Hiển thị các bài đăng có nhãn Triều Nguyễn. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Triều Nguyễn. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 5 tháng 12, 2011

Đọc Đại Nam thực lục Chính biên (Đệ lục kỷ Phụ biên*)


TẠP CHÍ XƯA & NAY
Triều Nguyễn hậu kỳ như Quốc sử quán bản triều tường thuật
SỐ 391 THÁNG 11-2011
Nguyễn Nam
Là một trong những triều đại gây nhiều tranh luận, thu hút nhiều chú ý của học giới hiện đại, vương triều Nguyễn cũng đồng thời lưu lại nhiều nguồn sử liệu phong phú, mà quan trọng nhất là bộ chính sử Đại Nam thực lục. Ngoài phần Tiền biên chép công nghiệp của Nguyễn Hoàng và các chúa Nguyễn, Đại Nam thực lục Chính biên phân thành 7 kỷ, ghi các sự kiện từ triều vua Nguyễn Ánh – Gia Long (1778 -1819) – Đệ nhất kỷ cho đến Khải Định (1916 – 1925) – Đệ nhất kỷ. Đặc biệt do bị phế truất sau thời gian trị vì khá lâu mà hai triều vua Thành Thái (1889 – 1907) và Duy Tân (1907 – 1916) được chép thành “Phụ biên” của Đệ lục kỷ ghép phụ vào triều Đồng Khánh (1885 – 1888). Do không có bản thảo viết tay hai phần “Đệ lục kỷ Phụ biên” và “Đệ lục kỷ” lưu trữ ở Thư viện Viện Viễn Đông Bác cổ (EFEO, Pháp), bản dịch của Viện Sử học công bố trong thời gian 1962 – 1978 chỉ mới giới thiệu được một phần của bộ biên niên sử vương triều đồ sộ này. Năm 2003, bản chụp hai văn bản quý hiểm vừa nêu đã được đưa về Việt Nam, nhưng phải đến nay, công chúng mới lần đầu được đọc phần Đệ lục kỷ Phụ biên qua bản dịch tiếng Việt của nhà nghiên cứu Cao Tự Thanh.
Được biên soạn trong khoảng 20 năm (1922 – 1942), bộ Đệ lục kỷ Phụ biên tham dụng nhiều nguồn tư liệu (gồm cả các văn bản hành chính tiếng Pháp của chính quyền thực dân), tập trung vào các sự kiện trên địa bàn Trung – Bắc trong vòng 28 năm, từ 1889 đến 1916. Đây là thời kỳ triều đình nhà Nguyễn hầu như đã mất hết quyền lực chính trị trên vùng quốc thổ bị thu hẹp, và cũng là lúc chính quyền thực dân thao túng quyền hành, triển khai thiết chế thuộc địa, tạo ra những biến động quan trọng về mọi mặt ở đấy. Như một kho báu được khai quật, những sự kiện lịch sử bị lãng quên (hay ngộ nhận) – tựa hồ như không tồn tại – nay được trình hiện chi tiết, lấp bớt nhiều khoảng trống bằng một tự sự lịch sử tường thuật qua nhãn kiến của bản thân vương triều Nguyễn, mời gọi người đọc diễn giải và tái diễn giải, nhận thức và tái nhận thức lịch sử.
Do Đệ lục kỷ Phụ biên chép các việc dưới hai triều vua Thành Thái và Duy Tân, hãy thử xem chính sử bản triều chép việc phế truất họ như thế nào. Tháng 7 năm 1907, viện cớ vua Thành Thái “bị tâm bệnh nghĩ nên tĩnh dưỡng”, chính quyền thuộc địa Pháp thông qua Toàn quyền đại thần Paul Beau yêu cầu vua thoái vị và chọn người nối ngôi. Thành Thái ngự bút viết “Các hoàng tử có tất cả mười hai người cho trình với quý Toàn quyền đại thần chọn một người sung vào, đây là chuyện liên quan tới việc lớn xã tắc, Trẫm không dám riêng tư”. Triều đình cũng không dám quyết, trình với Beau rằng “Biết con không ai bằng cha, xin quý đại thần trở vào đại nội tâu xin vua dẫn các hoàng tử ra cho quý đại thần chọn lựa quyết định, chứ nếu để bề tôi chọn vua thì không hợp với lễ”. Đối mặt với việc tối hệ trọng của vương triều và đất nước – chọn người nối ngôi, cả hoàng đế lẫn triều thần khi ấy đều ngậm ngùi thừa nhận thực quyền đã hoàn toàn ở trong tay thực dân. Chín năm sau, tháng 4 năm 1916, vua Duy Tân vì mật ước với Trần Cao Vân mưu việc quang phục mà bị phế, đưa ra an trí ở đảo Réunion. Đệ lục kỷ Phụ biên viết về việc vua tham gia chống Pháp như sau “Vua gần đây ngôn ngữ chỉ dường như có vẻ uất ức, đến lúc ấy gặp lời tà làm dao động, bèn tới nỗi vứt bỏ ngôi báu như chiếc giày rách, bôn ba gió bụi”. Tâm trạng uất ức của nhà vua được chép bằng thành ngữ “vứt bỏ ngôi báu như chiếc giày rách”, nhưng ẩn hàm ở đây là thái độ đồng cảm và nhận thức ngôi báu chỉ còn là hư vị, chỉ có quốc dân mới thực sự là hệ trọng.
