ném bom phá hoại, Miền Bắc Việt Nam về cơ bản đã bị rơi vào tình trạng tê liệt chỉ còn có vài tuyến đường sắt. Ngày 27 tháng 4, chính phủ hai nước Trung-Việt đã ký kết Nghị định thư về việc giúp Việt Nam xây dựng đường sắt và cung cấp thiết bị vận tải. Số hạng mục công trình đường sắt mà Trung Quốc giúp Việt Nam xây dựng ở khu vực phía bắc Hà Nội đã lên đến con số 100, Phân đội 1 tới vào 23.6.1965, chia làm hai ngả vào Việt Nam từ Hà Khẩu và Hữu Nghị Quan, thừa hành nhiệm vụ tu sửa cấp tốc, xây dựng cấp tốc đường sắt ở khu vực phía bắc Hà Nội. Chỉ huy các chiến binh khắc phục những khó khăn như máy bay Mỹ ném bom, mưa rừng nhiệt đới, nước lũ dâng và không dễ có được nguyên vật liệu ngay tại chỗ…, chiến đấu cho đến 5.6.1970, đã hoàn thành trước thời hạn các hạng mục công trình. Tổng cộng đã hoàn thành việc xây dựng 117 km đường sắt, sửa chữa 362 km đường sắt, , xây dựng cấp tố 98 công trình sẵn sàng chiến đấu đường sắt, xây mới 30 cầu đường sắt, 14 đường hầm, xây mới 20 ga xép đường sắt, lắp đặt 1023 cặp đường thông tin liên lạc, lắp đặt 8 km đường cáp thông tin dưới nước. Hoàn thành tốt đẹp các công trình chi viện đường sắt không những làm cho chiều dài của các tuyến  đường sắt ở khu vực phía bắc Hà Nội từ 508 km được tăng lên đến 554 km, mà còn kết các đoạn đường sắt thành mạng lưới, khiến cho năng lực vận chuyển nâng cao gấp bội, năng lực vận chuyển đường sắt chỉ riêng tuyến Hà Nội-Hữu nghị quan đã từ 146 vạn tấn tăng lên đến 280 vạn tấn, bảo đảm chắc chắn nhu cầu vận chuyển cho cuộc chiến tranh chống Mỹ của Việt Nam.    
Đồng thời, phân đội 1 theo hiệp định giữa hai nước Trung-Việt, đã đảm nhận công tác bảo vệ tuyến đường sắt nói trên và hoàn thành đầy đủ nhiệm vụ, bảo đảm được sự thông suốt cho các tuyến đường sắt ở khu vực phía bắc Hà Nội, góp phần vào sự thắng lợi của cuộc chiến tranh chống Mỹ của Việt Nam. Vào 1.7.1970, toàn phân đội đã về nước theo lệnh.   
Bộ đội kỹ thuật công trình xây dựng đường quốc lộ hữu nghị. Ngày 30.5.1965, chính phủ hai nước Trung-Việt đã ký kết “Hiệp định về việc giúp Việt Nam xây dựng đường quốc lộ” và nghị định thư, Trung Quốc điều bộ đội kỹ thuật công trình giúp Việt Nam xây dựng đường quốc lộ.
Xây dựng và cải tạo 7 đường quốc lộ 1, 3, 7, 8, 10, 11, 12. Dự kiến tổng chiều dài là 1211 km, trong đó làm mới 664 km, sửa chữa 547 km. Các phân đội 4, 5, 6 bộ đội hậu cần Trung Quốc đảm nhận nhiệm vụ giúp Việt Nam làm đường, quản lí 16 trung đoàn, 1 tổng đội dân công, 25 đội đo đạc thiết kế và 4 đội khoan thăm dò, cộng thêm bộ đội của 6 tiểu đoàn pháo cao xạ và một phần phân đội pháo cao nòng…, tất cả hơn 8 vạn người. Dưới sự thống lĩnh của Ban chỉ huy công trình làm đường thuộc bộ đội hậu cần Trung Quốc, đã lần lượt vào Việt Nam bắt đầu từ 9.1965, bắt tay vào thi công. Bốn phân đội đảm nhận nhiệm vụ làm đường quốc lộ 1, quốc lộ 3;  năm phân đội đảm nhận nhiệm vụ làm đường quốc lộ 5, quốc lộ 11; sáu phân đội đảm nhận nhiệm vụ làm đường quốc lộ 8, quốc lộ 10, quốc lộ 12.        
Đảm nhận nhiệm vụ làm đường quốc lộ ở Việt Nam là tiến hành trong điều kiện cực kỳ khó khăn. Bộ đội kỹ thuật công trình làm đường sau khi đã hoàn thành xong nhiệm vụ làm đường theo hiệp định giữa hai nước đã về nước toàn bộ vào 10.1968. Trong khoảng thời gian hơn 3 năm, bộ đội kỹ thuật công trình làm đường thuộc hậu cần Trung Quốc đã làm 7 tuyến đường quốc lộ cùng các công trình phòng hộ cho Việt Nam, đồng thời đã bảo đảm được sự thông suốt cho các đoạn phía bắc của đường quốc lộ 7 và đường quốc lộ 2, tổng cộng đã làm 1206 km đường, 305 cầu với tổng chiều dài 6854 m, 4441 đường cống với tổng chiều dài 46938 m, hoàn thành 30,5 triệu mét khối đất đá đào đắp. Ngoài ra, còn đã hoàn thành nhiệm vụ làm công trình đường giao nhau từ Phóng Đinh[iii] đến cầu Lai Vu trên quốc lộ 10, và duy tu quốc lộ 16 từ Thái Nguyên đến Đồng Đăng. Đại diện phía Việt Nam nghiệm thu cho rằng:  Các công trình đã xây dựng trên đây có chất lượng tốt và đẹp. Ngày 23.7.1968, Hồ Chí Minh khi chúc mừng việc thực hiện “Hiệp định Trung Quốc giúp Việt Nam xây dựng đường quốc lộ” đã nói: “Tuy các bạn chỉ làm được cho Việt Nam có hơn 1200 km đường quốc lộ, nhưng tình hữu nghị của các bạn đã vượt quá cả ngàn kilomet,  cả vạn kilomet!”  
Bộ đội hậu cần Trung Quốc giúp Việt Nam cấp tốc xây dựng các công trình quốc phòng vĩnh cửu ở quần đảo đông bắc Việt Nam và ở khu vực đồng bằng Bắc Bộ. Các phân đội 2 và 7 đảm nhận nhiệm vụ thi công này đã theo lệnh lần lượt đến Việt Nam từ 9.6.1965 đến 15.12.1966. Phân đội 2 chịu trách nhiệm thi công các công sự vĩnh cửu, đường cáp dưới biển, đường thông tin liên lạc, nằm phân tán trên 15 đảo và 8 yếu điểm quốc phòng ven biển. Trải qua gian khổ nỗ lực, cả phân đội 2 và phân đội 7 đều hoàn thành vượt mức nhiệm vụ thi công giúp Việt Nam. Các công trình chủ yếu đã hoàn thành bao gồm:  239 đường hầm với tổng chiều dài hơn 2,3 vạn m, 138 trận địa pháo lộ thiên có đường hầm, 149 công sự vĩnh cửu, 15 đường cáp thông tin dưới biển với tổng chiều dài 103 km, 171 km đường vĩnh cửu và đường thi công, 14 chiếc cầu, 21 cống, 9 con đê. Tổng cộng 84,76 vạn mét khối đất đá đào đắp. Đã xây tường phòng hộ tương đương với 845 km chiều dài đường bờ biển Miền Bắc Việt Nam. Phía Việt Nam đã đánh giá về những công trình này:  “Kháng lực của các công trình đều vượt quá yêu cầu của phía Việt Nam, chất lượng công trình cao, kiên cố, tiện dụng, ngụy trang tốt”.      
