Hiển thị các bài đăng có nhãn Cao Tự Thanh. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Cao Tự Thanh. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 6 tháng 12, 2011

Tản mạn với “Đại Nam Thực lục Chính biên Đệ lục kỷ Phụ biên”


Tạp chí Tia sáng
Số 23, ngày 5/12/2011
Nguyễn Bá Dũng
Cuốn sử Đại Nam Thực lục Chính biên Đệ lục kỷ Phụ biên[1] vừa xuất hiện đầu tháng 11.2011. Chỉ vài tuần cho thời gian chuyển sách từ tp HCM tới tay bạn đọc Hà Nội thì không biết có ai dám chắc rằng mình đã đọc hết cuốn sách ngót 800 trang chữ nhỏ đó không; còn một trong những người chưa thể đọc hết chỉ dám ghi lại đây đôi điều tản mạn.
1. Cuốn sách đắt (giá bìa 400 ngàn đồng)… xắt ra miếng. Vậy mà người ta nói rằng, thư ký của “Hàn sĩ” Cao Tự Thanh cho biết toàn bộ 2.000 cuốn đã phân phối hết. Mong rằng tất cả các sách Sử đích thực như cuốn này đều có giá bìa cao và bán chạy.
2. Tôi gọi đây là một cuốn “Sử đích thực” vì nội dung cuốn sách đúng như tiêu đề bài nghiên cứu trong sách của Nhà Sử học Cao Tự Thanh: “Hai mươi tám năm lịch sử Việt Nam trong Đại Nam Thực lục Chính biên Đệ lục kỷ Phụ biên”. Vâng, đây chính là cuốn Quốc Sử duy nhất của giai đoạn 1889-1916 mà lần đầu tiên được dịch và công bố.
3. Bài nghiên cứu dài 44 trang (sđd, tr. 15-58) sẽ giúp cho bạn đọc có được một cái nhìn bao quát và toàn diện về một phần lịch sử nước ta (đặc biệt là Trung Kỳ và Bắc Kỳ) trong hai đời Vua Thành Thái (1889-1907) và Duy Tân (1907-1916), là hai vị Vua yêu nước đã bị thực dân Pháp phế truất và bắt đi đày. Chúng ta sẽ được biết thêm nhiều sử liệu “hay lạ có thể giúp người đọc sách điều chỉnh nhận thức, giải tỏa thiên kiến trước nay về nhiều sự kiện và nhân vật lịch sử” (sđd, tr. 21). Ví dụ, điều 629 (sđd, tr. 240, 242) cho thấy chuyện “Nguyễn Thân cho đào mộ Phan Đình Phùng ‘đốt xác, trộn tro với thuốc súng, bắn xuống sông Lam’” cũng chỉ là chuyện kiểu Em bé Đuốc Sống mà thôi. Bài viết phân tích sâu sắc quan điểm sử học và chính trị của bộ sử, sự biến đổi của quyền lực chính trị và hệ thống hành chính của nhà Nguyễn trước sự chèn ép và khống chế của Pháp và sự chống đỡ yếu ớt của họ trước sự khống chế đó mà hệ quả là một thời kỳ quá độ chuyển xã hội phong kiến thành xã hội thuộc địa nửa phong kiến. Những thay đổi đó khiến “sinh hoạt xã hội ở vùng Trung Bắc [kỳ] thời gian 1889-1916 cũng bước vào một quá trình tái cấu trúc xã hội toàn diện, sâu sắc và rộng khắp” (sđd, tr. 42) nhưng “…không đi đến tận cùng con đường xóa bỏ cấu trúc kinh tế-xã hội cũ mà thường đưa tới các hình thức không trọn vẹn của các tổ chức, thiết chế và quan hệ hiện đại đan xen với các yếu tố truyền thống…” (sđd, tr. 47). Các kiến giải khác cũng hết sức chi tiết và lý thú: về các hoạt động văn hóa, về quá trình quốc tế hóa-hiện đại hóa, bút pháp sử học, đặc điểm ngôn ngữ và đặc biệt là các phong trào đấu tranh vũ trang và các cuộc vận động chống Pháp đã được ghi chép trong bộ sử này. Vâng, nhưng tâm đắc nhất vẫn là kết luận của bài viết: “Trong nhiều công trình biên soạn lịch sử quan phương chính thống hiện nay, lịch sử Việt Nam thời gian 1884-1945 nhìn chung chỉ được tái hiện một cách phiến diện và mờ nhạt, và trong