Top 5 quốc gia nguy hiểm về giao thông nhất Đông Nam á, Việt nam xếp thứ mấy ?
Bí Ẩn Angkor Wat - Quá trình xây dựng một kỳ quan
Bí ẩn về Hội Tam Hoàng tại Việt Nam, một thời làm mưa gió
Top 10 vụ cướp Ngân hàng (nhà băng) kinh điển nhất Việt Nam | phim Mỹ còn thua
Top 10 xe tăng và pháo tự hành chống tăng mạnh nhất của Mỹ trong chiến tranh thế giới thứ 2
Top 10 trận đấu xe tăng kinh hoàng nhất trong lịch sử thế giới
Top 10 xe tăng và pháo tự hành chống tăng mạnh nhất của Đức trong Thế chiến 2
top 10 xe tăng nổi bật làm thay đổi chiến tranh thiết giáp
Việt nam đã bắn bao nhiêu viên đạn pháo trong chiến dịch Điện Biên Phủ 1954
Bí mật những trận đánh giữa Việt minh với quân đội Anh tại Sài gòn năm 1945
Bí ẩn việc tướng Giáp đã phân tích so sánh lực lương Pháp và quân ta như thế nào?
Chiến thắng Điện Biên Phủ và 10 cái nhất có thể bạn chưa biết
Tạp chí Tia sáng
Số 23, ngày 5/12/2011
Nguyễn Bá Dũng
Cuốn sử Đại Nam Thực lục Chính biên Đệ lục kỷ Phụ biên[1] vừa xuất hiện đầu tháng 11.2011. Chỉ vài tuần cho thời gian chuyển sách từ tp HCM tới tay bạn đọc Hà Nội thì không biết có ai dám chắc rằng mình đã đọc hết cuốn sách ngót 800 trang chữ nhỏ đó không; còn một trong những người chưa thể đọc hết chỉ dám ghi lại đây đôi điều tản mạn.
1. Cuốn sách đắt (giá bìa 400 ngàn đồng)… xắt ra miếng. Vậy mà người ta nói rằng, thư ký của “Hàn sĩ” Cao Tự Thanh cho biết toàn bộ 2.000 cuốn đã phân phối hết. Mong rằng tất cả các sách Sử đích thực như cuốn này đều có giá bìa cao và bán chạy.
2. Tôi gọi đây là một cuốn “Sử đích thực” vì nội dung cuốn sách đúng như tiêu đề bài nghiên cứu trong sách của Nhà Sử học Cao Tự Thanh: “Hai mươi tám năm lịch sử Việt Nam trong Đại Nam Thực lục Chính biên Đệ lục kỷ Phụ biên”. Vâng, đây chính là cuốn Quốc Sử duy nhất của giai đoạn 1889-1916 mà lần đầu tiên được dịch và công bố.