Như các bộ sử thư khác, Đệ lục kỷ Phụ biên là một văn bản đòi hỏi sự cẩn trọng cũng như tham duyệt rộng tư liệu hữu quan để đảm bảo xác thực trong phiên dịch. Đặc biệt về ngôn ngữ, do những điều kiện lịch sử đặc thù, bộ sách đã thâu nhập và Việt Hán hoá một số lượng lớn nhân danh, địa danh, từ ngữ nước ngoài. Hoàn nguyên các ngữ liệu này là một việc phức tạp, đòi hỏi thời gian, và không phải lúc nào cũng có thể giải ngữ được toàn bộ. Trong bản dịch vẫn tồn đọng một số nhân danh còn chờ truy cứu, nhưng những kết quả phục nguyên hiện có hiển nhiên là chính xác. Tính nghiêm túc, khoa học và cầu thị của bản dịch thể hiện ngay từ những nguyên tắc cơ bản. Ví dụ tên người, tên đất Việt Hán từ phía bắc Quảng Nam trở ra và từ tỉnh này trở vào được phiên âm quốc ngữ phân biệt “theo tập quán truyền thống”; theo đó, tuy ghi cùng Hán tự, một địa danh ở Nam Định là “Phúc Thịnh” thì ở Quảng Ngãi sẽ được đọc thành “Phước Thạnh”. Nguyên tắc này khiến bản dịch vừa mang tính phổ quát, vừa thể hiện được sắc thái địa phương trong ngữ cảnh cụ thể. Bên cạnh đó, bản dịch còn được tổ chức theo hướng công cụ hoá, tạo điều kiện thuận lợi tối đa cho người đọc: các “đơn vị ghi chép” tức các “điều” trong bản dịch được thêm ký số từ 0001 trở đi; trên đầu từng trang của sách có ghi niên hiệu, niên đại âm lịch và dương lịch (như “Giáp Ngọ Thành Thái thứ 6, 1894 -1895”), rất tiện cho việc tra cứu – trích dẫn. Đây cũng là tác phong chuyên nghiệp của người dịch.
Người dịch Đệ lục kỷ Phụ biên cũng đồng thời là một nhà nghiên cứu uy tín. Thế nên, bên cạnh bản dịch nghiêm cẩn của mình, ông còn cung cấp một bản khảo dẫn, giới thiệu tổng quan về quá trình biên soạn cũng như nội dung và giá trị của tác phẩm. Cao Tự Thanh đã tinh tế chọn lọc những sự kiện điển hình để giới thiệu và khái quát thành những nét chính của lịch sử Việt Nam dưới hai triều Phế đế. Ông nhìn thấy ở đấy một “quá trình tái cấu trúc xã hội toàn diện, sâu sắc và rộng khắp” Trung – Bắc, và ít nhất “đến 1913 thì một ‘xã hội dân sự cũng đã bắt đầu hình thành ở Trung kỳ”. Ông cũng cho rằng Đệ lục kỷ Phụ biên “mang trong nó cùng một lúc hai lịch sử: lịch sử Việt Nam dưới hai đời Thành Thái, Duy Tân, và lịch sử nhận định lịch sử ấy của triều đình nhà Nguyễn dưới hai đời Khải Định, Bảo Đại”. Người đọc có thể chưa đồng ý với một vài nhận định trong bài khảo dẫn, nhưng bản thân những nhận định ấy cùng với các ý kiến thảo luận tiếp sau sẽ góp phần hoàn chỉnh một lịch sử nhận thức triều Nguyễn vốn không ngừng biến thiên qua những toạ độ lịch sử khác nhau.