không ít trường hợp quốc sử chỉ được nhìn qua lăng kính đảng sử, thậm chí còn bị nhất hóa vào với đảng sử. Nhưng yêu cầu tổng kết lịch sử dân tộc thời gian 1884-1945 hiện nay không thể chỉ giới hạn trong phạm vi mục tiêu hoạc thuật và định hướng thực tiễn như trước, vì nhu cầu phát triển của đất nước đang đòi hỏi một cái nhìn toàn diện, thấu đáo và cởi mở hơn về quá khứ. Trong ý nghĩa này, Đại Nam Thực lục Chính biên Đệ lục kỷ Phụ biên là một trong những nguồn sử liệu mặc dù còn khiếm khuyết sơ lược vẫn mang những giá trị gợi mở to lớn mà nếu được quan tâm thích đáng chắc chắn sẽ góp phần làm sáng tỏ thêm nhiều hiện tượng, lãnh vực và quá trình lịch sử ở Việt Nam cả đến Cách mạng Tháng Tám 1945. ” (sđd, tr. 58)
4. Phần phiên dịch tên riêng, đặc biệt là tên đất, tên người được dịch giả xây dựng thành nguyên tắc và đã được thể hiện thành công trong trong quá trình dịch bộ sử. Điều này rất quan trọng nếu ta nhớ lại việc một cuốn sử quan trọng khác (Gia Định thành thông chí); cũng (một phần) vì vấn đề này mà bản dịch của Đỗ Mộng Khương và Nguyễn Ngọc Tỉnh (1964) đã được Lý Việt Dũng biên dịch lại, chú giải, Huỳnh Văn Tới hiệu đính, giới thiệu để tái bản (2004).
5. Cuốn sách có phần phụ lục, gồm 15 phụ lục (pl). Xin được bàn về phần phụ lục này.
-         Hai phụ lục 5 & 7, chúng tôi không tìm thấy trong bộ sử có phần nào liên quan. Phần dịch Pháp-Việt còn có nhiều chỗ phải xem lại (Pl 3: dịch sai Khâm sứ Trung kỳ thành Khâm sứ Lào; rải rác trong các pl khác không dịch Annam thành Trung Kỳ như quy ước, lỗi font ở pl 11…). Phần phụ lục số trang ít mà tạo cảm giác lỗi nhiều hơn phần chính của sách.
-         Hai phụ lục 14 & 15 là các bài viết của dịch giả chúng tôi đã được đọc trên Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển số 85-86 (2011). Việc đặt các bài viết này thành phụ lục một quyển Chính Sử, khiến chúng tôi cứ ngờ ngợ. Giá chúng được tập hợp trong “Nghiên bút… 20 năm” thì hay biết mấy! Đặc biệt là pl 14, đành rằng với sử liệu mới công bố trong bộ sử, chúng ta biết rằng cái mặt nạ ông quan “cương trực thanh liêm” của Đào Tấn đã rớt xuống, nhưng việc này, nếu quá tam ba bận (có cả trong bài nghiên cứu, phần dịch và pl 14) như vầy, e tổn thương danh tiếng sử quan!
6. Việc xuất bản Đại Nam Thực lục Chính biên Đệ lục kỷ Phụ biên đáng được coi là một sự kiện Sử học năm 2011. Tôi chắc cuốn sách sẽ lọt vào “con mắt xanh” của các Hội đồng Giải thưởng Trần Văn Giàu, Hội đồng Giải thưởng Phạm Thận Duật (Ôi, vì sao chưa có Giải thưởng Đào Duy Anh ?). Tuy nhiên các thông tin xung quanh việc xuất bản cuốn sách cho thấy đấy chỉ là việc làm của cá nhân đơn độc, không có dự án, không có tài trợ của quốc gia, dù đó là cuốn Chính Sử. Tôi tin, nếu được tài trợ hợp lý, cuốn sách sẽ được làm tốt hơn rất nhiều. Một ví dụ dễ thấy là rất nhiều tên riêng nước ngoài, bản dịch vẫn chưa tìm được tới nguyên danh; nếu dịch giả có đủ điều kiện thì việc tìm kiếm các tài liệu để giải quyết việc này không phải là quá khó. Liệu bộ cuối cùng của Đại Nam Thực lục là Đại Nam Thực lục chính biên đệ thất kỷ viết về lịch sử Việt Nam dưới đời Khải Định (1916 – 1925) có gặp may mắn hơn không ?