Đại đội kỹ sư thông tin Trung Quốc giúp Việt Nam lắp đặt mạng lưới thông tin. Ngày 31.7.1965, hai bên Trung-Việt thỏa thuận Trung Quốc sẽ điều 1 đại đội kỹ sư thông tin giúp Việt Nam xây dựng các công trình thông tin ở các vùng Lai Châu, Sơn La và Điện Biên Phủ…  Đại đội kỹ sư thông tin Trung Quốc đảm nhận nhiệm vụ này đã vào Việt Nam thi công ngày 18.8.1965. Các sĩ quan chỉ huy đã khắc phục muôn vàn khó khăn để bảo đảm đường liên lạc thông tin trong tác chiến, cải thiện điều kiện thông tin quân sự cho khu vực Miền Bắc Việt Nam, đã hoàn thành trước thời hạn và vượt mức nhiệm vụ thi công vào 10.7,1966, tổng cộng đã lắp đặt 330 km cột đường dây thông tin, mắc 894 km cặp đường dây, lắp đặt 4 trạm cung cấp điện thoại, ngoài ra còn lắp đặt đường trung chuyển từ một trạm điện thoại trong đó đến nơi Quân khu Tây Bắc Việt Nam đóng. Đại đội này sau khi hoàn thành nhiệm vụ đã về nước toàn bộ vào tháng 7.        
Bộ đội chi viện Trung Quốc trong những năm tháng chiến đấu gian khổ tại Việt Nam đã kề vai sát cánh cùng với nhân dân và quân đội Việt Nam, giành được những thành tựu rực rỡ.  
Đã khiến cho Mỹ phải đổ vào Việt Nam tới hơn 56 vạn quân, mức hao tổn chi phí quân sự năm lên tới 30 tỷ đôla Mỹ, nhưng vẫn không thể làm cho chiến cục tiến triển được theo chiều hướng mong muốn; con số thương vong tăng dần, đến nửa cuối năm 1968, tuần nào cũng chết hơn 200 người, số quân Mỹ chế tại chiến trường chỉ riêng trong năm này đã tới 14592 người; dẫn đến tinh thần phản chiến trong nước Mỹ không ngừng lên cao. Trước tình hình ấy, tháng 11 năm 1968, Mỹ buộc phải tuyên bố đình chỉ vô điều kiện ném bom và bắn phá Miền Bắc ViệtNam. Bộ đội chi viện Trung Quốc sau khi đã hoàn thành nhiệm vụ giai đoạn 1 như đã định, đã rút toàn bộ về nước vào 7.1970.     
Giai đoạn 2:  Bắt đầu 5.1972 và kết thúc 8.1973.  Cuối năm 1968, Mỹ ngừng ném bom Miền Bắc Việt Nam, đầu năm 1969 bắt đầu đàm phán với Việt Nam tại Paris. Từ đó, cuộc chiến tranh Việt Nam bước vào giai đoạn vừa đánh vừa đàm phán. Đến cuối 3.1972, các lực lượng vũ trang Miền Nam, với sự chi viện của Miền Bắc, đã phát động tấn công toàn diện và liên tục giành được thắng lợi lớn, giáng một đòn nặng nề vào chính quyền Mỹ ngụy. Để cắt đứt sự chi viện tới từ Miền Bắc Việt Nam, bảo đảm cho chính quyền Nguyễn Văn Thiệu khỏi bị sụp đổ, đồng thời với việc tăng cường điều động binh lực hải quân, không quân và ném bom trở lại Miền Bắc Việt Nam, Mỹ bắt đầu thực thi phong tỏa thủy lôi quy mô lớn trên các đường ven biển, cảng, đường sông của Miền Bắc Việt Nam vào ngày 9 tháng 5. Ngay sớm 9.5 đã điều động hơn 100 tàu sân bay của hải quân Mỹ, 6 tàu chiến các loại, sau khi tiến hành ném bom và pháo kích đối với các khu vực ven biển như Hải Phòng, Quảng Yên, Hồng Gai, Đồ Sơn…, đã dùng hơn 40 tàu sân bay còn lại đi thả mìn, đồng thời mở rộng phạm vi, lần lượt phong tỏa các đường sông trọng yếu ở Hải Phòng… cùng các sông Thái Bình, sông Mã,  cửa Hội, sông Gianh, sông Nhật Lệ, sông Hồng, sông Trà Lý, sông Cấm… Sau đó còn nhiều lần thả mình bổ sung. Mỹ đã thả thủy lôi xuống các cảng và đường sông trọng yếu của Miền Bắc Việt Nam, thực hành sự phong tỏa toàn diện trên biển, khiến cho Miền Bắc Việt Nam bị cắt đứt mất sự chi viện vật tư từ bên ngoài và các đường vận chuyển chủ yếu chi viện cho Miền Nam Việt Nam, mưu đồ dùng đó để buộc Việt Nam phải nhượng bộ trên bàn đàm phán tại Paris. Ngọn lửa chiến tranh đã tắt được hơn 3 năm lại bùng cháy lên ở Miền Bắc Việt Nam. Chính phủ Việt Nam đã yêu cầu Trung Quốc điều hải quân tới giúp rà phá bom mìn ngay vào ngày Mỹ thả mìn. Theo yêu cầu của Miền Bắc, để giúp nhân dân Việt Nam phá được sự phong tỏa trên biển của Mỹ, chính phủ Trung Quốc đã đồng ý lập tức lại khơi thông con đường trên biển bí mật Trung-Việt theo kế hoạch, vận chuyển lương thực cùng các vật tư khác tới Việt Nam. Đồng thời, căn cứ theo hiệp định đã thỏa thuận giữa Bộ tổng tham mưu quân đội hai nước, giải phóng quân nhân dân Trung Quốc ngoài điều bộ đội xe đảm nhận nhiệm vụ vận chuyển trên đường quốc lộ giúp Việt Nam ở khu vực biên giới giữa hai nước ra, còn gánh luôn cả nhiệm vụ quét thủy lôi của Mỹ ở vùng ven biển và làm cấp tốc các đường ống dẫn dầu dã chiến. 
Các tàu ở đội rà phá bom mìn Trung Quốc luân phiên nhau tác chiến, cả chỉ huy và lính nửa đêm ra biển rà phá bom mìn, ban ngày còn phải cấp tốc sửa chữa máy móc dưới sự uy hiếp của không kích. Đội rà phá bom mìn Trung Quốc giành thắng lợi từng nút, khiến cho quân Mỹ không yên, máy bay Mỹ thường xuyên bay lượn trinh sát ở những khu vực đội rà phá bom mìn cắm neo và rà phá bom mìn. Bắt đầu từ 20.8, ngày nào cũng có máy bay Mỹ tới trinh sát sát tầm thấp, đêm ném pháo sáng. Sáng 27.8, máy bay Mỹ ném bom bừa bãi xuống sở chỉ huy Hoàng Châu của đội rà phá bom mìn. Đội rà phá bom mìn Trung Quốc vẫn kiên trì chiến đấu không biết mệt mỏi. Ngày 17.5.1973, công việc rà phá bom mìn đã kết thúc toàn bộ. Ngày 27.8, đội rà phá bom mìn hải quân Trung Quốc thắng lợi về nước. Trong thời gian 1 năm 3 tháng ở Việt Nam đã ra biển tất cả 586 chuyến, với tổng độ dài hành trình hơn 2,78 vạn hải lí, trong đó có 526 chuyến rà phá bom mìn, với tổng độ dài hành trình gần 1,75 vạn hải lí; rà phá được 42 quả thủy lôi các loại, ngoài ra còn cùng với phía Việt Nam rà phá được 5 quả; tiếp đó tiến hành nạo vét từ các cảng Hải Phòng, Hồng Gai, Cẩm Phả… lớn nhất Miền Bắc Việt Nam cho đến các đường thủy ở quần đảo đông bắc, với tổng diện tích nạo vét 201 km2, đồng thời nhiều lần dẫn đường cho các tàu thuyền Việt Nam đi qua các cảng nói trên một cách an toàn, góp phần vào việc phá sự phong tỏa trên biển của Mỹ.  