Bản dịch Đệ lục kỷ Phụ biên còn có phần Phụ lục với 10 Nghị định (vốn là nguyên bản hay dịch bản Pháp văn của một số chỉ dụ) trích lục và dịch từ Journal officiel de l’Indochine francaise, một số bài báo trên Đại Nam Đồng văn nhật báo, Đại Nam Đăng cổ tùng báo và Nam kỳ địa phận liên quan đến các sự kiện chép trong sách như việc bắt con Phan Đình Phùng, Ngô Đức Kế hay việc đưa vua Thành Thái vào cung “an dưỡng”. Đặc biệt, Phụ lục còn in lại hai bài khảo cứu dựa trên sử liệu của Đệ lục kỷ Phụ biên về Đào Tấn và về việc khai quật ba hầm bạc trong Đại nội. Hai khảo luận này cho thấy một diện mạo khác của Đào Tấn qua “một vụ tham ô tập thể ở bộ Công” cũng như về lập trường dân tộc của các tác giả sách đối với việc chính quyền thuộc địa Pháp chiếm đoạt số tài sản mà trước kia vua Minh Mạng cho chôn giấu.
Xét về phương diện sử học (historiography), Đệ lục kỷ Phụ biên là một tư liệu quý, cho thấy thể biên niên sử vương triều ở Việt Nam đã đi vào chung cuộc như thế nào, khi theo dòng Tân sử học của Lương Khải Siêu, Việt Nam quốc sử khảo của Phan Bội Châu đã xuất hiện, thoát ra ngoài khuôn khổ chép sử theo niên đại các triều vua. Bản dịch Đệ lục kỷ Phụ biên là một niềm vui lớn đối với công chúng, chỉ tiếc là việc được đồng thời tiếp cận nguyên tác vẫn chưa được đáp ứng trong lần đầu xuất bản này. Và sau Đệ lục kỷ Phụ biên, người đọc lại trông đợi Đệ thất kỷ sớm ra mắt để có được trọn vẹn bộ biên niên sử đồ sộ nhất Việt Nam thời phong kiến.
Sử liệu là cơ sở cho mọi thảo luận sử học như Phó Tư Niên từng phát biểu “Sử học vốn là sử liệu học”. Được xem xét từ những tiêu điểm mới với những sử liệu mới, triều Nguyễn trong lịch sử Việt Nam thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX cũng như trong bối cảnh khu vực và quốc tế chắc chắn sẽ còn tiếp tục là chủ đề thảo luận sôi nổi của các tác giả trong và ngoài nước.
Chú thích
* Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục Chính biên Đệ lục kỷ Phụ biên, Cao Tự Thanh dịch và giới thiệu, Nxb – Văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh 2011.

Thứ Sáu, 2 tháng 12, 2011

Vua Tự Đức với việc bảo vệ an ninh biên giới phía Bắc


TẠP CHÍ XƯA & NAY
SỐ 391 THÁNG 11-2011
Mai Thị Huyền
Thời Nguyễn, Việt Nam đã trở thành một quốc gia thống nhất về mặt lãnh thổ. Triều Nguyễn trong quá trình xây dựng và củng cố chính quyền luôn đặt vấn đề duy trì và bảo vệ vững chắc cương giới làm nhiệm vụ hàng đầu. Tuy nhiên, trên thực tế rất nhiều vấn đề nảy sinh khiến triều đình gặp khó khăn trong việc thực hiện nhiệm vụ quan trọng đó. Trong khoảng thời gian 1848-1883, thời trị vì của Tự Đức, tình trạng mất ổn định về an ninh quốc phòng đã diễn ra một số tỉnh biên giới phía Bắc: Cao Bằng, Lạng Sơn, Hưng Hoá(1), Tuyên Quang và Quảng Yên(2).
Các tỉnh biên giới phía Bắc của nước ta đều nằm ở vị trí có đường biên giới giáp với phía nam Trung Quốc. Qua biên giới các tỉnh này, việc thông thương với Trung Quốc tương đối thuận tiện, song những vùng này có địa hình hiểm trở, khí hậu khắc nghiệt, dân cư thưa thớt; là địa bàn quan trọng trong việc xây dựng hệ thống phòng thủ về quân sự, nhưng do địa hình hiểm trở nên cũng hạn chế tầm nhìn, tầm bao quát của nhà nước phong kiến trung ương, các nhóm phản loạn vì vậy dễ có điều kiện trú ẩn lâu dài.
Tỉnh Quảng Yên vừa có đường biên giới phía Bắc giáp Trung Quốc, lại có bộ phận phía Đông nam giáp biển Đông. Nơi hội tụ nhiều dạng địa hình khác nhau, đồng bằng, đồi núi và hệ thống hải đảo, được coi là địa bàn điển hình nhất về dạng địa hình của các tỉnh biên giới phía Bắc.