7. Việc Đại Nam Thực lục Chính biên Đệ lục kỷ Phụ biên ra đời còn cho thấy một nhu cầu vô cùng cấp thiết trong việc hiệu đính, chú giải các bộ Cổ Sử Việt Nam đã xuất bản trong những năm từ thập kỷ 90 của thế kỷ XX trở về trước. Lý do thật dễ hiểu: so với thời gian đó các tư liệu về lịch sử có liên quan phong phú hơn rất nhiều; vấn đề văn bản học và dịch thuật học cũng có những đổi mới. Vì vậy, giới chuyên môn và bạn đọc đòi hỏi phải có những bản dịch mới, chính xác hơn và được chú thích đầy đủ hơn, cập nhật với những sử liệu mới được công bố. Để làm được điều đó, rất cần có một đề án cấp nhà nước, tụ hợp được nhân tài vật lực của quốc gia để thực hiện. Viết đến đây, tôi chợt nhớ ra, báo chí viết rằng, bản chữ Hán của Đại Nam Thực lục Chính biên Đệ lục kỷ Phụ biên và Đệ thất kỷ đã được chuyển về Viện Sử học từ năm 2003. Vậy mà tới đầu năm 2011, một nhà nghiên cứu “ngoài biên chế” mới nhờ chụp được từ Paris một bản chữ Hán khác để mang đến cho chúng ta cuốn sách hôm nay. Phải chăng, như ông Trần Đức Cường, Viện trưởng Viện Sử học đã viết trong lời giới thiệu cho lần tái bản thứ nhất (2002) Bộ Đại Nam Thực lục (Tiền Biên và Chính Biên tới Đệ ngũ kỷ), “Một công trình đồ sộ của Tổ phiên dịch, Viện Sử học mà các vị thành viên trong tổ nay đều đã qua đời, cũng như tổ phiên dịch và Nhà Xuất bản Sử học đều không còn nữa !”[2] ?  Cám ơn ông Cao Tự Thanh!
8. Tôi mong rằng, sau một thời gian đủ để nghiên cứu tác phẩm, một nhà phê bình sử học chính danh nào (nếu có) sẽ có bài viết học thuật đánh giá nội dung chuyên môn của cuốn sách này./.
Hà Nội, 27/11/2011

[1] Quốc sử Quán (Triều Nguyễn), Đại Nam Thực lục Chính biên Đệ lục kỷ Phụ biên, Cao Tự Thanh dịch và giới thiệu, nxb VH-VN, 2011.
[2] Quốc sử Quán (Triều Nguyễn), Đại Nam Thực lục T.1, Nguyễn Ngọc Tỉnh dịch, nxb Giáo dục, 2002, tr. 5.
—-

Vài lời về một bài tản mạn

Cao Tự Thanh
Nhà nghiên cứu Cao Tự Thanh cho rằng, ở bài viết về cuốn “Đại Nam Thực lục Chính biên Đệ lục kỷ Phụ biên”, do ông dịch và giới thiệu, đăng trên Tia Sáng mới đây, ngoài những điểm chính xác và rất đáng suy nghĩ, còn có một số chỗ ông thấy cần trao đổi lại với tác giả bài viết Nguyễn Bá Dũng.
Tạp chí Tia Sáng số 23 ra ngày 5/12/2011 có đăng tải bài Tản mạn với “Đại Nam Thực lục Chính biên Đệ lục kỷ Phụ biên” của tác giả Nguyễn Bá Dũng (trở xuống xin phép được viết tắt là NBD) nhận xét về quyển sách mới đây của tôi. Sách có chỗ đúng sai hay dở là chuyện thường, việc người đọc hỷ nộ ái ố càng là chuyện thường, nếu thấy bất cứ ý kiến nào cũng “nói lại cho rõ” thì rất dễ mang tiếng ham hơn thua bằng miệng lưỡi. Nhưng ngoài những điểm chính xác và rất đáng suy nghĩ, bài viết nói trên còn có một số chỗ tôi thấy cần có vài lời trao đổi lại mới nên. Bài của tác giả NBD được sắp xếp thành 8 điểm, ở đây cũng xin theo 8 điểm ấy để tiện trình bày. Trước hết, tôi cảm ơn tác giả NBD đã công tâm ở điểm 2, chia sẻ ở điểm 3 và tán đồng ở điểm 4. Nói thêm thì tôi đã sử dụng những nguyên tắc phiên âm phiên dịch tên riêng ấy khi hiệu đính và giới thiệu quyển Quốc triều Hương khoa lục của Cao Xuân Dục (NXB TP Hồ Chí Minh, 1993).