3. Bài nghiên cứu dài 44 trang (sđd, tr. 15-58) sẽ giúp cho bạn đọc có được một cái nhìn bao quát và toàn diện về một phần lịch sử nước ta (đặc biệt là Trung Kỳ và Bắc Kỳ) trong hai đời Vua Thành Thái (1889-1907) và Duy Tân (1907-1916), là hai vị Vua yêu nước đã bị thực dân Pháp phế truất và bắt đi đày. Chúng ta sẽ được biết thêm nhiều sử liệu “hay lạ có thể giúp người đọc sách điều chỉnh nhận thức, giải tỏa thiên kiến trước nay về nhiều sự kiện và nhân vật lịch sử” (sđd, tr. 21). Ví dụ, điều 629 (sđd, tr. 240, 242) cho thấy chuyện “Nguyễn Thân cho đào mộ Phan Đình Phùng ‘đốt xác, trộn tro với thuốc súng, bắn xuống sông Lam’” cũng chỉ là chuyện kiểu Em bé Đuốc Sống mà thôi. Bài viết phân tích sâu sắc quan điểm sử học và chính trị của bộ sử, sự biến đổi của quyền lực chính trị và hệ thống hành chính của nhà Nguyễn trước sự chèn ép và khống chế của Pháp và sự chống đỡ yếu ớt của họ trước sự khống chế đó mà hệ quả là một thời kỳ quá độ chuyển xã hội phong kiến thành xã hội thuộc địa nửa phong kiến. Những thay đổi đó khiến “sinh hoạt xã hội ở vùng Trung Bắc [kỳ] thời gian 1889-1916 cũng bước vào một quá trình tái cấu trúc xã hội toàn diện, sâu sắc và rộng khắp” (sđd, tr. 42) nhưng “…không đi đến tận cùng con đường xóa bỏ cấu trúc kinh tế-xã hội cũ mà thường đưa tới các hình thức không trọn vẹn của các tổ chức, thiết chế và quan hệ hiện đại đan xen với các yếu tố truyền thống…” (sđd, tr. 47). Các kiến giải khác cũng hết sức chi tiết và lý thú: về các hoạt động văn hóa, về quá trình quốc tế hóa-hiện đại hóa, bút pháp sử học, đặc điểm ngôn ngữ và đặc biệt là các phong trào đấu tranh vũ trang và các cuộc vận động chống Pháp đã được ghi chép trong bộ sử này. Vâng, nhưng tâm đắc nhất vẫn là kết luận của bài viết: “Trong nhiều công trình biên soạn lịch sử quan phương chính thống hiện nay, lịch sử Việt Nam thời gian 1884-1945 nhìn chung chỉ được tái hiện một cách phiến diện và mờ nhạt, và trong không ít trường hợp quốc sử chỉ được nhìn qua lăng kính đảng sử, thậm chí còn bị nhất hóa vào với đảng sử. Nhưng yêu cầu tổng kết lịch sử dân tộc thời gian 1884-1945 hiện nay không thể chỉ giới hạn trong phạm vi mục tiêu hoạc thuật và định hướng thực tiễn như trước, vì nhu cầu phát triển của đất nước đang đòi hỏi một cái nhìn toàn diện, thấu đáo và cởi mở hơn về quá khứ. Trong ý nghĩa này, Đại Nam Thực lục Chính biên Đệ lục kỷ Phụ biên là một trong những nguồn sử liệu mặc dù còn khiếm khuyết sơ lược vẫn mang những giá trị gợi mở to lớn mà nếu được quan tâm thích đáng chắc chắn sẽ góp phần làm sáng tỏ thêm nhiều hiện tượng, lãnh vực và quá trình lịch sử ở Việt Nam cả đến Cách mạng Tháng Tám 1945. ” (sđd, tr. 58)
4. Phần phiên dịch tên riêng, đặc biệt là tên đất, tên người được dịch giả xây dựng thành nguyên tắc và đã được thể hiện thành công trong trong quá trình dịch bộ sử. Điều này rất quan trọng nếu ta nhớ lại việc một cuốn sử quan trọng khác (Gia Định thành thông chí); cũng (một phần) vì vấn đề này mà bản dịch của Đỗ Mộng Khương và Nguyễn Ngọc Tỉnh (1964) đã được Lý Việt Dũng biên dịch lại, chú giải, Huỳnh Văn Tới hiệu đính, giới thiệu để tái bản (2004).
5. Cuốn sách có phần phụ lục, gồm 15 phụ lục (pl). Xin được bàn về phần phụ lục này.
- Hai phụ lục 5 & 7, chúng tôi không tìm thấy trong bộ sử có phần nào liên quan. Phần dịch Pháp-Việt còn có nhiều chỗ phải xem lại (Pl 3: dịch sai Khâm sứ Trung kỳ thành Khâm sứ Lào; rải rác trong các pl khác không dịch Annam thành Trung Kỳ như quy ước, lỗi font ở pl 11…). Phần phụ lục số trang ít mà tạo cảm giác lỗi nhiều hơn phần chính của sách.