Sau khi kế vị năm 1847, Tự Đức đã dành sự quan tâm đặc biệt đến các tỉnh biên giới phía Bắc. Kế thừa kinh nghiệm xây dựng hệ thống quân sự ở thời Minh Mạng, ông tiếp tục củng cố ở tỉnh Quảng Yên nhiều ải và bảo lớn. Mặt khác, Tự Đức còn bổ nhiệm các chức quan từ Kinh thành làm tổng đốc ở các tỉnh Hưng Hoá, Lạng Sơn, Tuyên Quang, Cao Bằng để giữ yên biên cương phía Bắc.
Giai đoạn 1848-1878 cũng là thời điểm xảy ra nhiều cuộc khởi nghĩa nông dân ở Trung Quốc. Phổ biến là phong trào ở các tỉnh Quảng Tây, Vân Nam, Quý Châu. Song điển hình nhất vẫn là những tổ chức lấy danh nghĩa tôn giáo để tập hợp nông dân chống lại triều đình. Sau một thời gian, triều đình Mãn Thanh tập trung quân đội đàn áp, các nhóm quân rơi vào thế đường cùng buộc phải tràn sang biên giới Việt Nam tìm nơi trú ẩn.
Hoạt động của nhóm Tam Đường
Tiền thân của nhóm Tam Đường là tổ chức Thiên Địa hội ở Trung Quốc. Trong những năm 1807-1851, Thiên Địa hội là một tổ chức lớn tiêu biểu cho các nhóm quân nổi dậy chống triều đình Mãn Thanh. Sau nhiều lần tập trung quân truy quét lực lượng này, nhà Thanh về cơ bản đã loại bỏ được những hạt nhân quan trọng của Hội Thiên Địa. Những tướng lĩnh cầm đầu của tổ chức này đã bàn kế hoạch sang Việt Nam: Quảng Nghĩa Đường Lý Đại Xương, Đức Thắng Lưu Sỹ Anh, Lục Thắng Đường Hoàng Nhị Vãn(3).
Nhóm Tam Đường tiến hành gây rối ở các tỉnh biên giới phía bắc nước ta bắt đầu bởi sự kiện tháng 11-1858, quân của Lục Thắng Đường quấy nhiễu ở Thất Khê (tỉnh Lạng Sơn). Sau đó cánh quân của Hoàng Nhị Vãn nhân cơ hội tiến nhanh sang tỉnh Cao Bằng. Với hai nghìn quân, Hoàng Nhị Vãn đã chiếm giữ được các châu Thạch An, Thượng Hạ Pha, Bình Quân. Triều đình nhiều lần tập trung binh lực và điều động các lãnh binh thay phiên nhau truy quét cánh quân của Hoàng Nhị Vãn song vẫn chưa có hiệu quả. Phải mất 7 năm sau, vào tháng 5-1865 triều Nguyễn mới loại bỏ hoàn toàn các cánh quân này ra khỏi tỉnh Cao Bằng.
Hoạt động của các nhóm giặc Cờ
Các nhóm giặc Cờ cũng đều có nguồn gốc từ tàn quân của tổ chức Thiên Địa hội ở Trung Quốc(4). Nhóm Cờ vàng với đại diện là Hoàng Sùng Anh, Bàn Văn Nhị là thủ lĩnh quân Cờ trắng, Lưu Vĩnh Phúc đứng đầu giặc Cờ đen. Tuy nhiên khi dạt sang Việt Nam, sự phân hoá của các nhóm giặc cờ thành nhiều khuynh hướng khác nhau đã gây ra sự căng thẳng ở các tỉnh biên giới. Năm 1868, quân Cờ trắng tập trung cướp bóc ở châu Lục Yên, tỉnh Tuyên Quang. Sau trận này, vì xung đột về quyền lợi và phạm vi chiếm đóng, quân Cờ trắng đã bị quân Cờ đen loại bỏ.
Đứng đầu quân Cờ vàng là Hoàng Sùng Anh, hay còn gọi là Hoàng Anh. Trong năm 1862, quân Cờ vàng của Hoàng Sùng Anh hoạt động mạnh ở tỉnh Tuyên Quang. Sau 4 tháng, nhận thấy tình hình cướp bóc ở Tuyên Quang không đem lại kết quả, đến tháng 4-1862, Hoàng Anh vờ đưa ra kế hoạch đầu hàng triều Nguyễn. Nhưng đến tháng 6-1868, quân của Hoàng Sùng Anh lại hợp sức với quân Cờ đen tấn công thành Lào Cai. Hoàng Sùng Anh tạo phản, bị triều đình truy đuổi, năm 1869 buộc phải rút hết quân về tỉnh Cao Bằng. Liên tiếp bị quân và dân địa phương Cao Bằng đánh đuổi, cánh quân Cờ vàng buộc phải trú ẩn ở Bảo Thắng (tỉnh Hưng Hoá). Sau 5 năm, triều đình vẫn chưa thể truy quét tận gốc cánh quân cướp bóc này. Đến tháng 8-1874, không chịu nổi sự truy kích của triều Nguyễn, Hoàng Anh lại xin hàng. Nhưng sang năm 1875, nhóm quân của Hoàng Anh lại tạo phản. Tháng 6-1875, triều Nguyễn tập trung lực lượng tấn công nhiều phía, kết hợp với nhóm người Thổ ở địa phương, điều động Tuần phủ tỉnh Hưng Hoá là Nguyễn Huy Kỷ cùng quan sở tại Nguyễn Văn Giáo nhằm tiêu diệt hoàn toàn tên đầu sỏ này. Đến tháng 8-1875, Hoàng Sùng Anh bị tiêu diệt.