Ở điểm 1, tác giả NBD tản mạn qua chuyện in ấn phát hành với nguồn tin “có người nói” thư ký của tôi cho biết sách in 2.000 cuốn đã phân phối hết. Thư ký của tôi không bao giờ khoác lác như thế, với những lời đồn đại vô bằng ông đừng vội tin là hay.
Trong điểm 5, tác giả NBD nói đúng về những sai sót trong phần Phụ lục, ngoài ra phần Sách dẫn cũng còn một số sai sót không đáng có. Đây là do sau khi sửa morasse tôi đề nghị người dàn trang đổi maquette tức dàn lại hai phần này nhưng lại sơ ý gởi nhầm hai file Sách dẫn và Phụ lục chưa hoàn chỉnh, chuyện này tôi xin chịu lỗi hoàn toàn với người đọc. Nhưng hai Phụ lục 05, 07 không phải là thừa nếu tác giả NBD đọc điều 1850 trong đó có đoạn “chiểu nghị định ngày 22.11.1904 trích Darlac của nước Lào sáp nhập vào Trung Kỳ”. Lối ghi chép trong bộ sử này có khi quá vắn tắt mà thiếu hệ thống nên dễ gây ngộ nhận, đây lại là một chuyện không được sơ suất, tôi phải đưa hai Phụ lục ấy vào để giải thích tại sao nguyên bản lại chép như thế, vì Darlac vốn không thuộc lãnh thổ nước Lào. Về hai Phụ lục 14, 15 tác giả NBD cho rằng tôi tham công cầu danh nên in lại hai bài đã đăng trên Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển Huế, thì tùy tôn ý. Tôi đưa chúng vào Phụ lục để những người chưa đọc có cái đọc thêm, vì không phải ai cũng có hai số tạp chí ấy dưới tay.
Về điểm 6, tôi cảm ơn tác giả NBD có hảo ý, nhưng trước nay tôi làm sách vì thích và cũng để học thêm được cái gì đó, chứ được giải thưởng thường chuốc tiếng thị phi, nhận tiền giúp dễ nếm mùi tủi nhục, đối với những vinh dự và lợi ích loại ấy thì kẻ biết phận không nên mong cầu. Riêng bộ Đại Nam Thực lục Chính biên Đệ thất kỷ thì nguyên bản có chú thích tên riêng chữ Pháp mặc dù chưa đầy đủ, tôi hy vọng là có thể làm người đọc hài lòng hơn.
Trong điểm 7, tác giả NBD đã tản mạn rất hay về một vấn đề rất lớn. Có điều nếu có một Đề án Phiên dịch sử liệu quốc gia như ông đề xuất được phê chuẩn, thì còn phải nghĩ tới lực lượng thực hiện. Trong khoa học thì lao động không đồng nghĩa với sản xuất, nếu không có những người làm việc tự giác và có hiệu quả thì chương trình đề án, chiến lược tầm nhìn gì gì cũng chỉ giống như kiếm cớ lấy tiền nhà nước chia nhau mà ăn một cách hợp pháp thôi. Hai bộ Đại Nam Thực lục Chính biên Đệ lục kỷ Phụ biên và Đại Nam Thực lục Chính biên Đệ thất kỷ ở Thư viện Trường Viễn Đông Bác cổ Pháp được anh Nguyễn Huệ Chi nhắc tới từ khoảng 1988 – 1990, ký hiệu sách được đưa vào công trình Di sản Hán Nôm – Thư mục đề yếu của Viện Nghiên cứu Hán Nôm và Trường Viễn Đông Bác cổ Pháp từ 1993, bản sao ảnh được một nhóm Việt kiều đưa về tặng Viện Sử học từ 2003, tất cả chỉ khoảng 3.000 trang mà đến nay vẫn chưa thấy bản dịch nào được phía quan phương công bố. Về điều này tác giả NBD có cách lý giải của ông, nhưng đó không chỉ là vấn đề của một đơn vị hay một số người nghiên cứu. Đây chủ yếu vì cơ chế hoạt động khoa học quan phương không bắt buộc họ phải làm, thị trường khoa học kém phát triển mà nhiều khuyết tật càng không kích thích họ muốn làm. Sự dấn thân trong hoạt động nghiên cứu không thể có được nơi đội ngũ công chức khoa học hiện nay dù rằng trong đó có nhiều cá nhân thực sự có học vấn và nhân cách. Việc nhiều cán bộ khoa học bị hành chính hóa về lề lối tác nghiệp và ỷ lại vào các nguồn tài trợ (chủ yếu là kinh phí nhà nước) tới mức mất hết thái độ chủ động cũng như tinh thần năng động trong các hoạt động khoa học mới là nạn đề lớn nhất trong sự phát triển của nền sử học nói riêng cũng như khoa học xã hội quan phương Việt Nam hiện nay nói chung.