- Hai phụ lục 14 & 15 là các bài viết của dịch giả chúng tôi đã được đọc trên Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển số 85-86 (2011). Việc đặt các bài viết này thành phụ lục một quyển Chính Sử, khiến chúng tôi cứ ngờ ngợ. Giá chúng được tập hợp trong “Nghiên bút… 20 năm” thì hay biết mấy! Đặc biệt là pl 14, đành rằng với sử liệu mới công bố trong bộ sử, chúng ta biết rằng cái mặt nạ ông quan “cương trực thanh liêm” của Đào Tấn đã rớt xuống, nhưng việc này, nếu quá tam ba bận (có cả trong bài nghiên cứu, phần dịch và pl 14) như vầy, e tổn thương danh tiếng sử quan!
6. Việc xuất bản Đại Nam Thực lục Chính biên Đệ lục kỷ Phụ biên đáng được coi là một sự kiện Sử học năm 2011. Tôi chắc cuốn sách sẽ lọt vào “con mắt xanh” của các Hội đồng Giải thưởng Trần Văn Giàu, Hội đồng Giải thưởng Phạm Thận Duật (Ôi, vì sao chưa có Giải thưởng Đào Duy Anh ?). Tuy nhiên các thông tin xung quanh việc xuất bản cuốn sách cho thấy đấy chỉ là việc làm của cá nhân đơn độc, không có dự án, không có tài trợ của quốc gia, dù đó là cuốn Chính Sử. Tôi tin, nếu được tài trợ hợp lý, cuốn sách sẽ được làm tốt hơn rất nhiều. Một ví dụ dễ thấy là rất nhiều tên riêng nước ngoài, bản dịch vẫn chưa tìm được tới nguyên danh; nếu dịch giả có đủ điều kiện thì việc tìm kiếm các tài liệu để giải quyết việc này không phải là quá khó. Liệu bộ cuối cùng của Đại Nam Thực lục là Đại Nam Thực lục chính biên đệ thất kỷ viết về lịch sử Việt Nam dưới đời Khải Định (1916 – 1925) có gặp may mắn hơn không ?
7. Việc Đại Nam Thực lục Chính biên Đệ lục kỷ Phụ biên ra đời còn cho thấy một nhu cầu vô cùng cấp thiết trong việc hiệu đính, chú giải các bộ Cổ Sử Việt Nam đã xuất bản trong những năm từ thập kỷ 90 của thế kỷ XX trở về trước. Lý do thật dễ hiểu: so với thời gian đó các tư liệu về lịch sử có liên quan phong phú hơn rất nhiều; vấn đề văn bản học và dịch thuật học cũng có những đổi mới. Vì vậy, giới chuyên môn và bạn đọc đòi hỏi phải có những bản dịch mới, chính xác hơn và được chú thích đầy đủ hơn, cập nhật với những sử liệu mới được công bố. Để làm được điều đó, rất cần có một đề án cấp nhà nước, tụ hợp được nhân tài vật lực của quốc gia để thực hiện. Viết đến đây, tôi chợt nhớ ra, báo chí viết rằng, bản chữ Hán của Đại Nam Thực lục Chính biên Đệ lục kỷ Phụ biên và Đệ thất kỷ đã được chuyển về Viện Sử học từ năm 2003. Vậy mà tới đầu năm 2011, một nhà nghiên cứu “ngoài biên chế” mới nhờ chụp được từ Paris một bản chữ Hán khác để mang đến cho chúng ta cuốn sách hôm nay. Phải chăng, như ông Trần Đức Cường, Viện trưởng Viện Sử học đã viết trong lời giới thiệu cho lần tái bản thứ nhất (2002) Bộ Đại Nam Thực lục (Tiền Biên và Chính Biên tới Đệ ngũ kỷ), “Một công trình đồ sộ của Tổ phiên dịch, Viện Sử học mà các vị thành viên trong tổ nay đều đã qua đời, cũng như tổ phiên dịch và Nhà Xuất bản Sử học đều không còn nữa !”[2] ? Cám ơn ông Cao Tự Thanh!