Quân Cờ đen bắt đầu gây sự ở Lào Cai vào tháng 6/1868. Tuy nhiên, như trên đã khẳng định, quân Cờ đen không phải một mình làm chủ vùng đất này mà ở Lào Cai cũng có sự có mặt của quân Cờ vàng. Quân Cờ đen đã loại bỏ quân Cờ trắng của Hoàng Nhị Vãn và không thôi hi vọng làm bá chủ. Sự tồn tại của quân Cờ vàng đã cản trở mục tiêu chiếm đóng của quân Cờ đen, vì vậy quân Cờ vàng nhanh chóng bị quân Cờ đen gây áp lực phải chuyển địa bàn sang nơi khác. Mâu thuẫn giữa hai cánh quân diễn ra gay gắt, đặc biệt là sau năm 1870, quân Cờ đen công khai chống đối các nhóm quân khác nhằm tranh giành quyền lợi ở các tỉnh biên giới phía Bắc.
Quân Cờ đen được coi là nhóm quân hoạt động mạnh nhất ở khu vực biên giới phía bắc. Thủ lĩnh quân Cờ đen là Lưu Vĩnh Phúc(5). Năm 1868, ông chỉ huy quân Cờ đen tràn sang các tỉnh biên giới phía bắc nước ta. Đương thời, những hoạt động của quân Cờ đen đã được miêu tả lại trong một số câu thơ:
Bao giờ cho hết khoá này
Cho dân khỏi phải khổ lây vì giời (vì vua)
Bao giờ sắt nặng biết bay (có máy bay)
Cờ đen hoạ có đến ngày phải tan(6).
Để loại bỏ tận gốc cánh quân Cờ vàng, điều cần thiết cho quân Cờ đen là phai có một địa bàn an toàn hoạt động lâu dài. Vì vậy, nhân cơ hội triều Nguyễn dụ hàng, Lưu Vĩnh Phúc đã chấp nhận. Tự Đức ban cho Lưu Vĩnh Phúc làm Đề đốc trấn hạt Thập Lục Châu, cho tự do thu thuế. Trong quá trình hoạt động, quân Cờ đen đã tạo những bước chuẩn bị cần thiết về lực lượng, căn cứ, nhanh chóng loại bỏ quân Cờ vàng. Năm 1875, quân Cờ vàng bị quân Cờ đen tiêu diệt hoàn toàn.
Địa bàn hoạt động của quân Cờ đen ngày càng rộng lớn và sức ảnh hưởng của nhóm quân ngày càng mạnh. Năm 1829, quân Cờ đen đánh bại Hà Quân Xương, một tên cầm đầu các nhóm cướp bóc ở Bảo Thắng (Hưng Hóa), chiếm lấy thị xã Lào Cai làm căn cứ(7). Quân Cờ đen làm chủ hoàn toàn vùng biên giới, tự thu thuế của cư dân các vùng xung quanh. Sau này, Lưu Vĩnh Phúc đã phối hợp với quân của Hoàng Thủ Trung, Phùng Tử Tài và Hoàng Kế Viêm đánh dẹp các nhóm cướp bóc ở các tỉnh biên giới phía Bắc. Đội quân Cờ đen trở thành lực lượng đắc lực chống Pháp và đã giành thắng lợi ở hai trận Cầu Giấy (1874, 1883). Năm 1877, Lưu Vĩnh Phúc đã xin triều Nguyễn ở lại Bảo Thắng (tỉnh Hưng Hoá) sinh sống. Sang năm 1878, quân Cờ đen buộc phải rút hết về Trung Quốc theo yêu cầu của Pháp(8).