Sau cùng, về điểm 8 thì tôi cũng mong mỏi không kém gì tác giả NBD, nhưng nếu “một nhà phê bình sử học chính danh” được thay thế bằng “các nhà sử học có đủ tư cách học thuật” thì chắc chắn có lợi hơn cho cả nhiều người đọc lẫn cá nhân tôi.

Thứ Hai, 5 tháng 12, 2011

Đọc Đại Nam thực lục Chính biên (Đệ lục kỷ Phụ biên*)


TẠP CHÍ XƯA & NAY
Triều Nguyễn hậu kỳ như Quốc sử quán bản triều tường thuật
SỐ 391 THÁNG 11-2011
Nguyễn Nam
Là một trong những triều đại gây nhiều tranh luận, thu hút nhiều chú ý của học giới hiện đại, vương triều Nguyễn cũng đồng thời lưu lại nhiều nguồn sử liệu phong phú, mà quan trọng nhất là bộ chính sử Đại Nam thực lục. Ngoài phần Tiền biên chép công nghiệp của Nguyễn Hoàng và các chúa Nguyễn, Đại Nam thực lục Chính biên phân thành 7 kỷ, ghi các sự kiện từ triều vua Nguyễn Ánh – Gia Long (1778 -1819) – Đệ nhất kỷ cho đến Khải Định (1916 – 1925) – Đệ nhất kỷ. Đặc biệt do bị phế truất sau thời gian trị vì khá lâu mà hai triều vua Thành Thái (1889 – 1907) và Duy Tân (1907 – 1916) được chép thành “Phụ biên” của Đệ lục kỷ ghép phụ vào triều Đồng Khánh (1885 – 1888). Do không có bản thảo viết tay hai phần “Đệ lục kỷ Phụ biên” và “Đệ lục kỷ” lưu trữ ở Thư viện Viện Viễn Đông Bác cổ (EFEO, Pháp), bản dịch của Viện Sử học công bố trong thời gian 1962 – 1978 chỉ mới giới thiệu được một phần của bộ biên niên sử vương triều đồ sộ này. Năm 2003, bản chụp hai văn bản quý hiểm vừa nêu đã được đưa về Việt Nam, nhưng phải đến nay, công chúng mới lần đầu được đọc phần Đệ lục kỷ Phụ biên qua bản dịch tiếng Việt của nhà nghiên cứu Cao Tự Thanh.
Được biên soạn trong khoảng 20 năm (1922 – 1942), bộ Đệ lục kỷ Phụ biên tham dụng nhiều nguồn tư liệu (gồm cả các văn bản hành chính tiếng Pháp của chính quyền thực dân), tập trung vào các sự kiện trên địa bàn Trung – Bắc trong vòng 28 năm, từ 1889 đến 1916. Đây là thời kỳ triều đình nhà Nguyễn hầu như đã mất hết quyền lực chính trị trên vùng quốc thổ bị thu hẹp, và cũng là lúc chính quyền thực dân thao túng quyền hành, triển khai thiết chế thuộc địa, tạo ra những biến động quan trọng về mọi mặt ở đấy. Như một kho báu được khai quật, những sự kiện lịch sử bị lãng quên (hay ngộ nhận) – tựa hồ như không tồn tại – nay được trình hiện chi tiết, lấp bớt nhiều khoảng trống bằng một tự sự lịch sử tường thuật qua nhãn kiến của bản thân vương triều Nguyễn, mời gọi người đọc diễn giải và tái diễn giải, nhận thức và tái nhận thức lịch sử.
Do Đệ lục kỷ Phụ biên chép các việc dưới hai triều vua Thành Thái và Duy Tân, hãy thử xem chính sử bản triều chép việc phế truất họ như thế nào. Tháng 7 năm 1907, viện cớ vua Thành Thái “bị tâm bệnh nghĩ nên tĩnh dưỡng”, chính quyền thuộc địa Pháp thông qua Toàn quyền đại thần Paul Beau yêu cầu vua thoái vị và chọn người nối ngôi. Thành Thái ngự bút viết “Các hoàng tử có tất cả mười hai người cho trình với quý Toàn quyền đại thần chọn một người sung vào, đây là chuyện liên quan tới việc lớn xã tắc, Trẫm không dám riêng tư”. Triều đình cũng không dám quyết, trình với Beau rằng “Biết con không ai bằng cha, xin quý đại thần trở vào đại nội tâu xin vua dẫn các hoàng tử ra cho quý đại thần chọn lựa quyết định, chứ nếu để bề tôi chọn vua thì không hợp với lễ”. Đối mặt với việc tối hệ trọng của vương triều và đất nước – chọn người nối ngôi, cả hoàng đế lẫn triều thần khi ấy đều ngậm ngùi thừa nhận thực quyền đã hoàn toàn ở trong tay thực dân. Chín năm sau, tháng 4 năm 1916, vua Duy Tân vì mật ước với Trần Cao Vân mưu việc quang phục mà bị phế, đưa ra an trí ở đảo Réunion. Đệ lục kỷ Phụ biên viết về việc vua tham gia chống Pháp như sau “Vua gần đây ngôn ngữ chỉ dường như có vẻ uất ức, đến lúc ấy gặp lời tà làm dao động, bèn tới nỗi vứt bỏ ngôi báu như chiếc giày rách, bôn ba gió bụi”. Tâm trạng uất ức của nhà vua được chép bằng thành ngữ “vứt bỏ ngôi báu như chiếc giày rách”, nhưng ẩn hàm ở đây là thái độ đồng cảm và nhận thức ngôi báu chỉ còn là hư vị, chỉ có quốc dân mới thực sự là hệ trọng.
Như các bộ sử thư khác, Đệ lục kỷ Phụ biên là một văn bản đòi hỏi sự cẩn trọng cũng như tham duyệt rộng tư liệu hữu quan để đảm bảo xác thực trong phiên dịch. Đặc biệt về ngôn ngữ, do những điều kiện lịch sử đặc thù, bộ sách đã thâu nhập và Việt Hán hoá một số lượng lớn nhân danh, địa danh, từ ngữ nước ngoài. Hoàn nguyên các ngữ liệu này là một việc phức tạp, đòi hỏi thời gian, và không phải lúc nào cũng có thể giải ngữ được toàn bộ. Trong bản dịch vẫn tồn đọng một số nhân danh còn chờ truy cứu, nhưng những kết quả phục nguyên hiện có hiển nhiên là chính xác. Tính nghiêm túc, khoa học và cầu thị của bản dịch thể hiện ngay từ những nguyên tắc cơ bản. Ví dụ tên người, tên đất Việt Hán từ phía bắc Quảng Nam trở ra và từ tỉnh này trở vào được phiên âm quốc ngữ phân biệt “theo tập quán truyền thống”; theo đó, tuy ghi cùng Hán tự, một địa danh ở Nam Định là “Phúc Thịnh” thì ở Quảng Ngãi sẽ được đọc thành “Phước Thạnh”. Nguyên tắc này khiến bản dịch vừa mang tính phổ quát, vừa thể hiện được sắc thái địa phương trong ngữ cảnh cụ thể. Bên cạnh đó, bản dịch còn được tổ chức theo hướng công cụ hoá, tạo điều kiện thuận lợi tối đa cho người đọc: các “đơn vị ghi chép” tức các “điều” trong bản dịch được thêm ký số từ 0001 trở đi; trên đầu từng trang của sách có ghi niên hiệu, niên đại âm lịch và dương lịch (như “Giáp Ngọ Thành Thái thứ 6, 1894 -1895”), rất tiện cho việc tra cứu – trích dẫn. Đây cũng là tác phong chuyên nghiệp của người dịch.
Người dịch Đệ lục kỷ Phụ biên cũng đồng thời là một nhà nghiên cứu uy tín. Thế nên, bên cạnh bản dịch nghiêm cẩn của mình, ông còn cung cấp một bản khảo dẫn, giới thiệu tổng quan về quá trình biên soạn cũng như nội dung và giá trị của tác phẩm. Cao Tự Thanh đã tinh tế chọn lọc những sự kiện điển hình để giới thiệu và khái quát thành những nét chính của lịch sử Việt Nam dưới hai triều Phế đế. Ông nhìn thấy ở đấy một “quá trình tái cấu trúc xã hội toàn diện, sâu sắc và rộng khắp” Trung – Bắc, và ít nhất “đến 1913 thì một ‘xã hội dân sự cũng đã bắt đầu hình thành ở Trung kỳ”. Ông cũng cho rằng Đệ lục kỷ Phụ biên “mang trong nó cùng một lúc hai lịch sử: lịch sử Việt Nam dưới hai đời Thành Thái, Duy Tân, và lịch sử nhận định lịch sử ấy của triều đình nhà Nguyễn dưới hai đời Khải Định, Bảo Đại”. Người đọc có thể chưa đồng ý với một vài nhận định trong bài khảo dẫn, nhưng bản thân những nhận định ấy cùng với các ý kiến thảo luận tiếp sau sẽ góp phần hoàn chỉnh một lịch sử nhận thức triều Nguyễn vốn không ngừng biến thiên qua những toạ độ lịch sử khác nhau.
Bản dịch Đệ lục kỷ Phụ biên còn có phần Phụ lục với 10 Nghị định (vốn là nguyên bản hay dịch bản Pháp văn của một số chỉ dụ) trích lục và dịch từ Journal officiel de l’Indochine francaise, một số bài báo trên Đại Nam Đồng văn nhật báo, Đại Nam Đăng cổ tùng báo và Nam kỳ địa phận liên quan đến các sự kiện chép trong sách như việc bắt con Phan Đình Phùng, Ngô Đức Kế hay việc đưa vua Thành Thái vào cung “an dưỡng”. Đặc biệt, Phụ lục còn in lại hai bài khảo cứu dựa trên sử liệu của Đệ lục kỷ Phụ biên về Đào Tấn và về việc khai quật ba hầm bạc trong Đại nội. Hai khảo luận này cho thấy một diện mạo khác của Đào Tấn qua “một vụ tham ô tập thể ở bộ Công” cũng như về lập trường dân tộc của các tác giả sách đối với việc chính quyền thuộc địa Pháp chiếm đoạt số tài sản mà trước kia vua Minh Mạng cho chôn giấu.
Xét về phương diện sử học (historiography), Đệ lục kỷ Phụ biên là một tư liệu quý, cho thấy thể biên niên sử vương triều ở Việt Nam đã đi vào chung cuộc như thế nào, khi theo dòng Tân sử học của Lương Khải Siêu, Việt Nam quốc sử khảo của Phan Bội Châu đã xuất hiện, thoát ra ngoài khuôn khổ chép sử theo niên đại các triều vua. Bản dịch Đệ lục kỷ Phụ biên là một niềm vui lớn đối với công chúng, chỉ tiếc là việc được đồng thời tiếp cận nguyên tác vẫn chưa được đáp ứng trong lần đầu xuất bản này. Và sau Đệ lục kỷ Phụ biên, người đọc lại trông đợi Đệ thất kỷ sớm ra mắt để có được trọn vẹn bộ biên niên sử đồ sộ nhất Việt Nam thời phong kiến.
Sử liệu là cơ sở cho mọi thảo luận sử học như Phó Tư Niên từng phát biểu “Sử học vốn là sử liệu học”. Được xem xét từ những tiêu điểm mới với những sử liệu mới, triều Nguyễn trong lịch sử Việt Nam thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX cũng như trong bối cảnh khu vực và quốc tế chắc chắn sẽ còn tiếp tục là chủ đề thảo luận sôi nổi của các tác giả trong và ngoài nước.
Chú thích
* Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục Chính biên Đệ lục kỷ Phụ biên, Cao Tự Thanh dịch và giới thiệu, Nxb – Văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh 2011.