  Giúp lắp đặt các đường ống dẫn dầu dã chiến. Sau khi quân Mỹ thực hiện sự phong tỏa trên biển đối với Miền Bắc Việt Nam, Việt Nam khẩn cấp yêu cầu Trung Quốc giúp lắp đặt 5 đường ống dẫn dầu dã chiến, dẫn dầu qua đoạn biên giới Quảng Tây vào Việt Nam.
   Trung Quốc đã khắc phục khó khăn, nhanh chóng sản xuất các thiết bị đồng bộ và xe chuyên dụng cần cho đường ống dẫn dầu, đồng thời phân bổ nhanh nhất nguồn dầu đầy đủ giúp Việt Namvề hướng đoạn biên giới Quảng Tây. Theo yêu cầu của chính phủ Việt Nam và hiệp định đã thỏa thuận giữa quân đội hai nước Trung-Việt, từ 31.5.1972 đến 12.2.1973, giải phóng quân nhân dân    Trung Quốc đã lần lượt điều hơn 8000 lượt bộ đội và dân công, đồng thời kèm theo một lượng lớn máy móc, xe sang lắp đặt 5 đường ống dẫn dầu dã chiến giúp Việt Nam ở hai đoạn từ Bằng Tường đến Hữu nghị quan và từ Phòng Thành Cảng[iv] đến Than Tán[v], với tổng chiều dài 159 km, liên thông với các công trình như kho dầu, trạm bơm, trạm thông tin và với đường sắt chuyên dụng…, tổng cộng hoàn thành với hơn 10 vạn mét khối đào đắp. Đường ống dẫn dầu Phòng Thành dài tất cả 99 km. Hai đoạn đường ống dẫn dầu này bắt đầu lần lượt vận chuyển dầu vào Việt Nam từ 15.6.1972 và 6.11.1972.           
Ngày 27.1.1973, sau khi Việt Nam và Mỹ ký Hiệp định Paris, quân Mỹ hoàn toàn chấm dứt hành vi xâm lược đối với Miền Bắc Việt Nam, vận chuyển dầu trên biển của Việt Nam dần khôi phục lại bình thường. Theo yêu cầu từ phía ViệtNam, phải đến 30.6.1976, đường ống dẫn dầu dã chiến ở biên giới Trung-Việt mới ngừng hoạt động. Trong 4 năm, Trung Quốc vận chuyển vào Việt Nam tổng cộng gần 1,3 triệu tấn dầu mỏ và dầu diesel, chiếm hơn một nửa tổng lượng dầu Trung Quốc giúp Việt Nam trong thời kỳ chiến tranh chống Mỹ của Việt Nam, đã trợ giúp đắc lực cho cuộc đáu tranh vĩ đại bảo vệ Miền Bắc, giải phóng Miền Nam, thống nhất tổ quốc của Việt Nam.     
Với sự chi viện của đội rà soát bom mìn hải quân Trung Quốc, nhân dân Việt Nam không những không bị khuất phục trước sự ném bom và phong tỏa trên biển của Mỹ, mà trái lại còn ngày càng chiến đấu dũng cảm, cuối cùng đã buộc chính phủ Mỹ phải thừa nhận sự thất bại triệt để của cuộc chiến tranh xâm lược. Ngày 27.1.1973, bốn bên Cộng sản Việt Nam, Mặt trận giải phóng dân tộc Miền Nam Việt Nam, Mỹ, chính quyền Nguyễn Văn Thiệu đã ký bản “Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam” tại Paris. Tháng 3, lính quân đội Mỹ xâm lược ViệtNambắt đầu rút quân khỏi Miền Nam Việt Nam. Tháng 8 năm 1973, bộ đội chi viện Trung Quốc thừa hành nhiệm vụ giúp Việt Nam chống Mỹ ở Việt Nam đã rút toàn bộ về nước.        
 Bộ đội chi viện Trung Quốc trong những năm tháng gian khổ giúp Việt Nam chống Mỹ, đã dũng cảm ngoan cường trong chiến đấu, gian khổ nỗ lực trên công trường, đã xuất hiện rất nhiều nhân vật anh hùng gặp nguy nan không biết sợ, coi thường cái chết. Hơn 4000 sĩ quan binh lính thuộc bộ đội chi viện Trung Quốc đã chết trên đất Việt Nam, hơn 4000 người cho đến nay vẫn còn an giấc trên các vùng đồi núi Việt Nam. Trong thời gian giúp Việt Nam chống Mỹ, bộ đội chi viện Trung Quốc luôn luôn lấy việc tăng cường tình hữu nghị giữa nhân dân hai nước Trung-Việt làm trọng, chấp hành nghiêm chỉnh 3 kỷ luật lớn, 8 điều chú ý, yêu từng dòng sông ngọn núi, từng gốc cây ngọn cỏ của Việt Nam, quan tâm tới quần chúng nhân dân Việt Nam như với đồng bào tổ quốc, khi nhà dân bị đốt cháy, các chiến sĩ luôn bất chấp mạo hiểm tính mạng để cấp cứu người dân và vật dụng; khi cả bộ đội Trung Quốc và người dân Việt Nam đều bị không kích, bao giờ cũng để bộ đội tải thương cấp cứu người bị thương của Việt Nam trước. Các sĩ quan binh lính còn tận dụng những khoảng trống lúc chiến đấu và thi công để tiếh hành các hoạt động gần gũi dân, giúp người dân Việt Nam trồng trọt, làm thủy lợi, dựng nhà cửa, làm đường, cắt tóc, chữa bệnh, mở lớp học ban đêm, tặng sách, dạy hát, chiếu phim, diễn văn nghệ…, đã làm biết bao việc tốt bộ đội chi viện Trung Quốc nhận được sự ủng hộ nhiệt tình và sự hỗ trợ mạnh mẽ từ người dân Việt Nam. Tất cả những điều này mãi mãi là giai thoại truyền đến mai sau giữa nhân dân hai nước. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khen ngợi là: “Quân đội cách mạng đến dân yêu, đi dân nhớ”.          
Các chiến sĩ của bộ đội chi viện Trung Quốc đã kề vai chiến đấu với quân dân Việt Nam, đã dùng cả sinh mệnh và máu đào để bảo vệ sự an toàn cho vùng trời và vùng đất Việt Nam, đã bảo đảm cho sự vận chuyển giao thông của Miền Bắc Việt Nam được thông suốt, làm cho quân dân Việt Nam có được một số lượng bộ đội lớn để chi viện cho sự tác chiến của nhân dân Miền Nam, giúp cho nhân dân Việt Nam giành được thắng lợi trong cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước.  Những thành tích vẻ vang của bộ đội chi viện Trung Quốc giúp ViệtNamtrong cuộc chiến tranh chống Mỹ sẽ mãi mãi khắc ghi trong lòng người dân Trung Quốc và người dân Việt Nam.     