Các thủ lĩnh quân sự khác
Cùng thời điểm với các hoạt động của nhóm Tam Đường, Tạ Văn Phụng cũng gây rối tại tỉnh Quảng Yên. Tạ Văn Phụng trước đó là lính mộ của Pháp, năm 1861 mạo danh là dòng dõi nhà Lê và tự xưng là minh chủ. Tạ Văn Phụng lợi dụng sự bất mãn của dân nghèo vùng biển đối với triều Nguyễn lôi kéo họ nổi dậy ở phía Bắc, tạo điều kiện cho Pháp xâm lược nước ta ở phía Nam. Cuối năm 1863, Tạ Văn Phụng đã tập hợp hơn 500 chiếc thuyền ở đảo Cát Bà, vùng núi Đồ Sơn, chủ trương tiến đánh kinh thành Huế nhưng không thành. Tán tương Trần Huy Sách đem quân chặn đánh quân của Tạ Văn Phụng ở La Khê (tỉnh Quảng Yên) bị thua nặng, tất cả đều hi sinh. Tháng 5-1865, Tạ Văn Phụng bị Tán lý Đặng Trần Chuyên, Đốc đinh Ông Ích Khiêm đem quân truy đuổi. Trên đường trốn thoát, Tạ Văn Phụng bị bắt về Kinh xử tử.
Năm 1867, tàn quân cũ của khởi nghĩa Thái Bình Thiên Quốc là Ngô Côn đã tràn sang biên giới phía Bắc nước ta. Ngô Côn tập hợp quân tấn công và chiếm được tỉnh thành Cao Bằng. Với 2000 quân, trên đà thắng thế Ngô Côn chia quân cướp bóc ở tỉnh Lạng Sơn. Đối phó với tình hình này, Tự Đức đã đưa ra nhận định: “Trẫm liệu tính thì lũ Ngô Côn gian giảo lắm, nhưng chúng cũng ngại chết, đã bị quan quân nước Thanh bức bách không có lối về, cho nên tràn sang nước ta, cũng là cầu một chỗ dung thân, việc xin hàng của hắn cũng là một cái thật ở trong cái dối, mà sự thế hiện này của ta bất đắc dĩ mới phải dùng quân… Cho Phan Khắc Thận đeo ấn Hữu Tướng quân đi ngay xem xét tình trạng của chúng ra sao? Nên xử trí thế nào để tâu về xét định”(9). Đồng thời ông lập bổ nhiệm các chức quan ở địa phương: Phạm Chi Hương làm Tổng đốc Lạng Bằng quân vụ đại thần, Tiễu phủ sứ Ông Ích Khiêm làm Tán lý quân thứ; yêu cầu quan lại ở Bắc kỳ tập hợp quân địa phương để dự trữ phòng bị.
Các tướng lĩnh chỉ huy quân sự cũng gặp khó khăn trong việc đối phó với Ngô Côn. Đoàn Thọ, Vũ Trọng Bình và Lê Bá Thận nhận thấy với địa thế hiểm trở ở các tỉnh biên giới, lại thêm khí hậu khắc nghiệt, binh lính không hợp với địa hình, nên rất khó có thể tiêu diệt hoàn toàn Ngô Côn. Tháng 3-1869, Ngô Côn đã chiếm giữ Đồng Đăng, Kỳ Lừa (tỉnh Lạng Sơn) nhằm phục vụ âm mưu chặn đường vận lương của quân doanh Lạng Sơn, Thái Nguyên. Triều đình buộc phải lập tức điều động nhiều cánh quân từ Kinh thành và địa phương, kết hợp với sự trợ giúp của Phùng Tử Tài – thống lĩnh quân nhà Thanh để đối phó. Đến năm 1870, tướng giặc Ngô Côn bị tiêu diệt hoàn toàn.
Những tháng cuối năm 1862, thủ lĩnh Tô Tứ bắt đầu hoạt động ở Tiên Yên (tỉnh Quảng Yên). Tỉnh thần Đặng Xuân Bảng đã cấp 500 phương gạo và 500 quan tiền cùng thuốc đạn, ống phun lửa, tập hợp nhân dân chống lại. Song đến năm 1866, Tô Tứ lại chuyển hướng sang hoạt động ở tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn. Tự Đức lo ngại lập tức sai Thống quản thị vệ đại thần Đoàn Thọ ra Bắc kỳ làm Tổng thống quân Bình kiêm chức Tuyên Thái Lạng quân thứ dẹp giặc. Nhưng Đoàn Thọ vừa tới Lạng Sơn thì bị quân của Tô Tứ vây thành vào ban đêm. Vũ Trọng Bình chạy thoát, quan quân triều đình ở Lạng Sơn bị thương rất nhiều. Tự Đức xuống dụ: “Bọn giặc Tô Tứ không có mấy, mà đã bao lâu chưa bình được cũng đáng quái lạ. Xét bản đồ thì nơi ấy núi khe hiểm cao, quân ta chỉ đi đằng trước và bên tả hữu xa ngăn chặn, bọn giặc giữ chỗ hiểm chống cự, con đường sau có nhiều ngả, không đoái hoài lo đến. Nay nên sức cho hào lý sở tại mộ lính Thổ dõng, tìm con đường tắt, chia ra ngăn chặn hoặc sức người Thổ trước đến đấy mượn hộ lính dõng người nước Thanh, thẳng đánh vào con đường sau, quân ta ở mặt nước đánh giáp lại, có thể một trận đánh dẹp tắt được”(10). Mặt khác, Tự Đức cử thêm Thượng thư Lê Tuấn làm khâm sai Thị sứ đem quân truy quét. Tháng 10-1871, Tô Tứ âm mưu chạy về trấn Đông Hưng (Trung Quốc) bị quan quân triều đình chặn đánh và tiêu diệt.
Tháng 9-1878, Lý Tương Tài thuộc quân của Phùng Tử Tài, người Quảng Đông (Trung Quốc), đổi tên là Lý Đạt Đình, phao tin Việt Nam là đất tổ, đem hơn một vạn quân tấn công tỉnh Lạng Sơn, sau đó mở rộng phạm vi sang phố Đồng Bộc, Kỳ Lừa. Tự Đức đưa ra biện pháp bổ nhiệm Nguyễn Đình Nhuận làm Bố chính tỉnh Lạng Sơn; điều động quân tại Kinh thành phối hợp với 500 quân Thanh Nghệ và nhờ Triệu Ốc (Trung Quốc) hỗ trợ đánh dẹp. Phùng Tử Tài theo lệnh nhà Thanh một lần nữa mang quân sang nước ta. Sau khi Lý Tương Tài bị quân Thanh bắt sống, giải về nước chặt đầu, toàn bộ quân của Phùng Tử Tài đã rút quân khỏi các tỉnh biên giới phía Bắc nước ta. Như vậy, năm 1878 là mốc đánh dấu sự chấm dứt hoàn toàn những hoạt động của các nhóm cướp bóc ở các tỉnh biên giới phía Bắc Việt Nam.
Quyết tâm của triều đình Huế
Hiện trạng xung đột vũ trang giữa quan quân triều đình và các nhóm cướp bóc ở các tỉnh biên giới phía bắc nước ta (1848-1878) diễn ra khá  mạnh mẽ. Giai đoạn từ 1862-1868, là thời điểm cuộc khởi nghĩa nông dân Thái Bình Thiên quốc và các phong trào nông dân ở Trung Quốc bị triều đình nhà Thanh đàn áp. Các tàn quân bị đẩy xuống phía nam và tiến sang biên giới phía bắc Việt Nam. Một mặt chúng kiếm kế sinh nhai, mặt khác cũng thể hiện mong muốn chiếm đóng và thể hiện phạm vi ảnh hưởng của chúng ở địa bàn này.
Nhìn chung, những hoạt động của các nhóm cướp bóc mang tính chu kỳ, thường tập trung vào những tháng cuối năm là thời điểm tình trạng đói kém xảy ra. Mục đích chính vẫn là cướp bóc để bù đắp tình hình đói kém, vì vậy khi bị quan quân triều đình truy quét, chúng nhanh chóng dạt sang các vùng lân cận. Tuy nhiên, có rất nhiều các nhóm quân khác nhau cùng tranh giành ảnh hưởng và quyền lợi trên địa bàn ở các tỉnh biên giới nên không thể tránh khỏi tình trạng tự bản thân chúng thanh toán, loại bỏ lẫn nhau. Đây cũng là một điểm thuận lợi cho triều đình sử dụng chính sách “dĩ di trị di” nhằm hạn chế bớt thương vong của binh lính.
Thực tế, những hoạt động quân sự ở các tỉnh biên giới đã có ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống người dân và gây ra nguy cơ mất ổn định về mặt an ninh quốc phòng. Hiện tượng cướp bóc của các nhóm quân đã khiến triều đình tiêu tốn một khoản chi phí không nhỏ nhằm chẩn cấp cho người dân sau khi các toán quân đã rút lui. Mặt khác, việc điều động quan quân triều đình ở Kinh thành đến các địa phương cũng gây xáo trộn về mặt chính trị ở chính các địa phương đó do bản thân những người được bổ nhiệm còn chưa quen với các vùng biên giới. Triều Nguyễn đã điều khá nhiều tướng lĩnh tài giỏi như Nguyễn Đăng Giai, Lê Tuấn, Nguyễn Tri Phương để đối phó với tình hình hỗn loạn ở biên giới phía bắc, làm phân tán lực lượng chủ lực chống lại sự xâm lược của thực dân Pháp ở phía nam.
Triều Nguyễn có vai trò chủ đạo trong việc đưa ra chính sách đối phó với các nhóm cướp bóc. Cơ bản nhất vẫn là việc bổ sung binh lính từ Kinh thành đến các địa phương; xây dựng hệ thống đồn bốt phòng thủ; phát huy sức mạnh của nhân dân ở các địa phương. Đặc biệt, bắt đầu từ năm 1868, Tự Đức đã gửi thư cầu viện nhà Thanh mang quân sang nước ta giúp việc đánh dẹp các nhóm cướp bóc. Năm 1878, trong một bức thư gửi tuần phủ Quảng Tây, Tự Đức viết: “Hiện nay quan binh của thượng quốc đã chia ra đóng đồn khắp tỉnh Lạng Sơn, tướng thần cùng binh dũng của hạ quốc cũng đã được phái đi khắp mạn bắc để án ngữ. Nhưng ngặt vì bọn giặc rất đông, lại đều là những quân thuộc đường, đánh giỏi. Đến nay như quan binh thượng quốc xưa nay có tiếng là hùng mạnh, lại đã từng quen thuộc mà bao ngày hết sức đánh dẹp mới có thể đuổi được chúng chạy trốn”(11). Trên thực tế, biện pháp đó đã mang lại những hậu quả bước đầu, có thể dẹp trừ các nhóm cướp bóc. Nhưng sâu xa, biện pháp cầu viện nhà Thanh sẽ gây nên những yếu tố bất lợi cho tình hình nước ta. Thời điểm nửa đầu thế kỷ XIX, Việt Nam là đối tượng tranh giành phạm vi ảnh hưởng và quyền lợi của rất nhiều thế lực. Sự cầu viện của nhà Nguyễn góp phần tăng thêm mâu thuẫn Phap-Thanh vốn đã ươm mầm từ nhiều năm trước về vấn đề Việt Nam.
Qua việc tìm hiểu những xung đột vũ trang chủ yếu ở giai đoạn 1848-1878, có thể thấy rõ ý thức của triều đình mà đứng đầu là Tự Đức trong việc bảo vệ biên cương. Mỗi khi có sự tấn công của các nhóm phản loạn hay cướp bóc, Tự Đức luôn họp bàn với các quan quân để tìm phương pháp đối phó. Ông luôn tìm ra những biện pháp cấp bách để có thể đẩy lùi tình trạng bất ổn về an ninh, quốc phòng ở các tỉnh biên giới phía Bắc. Thái độ của Tự Đức cũng như quan quân triều đình và địa phương trước sau đều kiên quyết bảo vệ vững chắc cương giới đất nước.
Chú thích
1. Hưng Hoá: gồm Lào Cai, Lai Châu, Điện Biên, Yên Bái, Sơn La và một phần Phú Thọ ngày nay.
2. Quảng Yên: là tỉnh Quảng Ninh ngày nay.
3. Ba nhân vật này được coi là lãnh đạo chủ chốt của Thiên Địa hội. Thiên Địa hội cũng hoạt động cùng thời với Hội Thượng Đế (do Hồng Tú Toàn sáng lập) nhưng mang màu sắc tôn giáo thần bí hơn. Xem Bạch Thọ Di, Trung Quốc thông sử, tập 19, tr. 221, Sở Tiêu Kinh, Thượng Hải ấn hành, 1999.
4. Giặc Cờ bị phân hoá thành nhiều phe phái thủ lĩnh của đội quân nào thì lấy màu cờ làm tên của cánh quân đó. Quân Cờ đen thì có cờ hiệu màu đen, quân Cờ vàng có cờ hiệu màu vàng, quân Cờ trắng có cờ hiệu màu trắng.
5. Lưu Vĩnh Phúc sinh năm 1837, tại Cổ Sâm, châu Khâm, tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc. Trước khi làm thủ lĩnh quân Cờ đen, ông đã tham gia vào tổ chức Thiên Địa hội của Ngô Á Chung, sau khi bị triều đình Mãn Thanh truy quét phải chạy sang nước ta.
6. Chế Tuyết, Chiến mưu Lưu Vĩnh Phúc giặc Cờ đen, Vĩnh Yên, 1937, tr. 20.
7. Lưu Chính Lạc, Lưu Vĩnh Phúc tại Thượng Tư, Uỷ viên Hội văn sử Chính Hiệp, huyện Thượng Tư, tỉnh Quảng Tây, Nxb Nguyên Lưu, Nam Ninh, 2002.
8. Văn Tân, Lưu Vĩnh Phúc tướng Cờ đen và các hành động của ông ở Việt Nam, tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 94, 1962.
9. Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục, tập 7, Nxb Giáo Dục, Hà Nội, 2000, tr. 1124.
10. Đại Nam thực lục, Sđd, tr. 997.
11. Thơ văn Tự Đức, Nxb Thuận Hoá, Huế, 1996, tr. 348.