8. Tôi mong rằng, sau một thời gian đủ để nghiên cứu tác phẩm, một nhà phê bình sử học chính danh nào (nếu có) sẽ có bài viết học thuật đánh giá nội dung chuyên môn của cuốn sách này./.
Hà Nội, 27/11/2011
[1] Quốc sử Quán (Triều Nguyễn), Đại Nam Thực lục Chính biên Đệ lục kỷ Phụ biên, Cao Tự Thanh dịch và giới thiệu, nxb VH-VN, 2011.
[2] Quốc sử Quán (Triều Nguyễn), Đại Nam Thực lục T.1, Nguyễn Ngọc Tỉnh dịch, nxb Giáo dục, 2002, tr. 5.
—-
Vài lời về một bài tản mạn
| Cao Tự Thanh |
Tạp chí Tia Sáng số 23 ra ngày 5/12/2011 có đăng tải bài Tản mạn với “Đại Nam Thực lục Chính biên Đệ lục kỷ Phụ biên” của tác giả Nguyễn Bá Dũng (trở xuống xin phép được viết tắt là NBD) nhận xét về quyển sách mới đây của tôi. Sách có chỗ đúng sai hay dở là chuyện thường, việc người đọc hỷ nộ ái ố càng là chuyện thường, nếu thấy bất cứ ý kiến nào cũng “nói lại cho rõ” thì rất dễ mang tiếng ham hơn thua bằng miệng lưỡi. Nhưng ngoài những điểm chính xác và rất đáng suy nghĩ, bài viết nói trên còn có một số chỗ tôi thấy cần có vài lời trao đổi lại mới nên. Bài của tác giả NBD được sắp xếp thành 8 điểm, ở đây cũng xin theo 8 điểm ấy để tiện trình bày. Trước hết, tôi cảm ơn tác giả NBD đã công tâm ở điểm 2, chia sẻ ở điểm 3 và tán đồng ở điểm 4. Nói thêm thì tôi đã sử dụng những nguyên tắc phiên âm phiên dịch tên riêng ấy khi hiệu đính và giới thiệu quyển Quốc triều Hương khoa lục của Cao Xuân Dục (NXB TP Hồ Chí Minh, 1993).
Ở điểm 1, tác giả NBD tản mạn qua chuyện in ấn phát hành với nguồn tin “có người nói” thư ký của tôi cho biết sách in 2.000 cuốn đã phân phối hết. Thư ký của tôi không bao giờ khoác lác như thế, với những lời đồn đại vô bằng ông đừng vội tin là hay.
Trong điểm 5, tác giả NBD nói đúng về những sai sót trong phần Phụ lục, ngoài ra phần Sách dẫn cũng còn một số sai sót không đáng có. Đây là do sau khi sửa morasse tôi đề nghị người dàn trang đổi maquette tức dàn lại hai phần này nhưng lại sơ ý gởi nhầm hai file Sách dẫn và Phụ lục chưa hoàn chỉnh, chuyện này tôi xin chịu lỗi hoàn toàn với người đọc. Nhưng hai Phụ lục 05, 07 không phải là thừa nếu tác giả NBD đọc điều 1850 trong đó có đoạn “chiểu nghị định ngày 22.11.1904 trích Darlac của nước Lào sáp nhập vào Trung Kỳ”. Lối ghi chép trong bộ sử này có khi quá vắn tắt mà thiếu hệ thống nên dễ gây ngộ nhận, đây lại là một chuyện không được sơ suất, tôi phải đưa hai Phụ lục ấy vào để giải thích tại sao nguyên bản lại chép như thế, vì Darlac vốn không thuộc lãnh thổ nước Lào. Về hai Phụ lục 14, 15 tác giả NBD cho rằng tôi tham công cầu danh nên in lại hai bài đã đăng trên Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển Huế, thì tùy tôn ý. Tôi đưa chúng vào Phụ lục để những người chưa đọc có cái đọc thêm, vì không phải ai cũng có hai số tạp chí ấy dưới tay.