  Trong cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước của Việt Nam, hơn 20 tỉnh, thành, khu tự trị cùng hàng ngàn đơn vị nghiên cứu khoa học, nhà máy trong cả nước đã đảm nhận nhiệm vụ giúp Việt Nam chống Mỹ. Bất kể là sản phẩm quân dụng hay sản phẩm dân dụng, chỉ cần Việt Nam cần mà đang có sẵn là cung cấp ngay, không có sẵn thì sản xuất ngay, chưa sản xuất thì cũng lập tức nghiên cứu làm luôn. Mà khi ấy, trong tất cả những thứ Việt Nam yêu cầu Trung Quốc chi viện đều có đặc điểm nổi bật là:  Nhiều chủng loại, số lượng lớn, thời gian gấp, yêu cầu cao. Hầu như nhân viên các đơn vị đảm nhận nhiệm vụ đều coi đó là nhiệm vụ hàng đầu áp đảo tất cả, tăng ca tăng giờ, hoàn thành một cách đầy đủ.    
  Nhiệm vụ vận chuyển giúp Việt Nam chống Mỹ hết sức gian khổ. Theo con số thống kê chưa đầy đủ từ 1965-1979, lượng vật tư giúp Việt Nam vận chuyển bằng đường sắt là khoảng hơn 3,05 vạn toa, trong đó chỉ riêng từ tháng 1 đến tháng 10 năm 1974, các loại vật tư vận chuyển bằng đường sắt đã lên tới hơn 91300 toa. Theo thống kê chỉ trong 5 năm của Quân khu Quảng Châu, lượng vật tư giúp Việt Nam vận chuyển bằng đường thủy tổng cộng lên tới hơn 12,5 vạn tấn. Kể từ 8.1972 trong thời gian có hơn 1 năm, lượng vật tư các loại vận chuyển vào Việt Nam trên 5 đường vận chuyển quốc lộ mở ở khu vực biên giới Trung-Việt đã đạt tới hơn 62 vạn tấn.       
  Sự viện trợ của Trung Quốc đối với Việt Nam có thời gian dài nhất, có số lượng lớn nhất trong viện trợ đối ngoại. Theo thống kê, tính cho đến năm 1978, sự viện trợ của Trung Quốc đối với Việt Nam đạt tổng giá trị lên tới khoảng 20 tỷ đôla Mỹ (tính theo giá thị trường quốc tế khi đó), trong đó viện trợ không hoàn lại chiếm 93.3%, không trả lãi chiếm 6.7%.
Bản tiếng Việt © Quốc Thanh 2012
Bản tiếng Việt © Việt sử ký 2012

[i]  Tức Miền Nam ViệtNam –ND.
[ii]  Tức Miền Bắv Việt Nam –ND.
[iii]   Chưa xác định được tên tiếng Việt là gì-ND.
[iv]   Tên một thành phố  thuộc Khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây, Trung Quốc-ND.
[v]   Tên một làng ở Khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây, Trung Quốc-ND.

Thứ Sáu, 9 tháng 3, 2012

Giải mật: vụ Hoàng Văn Hoan đào thoát sang Trung Quốc


GIẢI MẬT: LÃNH ĐẠO CẤP CAO NHẤT CỦA

NƯỚC NGOÀI ĐÀO THOÁT TỚI TRUNG QUỐC!

15.11.2008
Tác giả:  Phi Lâm
Người dịch:  Quốc Thanh
Ngày 3 tháng 12 năm 1960, Mao Trạch Đông hội kiến với Hồ Chí Minh-Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Chủ tịch Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam. Bên phải là Hoàng Văn Hoan.
Lãnh đạo Việt Nam Hoàng Văn Hoan “đào thoát” tới Trung Quốc năm 1979
Năm 1979, giữa hai nước Trung-Việt xảy ra một sự kiện khiến cho tập đoàn Lê Duẩn đương quyền khi ấy ở Việt Nam bị bẽ mặt, cả thế giới phải kinh ngạc. Hoàng Văn Hoan – một trong những nhà lãnh đạo lão thành của Việt Nam đã đáp phi cơ từ Cộng hòa Dân chủ Đức (Đông Đức) bay tới Bắc Kinh. Cho đến tận giờ, người ta vẫn gọi việc Hoàng Văn Hoan đến Trung Quốc là “Lãnh đạo cấp cao nhất của nước ngoài đào thoát tới Trung Quốc”.
Trong nội bộ Đảng cộng sản Việt Nam có hai phái thân Xô và thân Hoa. Phái thân Hoa có Đại tướng Nguyễn Chí Thanh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Thượng tướng Chu Văn Tấn, Hoàng Văn Hoan… Sau khi Hồ Chí Minh qua đời, Lê Duẩn, Lê Đức Thọ… thuộc phái thân Xô nắm hết quyền lực trong Đảng, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh đã bị chết trận. Thượng tướng Chu Văn Tấn bị giam lỏng. Đại tướng Võ Nguyên Giáp bị treo giò.
Hoàng Văn Hoan lúc này trong người cảm thấy khó chịu, vùng não luôn bị đau âm ỉ, bệnh viện ở Hà Nội kiểm tra nói: bị lao phổi. Nhưng lại chữa mãi vẫn không khỏi.
Ông sinh năm 1905 tại tỉnh Nghệ An (nay là tỉnh Nghệ Tĩnh[1]), Việt Nam. Tên thật là Trần Xuân Phong. Năm 1925 tham gia học lớp đào tạo thanh niên Việt Nam do Hồ Chí Minh mở ở Quảng Châu, sau đó làm công tác cách mạng ở các nước Thái Lan, Miến Điện, Campuchia… và ở Châu Âu, nói thành thạo tiếng Trung Quốc giọng Quảng Đông, viết được những bài thơ hay bằng chữ Hán.
Năm 1966, cùng với Chủ tịch Hồ Chí Minh tại cuộc tụ họp quần chúng ở Quảng trường Ba Đình
Chính Hoàng Văn Hoan đã ý thức được rằng nếu ở lại trong nước thì không những chẳng làm được việc gì, mà bệnh của mình lại có thể còn bị nặng thêm. Ông lợi dụng dịp đi thăm nước Cộng hòa Dân chủ Đức cũ, với sự giúp sức của bạn bè và tình báo Trung Quốc, đã tới Bắc Kinh theo ngả Pakistan.
 Năm 1979, tại cuộc họp báo tổ chức tại Bắc Kinh
Ngày thứ ba tới Bắc Kinh, kết quả kiểm tra ở Bệnh viện 301 Giải phóng quân cho thấy thực ra trong người ông có một khối u dài 6cm, rộng 5cm, được chẩn đoán là bị ung thư phổi sắp đến giai đoạn cuối.
Năm 1979, tới Bắc Kinh, được đồng chí Đặng Tiểu Bình đón tiếp thịnh tình
Bệnh viện 301 áp dụng phương pháp Đông Tây y kết hợp, đầu tiên tiến hành xạ trị, tiếp đó dùng các bài thuốc Đông y quý để tiến hành liệu pháp Đông y. Nằm chữa trị ở bệnh viện được hơn 1 tháng, khối u đã nhỏ lại chỉ còn dài 5cm, rộng 4cm. Khối u nhỏ lại được nhanh như vậy có thể nói là hết sức có hiệu quả.
Nói chuyện với Việt kiều ở Côn Minh năm 1980
Bởi được trị liệu theo Đông Tây y kết hợp ở Bệnh viện 301, được dùng những bài thuốc Đông y vừa quý lại vừa đích thực có tác dụng kháng ung thư, cho nên Hoàng Văn Hoan đã hơn 70 tuổi vẫn sống tiếp được tới 15 năm nữa một cách đầy khỏe mạnh.  
Bơi ở Thanh Đảo năm 1984
Hoàng Văn Hoan tới Trung Quốc không lâu, Việt Nam lần lượt tuyên bố hủy bỏ các chức vụ Đại biểu Quốc hội, Phó chủ tịch Ủy ban thường vụ Quốc hội, Ủy viên Đoàn chủ tịch Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam…, xóa Đảng tịch Đảng cộng sản Việt Nam của ông. Ngày 26 tháng 6 năm 1980, bị chính quyền Việt Nam xử tử hình vắng mặt. 
Ở Thanh Đảo năm 1984
Với sự nỗ lực của Trường Chinh, Nguyễn Văn Linh, quan hệ Trung-Việt được khôi phục. Nhất là Nguyễn Văn Linh còn cho đưa cả người nhà của Hoàng Văn Hoan sang Trung Quốc, khiến cho Hoàng Văn Hoan được đoàn tụ với gia đình vào những năm cuối đời.
Đang viết: “Việt Trung hữu nghi, vạn cổ trường thanh”
Còn có một giả thuyết khác, khi các nhà lãnh đạo Nguyễn Văn Linh… muốn khôi phục lại quan hệ bình thường với Trung Quốc, do qua kênh bình thường có chút khó khăn, nên con trai cả của Hoàng Văn Hoan đang làm việc tại Viện khoa học xã hội Việt Nam đã bí mật đến Sứ quán Trung Quốc để đẩy nhanh sự tiếp xúc giữa lãnh đạo hai nước. **
Đang viết thơ chữ Hán
Đang đánh cờ với nhân viên làm việc
Mộ Hoàng Văn Hoan hình chữ nhật, sau mộ lập một tấm bia đá cao to, chính giữa bên trên có khảm bức di ảnh màu của Hoàng Văn Hoan, hai bên khắc nổi năm sinh năm mất “1905-1991”. Dưới di ảnh viết “Mộ đồng chí Hoàng Văn Hoan, nhà cách mạng lão thành Việt Nam, người bạn lâu năm được nhân dân Trung Quốc tôn kính”.  
Hoàng Văn Hoan (1905-1991)
Lãnh đạo Đảng và chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Sinh ở tỉnh Nghệ An. Năm 1926 tham gia lớp huấn luyện cách mạng do Hồ Chí Minh mở ở Trung Quốc, sau gia nhập Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí hội. Năm 1930, gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương. Năm 1928-1942, lần lượt hoạt động cách mạng ở Xiêm và Trung Quốc.
Năm 1942, về nước triển khai đấu tranh vũ trang và tiến hành các hoạt động lập căn cứ địa. Năm 1945, được bầu làm Ủy viên trung ương, nhậm chức Bí thư Đảng ủy Khu giải phóng Việt Bắc, sau thắng lợi của Cách mạng Tháng 8 cùng năm, từng nhậm chức Thứ trưởng Bộ quốc phòng và Ủy viên chính trị toàn quốc Vệ quốc quân.
Cuối năm 1946, nhậm chức Đại diện Liên khu 4 tại Chính phủ trung ương, lãnh đạo đấu tranh chống Pháp. Năm 1948, nhậm chức Đặc phái viên hải ngoại tại Chính phủ trung ương. Tháng 12 năm 1950, nhậm chức Đại sứ đầu tiên ở Trung Quốc, kiêm Đại sứ tại Triều Tiên, Mông Cổ. Tại “Đại hội 2” năm 1951 và “Đại hội 3” năm 1960 được bầu làm Ủy viên Trung ương. Hai lần, vào tháng 8 năm 1958 và tháng 9 năm 1960, được bầu làm Ủy viên Bộ chính trị Trung ương Đảng. Từ năm 1958, nhậm chức Phó chủ tịch Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Tháng 12 năm 1971, được bầu là Ủy viên Đoàn chủ tịch Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc. Năm 1979, sau khi Việt Nam trắng trợn bài Hoa, vì phản đối tập đoàn Lê Duẩn… nên đã bị đánh và bức hại, để đấu tranh lại với những thế lực bài Hoa trong Đảng, vào tháng 7 bị bức phải rời Việt Nam gián tiếp chuyển tới Bắc Kinh, đã di cư tới Trung Quốc. Không lâu sau, Việt Nam lần lượt tuyên bố hủy bỏ các chức vụ Đại biểu Quốc hội, Phó chủ tịch Ủy ban thường vụ Quốc hội, Ủy viên Đoàn chủ tịch Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam…, xóa Đảng tịch Đảng cộng sản Việt Nam của ông.
Ngày 26 tháng 6 năm 1980, bị chính quyền Việt Nam xử tử hình vắng mặt. Là người bạn lâu năm của nhân dân Trung Quốc, có tình cảm sâu nặng với nhân dân Trung Quốc. Đã làm rất nhiều công việc hữu ích để phát triển tình hữu nghị giữa nhân dân hai nước Trung-Việt. Đồng thời còn là một người “thông hiểu về Trung Quốc”, có nhiều nghiên cứu về văn hóa truyền thống Trung Quốc, đã viết nhiều bài thơ, câu đối bằng tiếng Hán trong đời. Trong thời gian bệnh nặng, các vị lãnh đạo Đảng và nhà nước như Dương Thượng Côn, Trần Vân, Lý Tiên Niệm… đã lần lượt đến bệnh viện thăm và an ủi động viên.
Ngày 18 tháng 5 năm 1991 qua đời tại Bắc Kinh, hưởng thọ 86 tuổi. An táng tại Nghĩa trang cách mạng Bát Bảo Sơn Bắc Kinh. Tác phẩm để lại có “Hoàng Văn Hoan văn tập”. 
Nguồn: www.tiexue.net *
Bản tiếng Việt © Việt sử ký 2012
[1] Chỗ này tác giả nhầm. Tỉnh Nghệ Tĩnh đã được tách ra lại thành 2 tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh từ  năm 1991.- ND.
-
* Trang mạng được mở năm 2001, tiền thân là trang mạng mô phỏng chiến tranh thành lập năm 1999 tại Bắc Kinh; mạng www.tiexue.net có nội dung chủ yếu là về quân sự, cung cấp những thông tin thiết thực toàn diện và có giá trị. Qua vài năm phát triển, mạng www.tiexue.net đã phát triển thành mạng quân sự bằng tiếng Trung lớn nhất toàn cầu. (Nguồn: http://www.tiexue.net/).

Thứ Bảy, 3 tháng 3, 2012

ĐẦU ĐUÔI CHUYỆN ĐOÀN CỐ VẤN QUÂN SỰ TRUNG QUỐC GIÚP VIỆT NAM CHỐNG PHÁP


Tân Hoa Xã – Xinhuanet.com
ĐẦU ĐUÔI CHUYỆN ĐOÀN CỐ VẤN QUÂN SỰ TRUNG QUỐC GIÚP VIỆT NAM CHỐNG PHÁP
2.8.2009
Tác giả:  Ngô Tất Phú, Trịnh Diệm Bình
Người dịch:  Quốc Thanh
 Rất nhiều người đã biết đến Kháng Mỹ viện Triều của nước ta vào thập kỷ 50 thế kỷ 20, nhưng nói đến Kháng Pháp viện Việt thì rất ít người biết. 
Vào đầu thập kỷ 50, nước ta từng phái Đoàn cố vấn quân sự Trung Quốc do Vĩ Quốc Thanh làm Trưởng đoàn tới viện trợ cho cuộc Chiến tranh chống Pháp của Việt Nam, đây là một đoạn sự thật lịch sử mà ai cũng biết.
    I.  Việc lập ra và hủy bỏ Đoàn cố vấn quân sự giúp Việt Nam của Trung Quốc
Khỏang giữa tháng 1, tháng 2 năm 1950, Chủ tịch Đảng Cộng sản Đông Dương (đến năm sau đổi thành Đảng Lao động Việt Nam) Hồ Chí Minh đi thăm Liên Xô, đã cùng với Stalin và Mao Trạch Đông khi ấy đang ở thăm Liên Xô thảo luận về những vấn đề quan trọng của cách mạng Việt Nam.
Sau khi Mao Trạch Đông, Hồ Chí Minh quay về Bắc Kinh, Hồ Chí Minh nêu yêu cầu giúp đỡ Việt Nam với Trung ương Đảng cộng sản Trung Quốc, trong đó bao gồm trợ cấp quân sự và phái Đoàn cố vấn quân sự tới trợ giúp  cuộc Chiến tranh chống Pháp của Việt Nam.
Theo yêu cầu của Hồ Chí Minh, Trung ương Đảng cộng sản Trung Quốc quyết định, đồng thời với việc cung cấp trang bị quân sự và trợ cấp quân sự, sẽ phái Đoàn cố vấn quân sự tới hiệp trợ Quân đội nhân dân Việt Nam tổ chức, chỉ huy tác chiến và xây dựng quân đội Việt Nam.
Quyết sách này của Trung ương, cũng giống với việc phái chí nguyện quân tới Triều Tiên chống Mỹ viện Triều sau đó, là một quyết sách trọng đại chi viện cho quân đội nước ngoài đầu tiên kể từ khi lập nước.
Hai nước Trung-Việt núi liền núi sông liền sông, môi hở răng lạnh.
Để chi viện cho Đảng anh em và nước láng giềng thân thiện giành được độc lập nước nhà và giải phóng dân tộc, Đảng cộng sản Trung Quốc, trong tình trạng vừa mới giành được thắng lợi trên toàn quốc, đang phải đối mặt với muôn vàn khó khăn, vẫn cương quyết ra quyết định viện trợ cho Việt Nam, giúp đỡ không hoàn lại cả về mặt trợ cấp và quân sự, đồng thời phái ngay La Quý Ba là đại diện liên lạc của Trung ương Đảng cộng sản Trung Quốc tới Việt Nam, trao đổi với Đảng Cộng sản Đông Dương về những việc trọng đại giúp Việt Nam chống Pháp.
Phái Đoàn cố vấn quân sự Trung Quốc do Vĩ Quốc Thanh làm Trưởng đoàn, Mai Gia Sinh, Đặng Dật Phàn làm Phó đoàn tới hiệp trợ Quân đội nhân dân Việt Nam tổ chức, chỉ huy tác chiến và xây dựng quân đội Việt Nam.
Tiếp đó lại phái Trần Canh đại diện cho Đảng cộng sản Trung Quốc tới Việt Nam hiệp trợ chỉ huy Chiến dịch Biên giới khai thông đường biên giới Trung Việt và phụ trách thống nhất xử lý những việc có liên quan đến viện trợ quân sự cho Việt Nam.
Giữa tháng 4, Bộ tổng tham mưu Giải phóng quân nhân dân Trung Quốc lựa chọn trong toàn quân ra được 59 cán bộ các loại có kinh nghiệm đánh trận thật và trình độ chính trị nhất định cùng với các nhân viên công tác khác, tổng cộng 281 người, hợp thành Đoàn cố vấn quân sự.
Tháng 7, Đoàn cố vấn quân sự được chính thức thành lập ở Nam Ninh, để tiện cho việc bảo mật, Đoàn cố vấn quân sự không công khai ra bên ngoài, lấy mã hiệu là “Đoàn công tác Hoa Nam”.
Vào thượng tuần tháng 7, Trần Canh dẫn các nhân viên của Đoàn cố vấn quân sự được điều chọn từ Nhị dã[1] do Trần Canh dẫn đầu đi vào Việt Nam từ hướng Vân Nam.
Sau đó, ngày 11 tháng 8, Đoàn cố vấn quân sự đi vào Việt Nam từ Tịnh Tây, Quảng Tây, rạng sáng ngày 12 tháng 8 đến Bộ tổng tham mưu Quân đội Việt Nam ở Quảng Uyên, tỉnh Cao Bằng, Việt Nam.
Sau khi Đoàn cố vấn quân sự Trung Quốc nghe Bộ tổng tham mưu Quân đội Việt Nam giới thiệu về tình hình Quân đội nhân dân Việt Nam và nêu những kiến nghị công việc với Đoàn cố vấn, đã tuyên bố về phân công tổ chức.
Đoàn cố vấn được chia thành các tổ cố vấn quân sự, chính trị và hậu cần.
Vĩ Quốc Thanh đảm nhận nhiệm vụ Cố vấn cho Tổng Quân ủy Việt Nam và Tổng tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam. Mai Gia Sinh đảm nhận nhiệm vụ Tổ trưởng Tổ cố vấn quân sự. Đặng Dật Phàn đảm nhận nhiệm vụ Tổ trưởng Tổ cố vấn chính trị. Mã Tây Phu đảm nhận nhiệm vụ Tổ trưởng Tổ cố vấn hậu cần, đồng thời lần lượt đảm nhận nhiệm vụ cố vấn cho Bộ Tổng tham mưu, Tổng cục chính trị và Tổng cục hậu cần Quân đội nhân dân Việt Nam, cử các tổ cố vấn cho 3 sư đoàn chủ lực của Quân đội nhân dân Việt Nam.
Ngày 16 tháng 9, Chiến dịch Biên giới nổ ra, ngày 23 tháng 10 kết thúc thắng lợi. Ngày 1 tháng 11, Trần Canh hoàn thành xong nhiệm vụ đã định và quay về nước.
Tháng 6 năm 1951, sau khi kết thúc Chiến dịch Kinh Bình[2], Đoàn trưởng Đoàn cố vấn quân sự Vĩ Quốc Thanh bị ốm về nước nghỉ dưỡng, nhận thấy ông ta không thể quay về Việt Nam làm việc được, ngày 29 tháng 5 năm 1952, Trung ương Đảng cộng sản Trung Quốc đã bổ nhiệm La Quý Ba (Đoàn trưởng Đoàn cố vấn chính trị giúp Việt Nam) kiêm nhiệm Đoàn trưởng Đoàn cố vấn quân sự, Mai Gia Sinh là Phó đoàn thứ nhất, Đặng Dật Phàn là Phó đoàn thứ hai.
Ngày 16 tháng 6, sát nhập Đoàn cố vấn quân sự với Đoàn cố vấn chính trị. Đồng thời, theo yêu cầu của phía Việt Nam, Trung ương Đảng cộng sản Trung Quốc quyết định lại tiếp tục tuyển chọn hơn 10 cán bộ sư đoàn từ Giải phóng quân nhân dân đưa sang Việt Nam, đảm nhận nhiệm vụ làm cố vấn cho các Bộ tham mưu và các cơ quan cấp sư đoàn của Quân đội nhân dân Việt Nam.
Theo kiến nghị của các đồng chí Nhiếp Vinh Trăn…, ngày 6 tháng 12, được sự phê chuẩn của Mao Chủ tịch, đã sát nhập các cán bộ do Vĩ Quốc Thanh, La Quý Ba đứng đầu thành Tổng đoàn cố vấn, La Quý Ba là Tổng cố vấn, đặt ra một Phó tổng cố vấn phụ trách các công việc về mặt quân sự.
Để tiện cho việc quản lí công việc thật sâu sát, ngày 10 tháng 10 năm 1953, Trung ương Đảng cộng sản Trung Quốc bổ nhiệm Vĩ Quốc Thanh làm Tổng cố vấn quân sự, chịu trách nhiệm giúp Quân đội nhân dân Việt Nam các công việc về mặt tác chiến và xây dựng quân đội. La Quý Ba làm Tổng cố vấn chính trị, chịu trách nhiệm giúp Việt Nam các công việc về mặt xây dựng Đảng, chính quyền và làm chính sách ở các địa phương.
Không lâu sau, Đoàn cố vấn quân sự tách ra khỏi bộ máy Đoàn cố vấn chính trị. Ngày 25 tháng 10, Vĩ Quốc Thanh khỏi bệnh quay lại Việt Nam, lập tức nghiên cứu luôn  tác chiến mùa đông với phía Việt Nam, giúp quân đội Việt Nam nghiên cứu tấn công Lai Châu, đồng thời bố trí tác chiến tấn công mùa đông để đánh Thượng, Trung, Hạ Lào và vùng bắc Tây Nguyên.
Ngày 22 tháng 7 năm 1954, sau khi Chiến tranh chống Pháp của Việt Nam thắng lợi, Quân ủy Trung ương đã phái các tổ cố vấn pháo binh, công binh để giúp trang bị, huấn luyện pháo binh và bộ đội công binh của Việt Nam. Ngày 25 tháng 8, Trung ương Đảng cộng sản Trung Quốc đã quyết định lập Đại sứ quán Trung Quốc ở Việt Nam. Ngày 1 tháng 9, Đại sứ quán Trung Quốc tại Việt Nam chính thức được thành lập, Đại sứ đầu tiên nhậm chức tại Việt Nam La Quý Ba đã trình quốc thư cho Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Bởi nhân dân Việt Nam đã giành được thắng lợi trong cuộc Chiến tranh chống Pháp, quân đội nhân dân được xây dựng đã bắt đầu đi vào quỹ đạo, nhiệm vụ giúp Việt Nam đã hoàn thành, nên Trung ương Đảng cộng sản Trung Quốc đã cân nhắc đến chuyện hủy bỏ Đoàn cố vấn quân sự và Đoàn cố vấn chính trị.
Vào trung tuần tháng 9, Đại sứ quán Trung Quốc tại Việt Nam La Quý Ba đã truyền đạt lại đề nghị của Trung ương Đảng cộng sản Trung Quốc về việc hủy bỏ dần Đoàn cố vấn quân sự và Đoàn cố vấn chính trị với Trung ương Đảng lao động Việt Nam, để trưng cầy ý kiến bên phía Việt Nam.
Trung ương Đảng lao động Việt Nam sau khi thảo luận đã biểu thị sự đồng tình với việc hủy bỏ bộ máy và tên gọi của Đoàn cố vấn, tán thành việc công khai mời cố vấn về sau này, nhưng cho rằng cố vấn hệ thống quân sự không nên áp dụng biện pháp mời công khai mà vẫn cần làm theo phương thức bí mật.
 Ngày 10 tháng 10 năm 1954, Hà Nội được giải phóng. Vào hạ tuần cùng tháng, Đoàn cố vấn quân sự Trung Quốc tiến về Hà Nội theo Bộ tổng tham mưu Quân đội nhân dân. Theo quyết định hủy bỏ dần Đoàn cố vấn quân sự, Phó tổng cố vấn Mai Gia Sinh cùng một bộ phận các cố vấn sư đoàn, trung đoàn đang nghỉ phép ở trong nước không quay về Việt Nam làm việc nữa.         
Vào giữa tháng 7, tháng 8 năm 1955, Lưu Thiếu Kỳ, Đặng Tiểu Bình đã truyền đạt lại và ra chỉ thị về việc hủy bỏ Đoàn cố vấn quân sự của Trung ương với đồng chí Vĩ Quốc Thanh đang nghỉ phép ở Bắc Kinh.
Hạ tuần tháng 8, Vĩ Quốc Thanh rời Bắc Kinh đến Hà Nội, truyền đạt lại quyết định về việc hủy bỏ dần Đoàn cố vấn của Trung ương Đảng cộng sản Trung Quốc, Đảng ủy Đoàn cố vấn sẽ có sự sắp xếp cụ thể để quán triệt quyết định của Trung ương, quyết định cho các nhân viên của Đoàn cố vấn rút về nước làm 3 giai đoạn, đến đầu xuân sang năm là rút hết.
Các chuyên gia quân sự và nhân viên kỹ thuật được mời sẽ giao cho Văn phòng Tùy viên quân sự Đại sứ quán quản lí. Theo sự sắp xếp nói trên, Phó tổng cố vấn Đặng Dật Phàn sau khi hoàn thành nhiệm vụ làm việc tại Việt Nam, sẽ cùng một bộ phận các nhân viên cố vấn rời Hà Nội về nước vào trung tuần tháng 9 năm 1955.
Theo quyết định về việc hủy bỏ dần Đoàn cố vấn của Trung ương Đảng cộng sản Trung Quốc và theo yêu cầu của Việt Nam, ngày 24 tháng 12 năm 1955, Bộ quốc phòng, Bộ ngoại giao nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa đồng công bố “Quyết định về việc hủy bỏ Đoàn cố vấn quân sự và đổi sang phái chuyên gia quân sự tại Việt Nam”, chỉ định Vương Nghiên Tuyền là Tổ trưởng Tổ chuyên gia, Quốc Lâm Chi là Bí thư Đảng ủy Tổ chuyên gia. Đồng thời, Bành Đức Hoài đã thông báo bằng thư cho Võ Nguyên Giáp về việc hủy bỏ Đoàn cố vấn quân sự cho Quân đội nhân dân Việt Nam, trình bày cụ thể về vấn đề hủy bỏ Đoàn cố vấn quân sự.
Trong thư nói: “Hòa bình của Việt Nam đã được thực hiện, Quân đội nhân dân Việt Nam đã được tôi luyện qua 8 năm kháng chiến, cả về mặt tác chiến và huấn luyện đều đã có sự tiến bộ rất lớn, đồng thời đã có được kinh nghiệm tác chiến khá phong phú, đặt được nền móng tốt cho việc đi vào hiện đại hóa chính quy hóa. Để thích ứng với tình hình nói trên, chúng tôi cho rằng cần phải thay đổi bộ máy tổ chức của Đoàn cố vấn quân sự do Trung Quốc phái đến hiện nay. Nếu Quân đội nhân dân Việt Nam có những việc gì cần giúp đỡ, mà chúng tôi lại có thể giúp được, thì sẽ đổi sang phái các cán bộ kiểu chuyên gia đến tiến hành giúp đỡ.”
Lời cuối của bức thư nói, “theo đề nghị của ông, đồng chí Vĩ Quốc Thanh sẽ lại tới Hà Nội một thời gian ngắn nữa để hiệp trợ Tổng quân ủy về một số công việc cần thiết đã thảo luận ở Bắc Kinh. Sau khi đã hoàn thành những công việc này, sẽ để ông ấy quay về Bắc Kinh luôn”. Vĩ Quốc Thanh mang theo mình bức thư của Bành Đức Hoài gửi Võ Nguyên Giáp, từ Bắc Kinh tới Hà Nội vào ngày 29 tháng 12 năm 1955, tiếp tục giúp Quân đội nhân dân Việt Nam sắp xếp bố trí cuộc trao đổi tại Bắc Kinh giữa ba bên Trung Quốc, Việt Nam và Liên Xô.
Ngày 13 tháng 1 năm 1956, lại có một đợt nhân viên nữa của Đoàn cố vấn quân sự về nước. Vĩ Quốc Thanh đang hoàn thành nhiệm vụ của mình, đồng thời tham dự Hội nghị cán bộ Quân đội nhân dân Việt Nam, sau khi lắng nghe mọi yêu cầu và ý kiến về những công việc tiếp theo, theo chỉ thị của Quân ủy Trung ương, đã rời Hà Nội về nước cùng với tốp nhân viên cố vấn cuối cùng vào trung tuần tháng 3.      
Đến đây, Đoàn cố vấn quân sự Trung Quốc đã hoàn thành thắng lợi sứ mệnh giúp Việt Nam, mọi công việc đã kết thúc, bộ máy Đoàn cố vấn đã được hủy bỏ.
    II. Sứ mệnh của Đoàn cố vấn quân sự
Trước khi Đoàn cố vấn quân sự vào Việt Nam, theo yêu cầu từ phía Việt Nam và tình hình cuộc Chiến tranh chống Pháp của Việt Nam khi ấy, Trung ương Đảng cộng sản Trung Quốc đã trao nhiệm vụ cho Đoàn cố vấn quân sự.
Một là giúp Việt Nam đánh thắng trận, đuổi quân xâm lược Pháp; hai là giúp Việt Nam xây dựng quân đội chính quy. Ngày 27 tháng 6 năm 1950, tại Di Niên Đường Bắc Kinh, Mao Trạch Đông, Lưu Thiếu Kỳ, Chu Đức đã tiếp những người phụ trách Đoàn cố vấn quân sự là Vĩ Quốc Thanh, Mai Gia Sinh, Đặng Dật Phàn, một số cán bộ cấp trung đoàn trở lên và nhân viên công tác, đưa ra những chỉ thị quan trọng về ý nghĩa, nhiệm vụ và tư tưởng chỉ đạo… đối với công việc giúp Việt Nam của Đoàn cố vấn quân sự, đồng thời đề ra những yêu cầu về các mặt thái độ làm việc, phương pháp làm việc, tác phong tư tưởng và đoàn kết với phía Việt Nam…
Mao Trạch Đông nói: Các anh đến Việt Nam làm cố vấn là thực hiện nghĩa vụ quốc tế vẻ vang. Cách mạng Trung Quốc đã giành được thắng lợi, nhưng nhân dân Việt Nam vẫn còn phải chịu đau khổ dưới gót giày của bọn thực dân Pháp, chúng ta cần tới giúp đỡ họ. Nhiệm vụ của Đoàn cố vấn  là hiệp trợ quân đội Việt Nam chỉ huy tác chiến, chủ yếu là hiệp trợ tổ chức chỉ huy vận động chiến và chính quy chiến với quy mô khá lớn, giúp họ đánh thắng trận; giúp đỡ Việt Nam tổ chức xây dựng một quân đội chính quy cách mạng. Tiếp đó, Người đưa ra những chỉ thị rõ về phương pháp làm việc… của Đoàn cố vấn:
Làm cố vấn tức là làm tham mưu, phải điều tra nghiên cứu nhiều, nêu ý tưởng, nghĩ biện pháp, nhưng không được bao biện làm thay, lại càng không được làm “Thái thượng hoàng”, chỉ tay ra lệnh, mà nhất thiết phải tỏ ra khiêm tốn thận trọng, thành tâm thành ý giúp đỡ họ, phải tôn trọng họ, đoàn kết với họ, làm theo tinh thần coi sự nghiệp giải phóng của nhân dân Việt Nam là sự nghiệp của nhân dân Trung Quốc.
Chiểu theo phương châm và sự bố trí của Trung ương Đảng cộng sản Trung Quốc, từ tháng 8 năm 1950 đến tháng 3 năm 1956, Đoàn cố vấn quân sự Trung Quốc trong thời gian giúp Việt Nam chủ yếu đã tiến hành những công việc sau: Một là hiệp trợ Quân đội nhân dân tổ chức và chỉ huy tác chiến, giành thắng lợi trong cuộc Chiến tranh chống Pháp. Theo chỉ thị của Trung ương Đảng cộng sản Trung Quốc và thực tế cuộc Chiến tranh chống Pháp của Việt Nam, Đoàn cố vấn quân sự luôn coi việc giúp Quân đội nhân dân Việt Nam chỉ huy tác chiến, liên tục giành thắng lợi ở các chiến dịch, trận chiến, đánh bại quân xâm lược Pháp là nhiệm vụ trung tâm của mình.
Từ ngày Đoàn cố vấn quân sự đến Việt Nam vào tháng 8 năm 1950 đến khi đình chiến ở Đông Dương năm 1954, Quân đội nhân dân đã lần lượt tiến hành 8 chiến dịch tương đối lớn như Biên giới, Trung du, Đông Bắc, Kinh Bình[3], Hòa Bình, Tây Bắc, Thượng Lào, Điện Biên Phủ… , đã giành được chiến tích huy hoàng, đẩy nhanh được tiến trình thắng lợi. Trừ Chiến dịch Hòa Bình, Đoàn cố vấn quân sự vì đang tập luyện chỉnh đốn nên không ra tiền tuyến trực tiếp giúp đỡ chỉ huy ra, còn các chiến dịch khác, từ ra quyết sách đến tổ chức thực thi cả quá trình chiến dịch, đều được tiến hành dưới sự giúp đỡ của Đoàn cố vấn.
Hai là giúp xây dựng nền quân sự, nâng cao sức chiến đấu cho Quân đội nhân dân. Trong Chiến tranh chống Pháp, với sự giúp đỡ của Đoàn cố vấn, Quân đội nhân dân đã trải qua rèn luyện đánh trận thật, huấn luyện quân sự và tổ chức  trang bị biên chế…, đã thực hiện được sự chuyển đổi từ lối đánh du kích sang lối vận động chiến, chuyển đổi từ lối đánh tấn công quy mô nhỏ sang lối đánh tấn công quy mô lớn, chuyển đổi từ hoàn cảnh hòa bình đến thực hiện từng bước chính quy hóa, hiện đại hóa quân đội.
Ba là giúp Quân đội nhân dân tăng cường xây dựng chính trị, tăng cường xây dựng Đảng trong quân đội.
Bốn là giúp đào tạo huấn luyện cán bộ, nâng cao tố chất đội ngũ cán bộ. Năm là giúp Quân đội nhân dân Việt Nam tăng cường xây dựng hậu cần, nâng cao năng lực bảo đảm hậu cần.            
Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng lao động Việt Nam, Tổng quân ủy hết sức tín nhiệm và ủng hộ Đoàn cố vấn trong công việc. Hồ Chí Minh nhiều lần nói, “với các cố vấn Trung Quốc, tôi tuyệt đối tín nhiệm”. Để động viên các đồng chí trong Đoàn cố vấn tích cực nêu kiến nghị, làm tốt công việc, Người yêu cầu “giữa cán bộ Trung Quốc và Việt Nam phải đoàn kết, cán bộ Việt Nam phải học tập cán bộ Trung Quốc một cách trung thực”.
Với những kiến nghị và quyết sách quan trọng về tác chiến và xây dựng quân đội cho Quân đội nhân dân Việt Nam của Đoàn cố vấn, Người đều đích thân giữ quyền ra quyết định, rồi sau đó mới do Tổng quân ủy tổ chức thực thi.
Tổng quân ủy và các Bộ tham mưu  hết sức tôn trọng, ủng hộ và gửi gắm niềm hi vọng vào các nhân viên Đoàn cố vấn cùng công việc của họ, cùng với sự phát triển của thực tiễn đã ngày càng tin tưởng vào tính chính xác của tư tưởng Mao Trạch Đông và kinh nghiệm của Giải phóng quân nhân dân Trung Quốc, đồng thời cũng tỏ ra hết sức quan tâm đến mọi sinh hoạt của Đoàn cố vấn.
Tất cả những điều này là điều kiện quan trọng để Đoàn cố vấn làm tốt được công việc, hoàn thành thắng lợi được sứ mệnh giúp Việt chống Pháp.
(“Quân sự sử lâm” cung cấp)

[1] Nhị dã:  Tên gọi đầy đủ: “Đệ nhị dã chiến quân”. Một trong những đội quân chủ lực của Giải phóng quân nhân dân Trung Quốc trong thời kỳ chiến tranh giải phóng. – ND.
[2] Tôi chưa tra được tên tiếng Việt của Chiến dịch này. Phải chăng là Chiến dịch Hà-Nam-Ninh hay Chiến dịch Quang Trung?-ND.
[3] Xem chú thích 1. –ND.
Nguồn: Tân Hoa Xã – Xinhuanet.com
Bản tiếng Việt © Việt sử ký 2012