Về điểm 6, tôi cảm ơn tác giả NBD có hảo ý, nhưng trước nay tôi làm sách vì thích và cũng để học thêm được cái gì đó, chứ được giải thưởng thường chuốc tiếng thị phi, nhận tiền giúp dễ nếm mùi tủi nhục, đối với những vinh dự và lợi ích loại ấy thì kẻ biết phận không nên mong cầu. Riêng bộ Đại Nam Thực lục Chính biên Đệ thất kỷ thì nguyên bản có chú thích tên riêng chữ Pháp mặc dù chưa đầy đủ, tôi hy vọng là có thể làm người đọc hài lòng hơn.
Trong điểm 7, tác giả NBD đã tản mạn rất hay về một vấn đề rất lớn. Có điều nếu có một Đề án Phiên dịch sử liệu quốc gia như ông đề xuất được phê chuẩn, thì còn phải nghĩ tới lực lượng thực hiện. Trong khoa học thì lao động không đồng nghĩa với sản xuất, nếu không có những người làm việc tự giác và có hiệu quả thì chương trình đề án, chiến lược tầm nhìn gì gì cũng chỉ giống như kiếm cớ lấy tiền nhà nước chia nhau mà ăn một cách hợp pháp thôi. Hai bộ Đại Nam Thực lục Chính biên Đệ lục kỷ Phụ biên và Đại Nam Thực lục Chính biên Đệ thất kỷ ở Thư viện Trường Viễn Đông Bác cổ Pháp được anh Nguyễn Huệ Chi nhắc tới từ khoảng 1988 – 1990, ký hiệu sách được đưa vào công trình Di sản Hán Nôm – Thư mục đề yếu của Viện Nghiên cứu Hán Nôm và Trường Viễn Đông Bác cổ Pháp từ 1993, bản sao ảnh được một nhóm Việt kiều đưa về tặng Viện Sử học từ 2003, tất cả chỉ khoảng 3.000 trang mà đến nay vẫn chưa thấy bản dịch nào được phía quan phương công bố. Về điều này tác giả NBD có cách lý giải của ông, nhưng đó không chỉ là vấn đề của một đơn vị hay một số người nghiên cứu. Đây chủ yếu vì cơ chế hoạt động khoa học quan phương không bắt buộc họ phải làm, thị trường khoa học kém phát triển mà nhiều khuyết tật càng không kích thích họ muốn làm. Sự dấn thân trong hoạt động nghiên cứu không thể có được nơi đội ngũ công chức khoa học hiện nay dù rằng trong đó có nhiều cá nhân thực sự có học vấn và nhân cách. Việc nhiều cán bộ khoa học bị hành chính hóa về lề lối tác nghiệp và ỷ lại vào các nguồn tài trợ (chủ yếu là kinh phí nhà nước) tới mức mất hết thái độ chủ động cũng như tinh thần năng động trong các hoạt động khoa học mới là nạn đề lớn nhất trong sự phát triển của nền sử học nói riêng cũng như khoa học xã hội quan phương Việt Nam hiện nay nói chung.
Sau cùng, về điểm 8 thì tôi cũng mong mỏi không kém gì tác giả NBD, nhưng nếu “một nhà phê bình sử học chính danh” được thay thế bằng “các nhà sử học có đủ tư cách học thuật” thì chắc chắn có lợi hơn cho cả nhiều người đọc lẫn cá nhân tôi.
Nguồn: Tạp chí Tia sáng

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét