Top 5 quốc gia nguy hiểm về giao thông nhất Đông Nam á, Việt nam xếp thứ mấy ?
Bí Ẩn Angkor Wat - Quá trình xây dựng một kỳ quan
Bí ẩn về Hội Tam Hoàng tại Việt Nam, một thời làm mưa gió
Top 10 vụ cướp Ngân hàng (nhà băng) kinh điển nhất Việt Nam | phim Mỹ còn thua
Top 10 xe tăng và pháo tự hành chống tăng mạnh nhất của Mỹ trong chiến tranh thế giới thứ 2
Top 10 trận đấu xe tăng kinh hoàng nhất trong lịch sử thế giới
Top 10 xe tăng và pháo tự hành chống tăng mạnh nhất của Đức trong Thế chiến 2
top 10 xe tăng nổi bật làm thay đổi chiến tranh thiết giáp
Việt nam đã bắn bao nhiêu viên đạn pháo trong chiến dịch Điện Biên Phủ 1954
Bí mật những trận đánh giữa Việt minh với quân đội Anh tại Sài gòn năm 1945
Bí ẩn việc tướng Giáp đã phân tích so sánh lực lương Pháp và quân ta như thế nào?
Chiến thắng Điện Biên Phủ và 10 cái nhất có thể bạn chưa biết
Đôi lời: Một đề tài rất lớn, rất đáng bàn luận, vậy mà bao nhiêu năm qua hiếm thấy được đề cập tới một cách kỹ lưỡng. Có phải nó vẫn quá ư nhạy cảm, để tới độ trong lời dẫn của tác giả đã có đoạn rào đón mà chua xót: “Công việc này tôi đã tiến hành thu thập tư liệu từ những năm 60, bản thảo đã được viết trong nhiều năm, hy vọng sách sẽ được xuất bản sau khi chết để tỏ lòng biết ơn đối với Đảng, với Bác, với hàng triệu người đã ngã xuống để giành cho kỳ được độc lập, thống nhất.”
Không thể tưởng tượng được nếu như không có chữ Quốc ngữ, không có những ảnh hưởng của văn hóa Pháp, phương Tây, từ ngôn ngữ, tôn giáo, tư tưởng, giáo dục, báo chí, văn học, hội họa, âm nhạc, kiến trúc, v.v.. thì nước ta giờ đây sẽ ra sao. Không khéo còn tệ hơn xứ Bắc Hàn? Nhưng oái oăm thay, có lẽ “để giành cho kỳ được độc lập, thống nhất” và vì chủ thuyết, nên những gì giúp kiến giải, để rồi trân trọng và phát huy, về bước ngoặt đổi mới tựa như thời “Khai sáng”, “Phục hưng” của văn hóa Dân tộc đã không được nói tới bao nhiêu.
Tiếc là một đề tài rất lớn như vậy, nhưng cuốn sách chỉ xới lên chút ít, động đến vài lĩnh vực thôi. Hy vọng sẽ có nhiều nhà nghiên cứu uyên thâm cho chúng ta hiểu thêm nhiều hơn nữa.
Sách gồm các chương: I. Sự tiếp xúc với phương Tây trước cuộc xâm lược; II. Triều đình Việt Nam trước họa mất nước; III. Nhận xét chung về sự tiếp xúc giữa đạo Gia-tô và văn hóa cũ; IV. Quá trình diễn biến của tư tưởng Việt Nam trong gần một thế kỷ; V. Sự đổi mới tư tưởng; VI. Quá trình tiếp thu văn hóa Pháp; VII. Sự tiếp xúc ngôn ngữ giữa Việt Nam và Pháp; VIII. Sự tiếp xúc văn học.
Mời đọc thêm về tác giả Phan Ngọc (Wikipedia).
Sự tiếp xúc văn hóa VIỆT NAM với PHÁP
Phan Ngọc
Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin & Viện Văn hóa, 2006
CHƯƠNG 1. Sự tiếp xúc với phương Tây trước cuộc xâm lược
Sự tiếp xúc văn hóa với Pháp chỉ là một bộ phận của sự tiếp xúc lần đầu với phương Tây nói chung, và sau đó, với toàn bộ chính sách cai trị của Pháp. Để trình bày vấn đề gọn gàng, trước hết cần liệt kê những thời điểm cụ thể với vài nhận xét đủ để làm bối cảnh cho vấn đề sẽ bàn kỹ sau.
1.SỰ TIẾP XÚC VỚI NGƯỜI BỒ ĐÀO NHA
Sự tiếp xúc với phương Tây bắt đầu thế kỷ 16 là với người Bồ đào Nha. Người Bồ Đào Nha chỉ lo buôn bán.
1516 – Sau khi chiếm Goa (1510) và Malacca (1511) ở eo biển Mã Lai, người Bồ đào Nha đến Quảng Châu và nói đến bờ biển Việt Nam.
1535 – Antonio de Parca đến Đà Nẵng.
1540 – Những chuyến buôn bán đầu tiên có tính chất thăm dò ở Đàng Trong.
1557 – Sau khi đặt thương điếm ở Macao, bắt đầu có quan hệ buôn bán với Việt Nam. Vào cuối XVI, Hội An (Faifo) là thương cảng buôn bán với nước ngoài, người Hoa, người Nhật ở những khu tách rời nhau.
Từ thế kỷ 17, họ theo gió mùa đến Quảng Nam vào tết âm lịch, rồi về vào tháng 9 cuối gió mùa mùa hạ, chở về tơ hồ tiêu, đường, hương liệu.
Đầu thế kỷ XVII, Joas de Cruz thành lập Phường Đúc ở Huế để đúc súng. Các chúa Nguyễn chấp nhận các giáo sĩ Dòng tên ở triều đình: năm 1686, Chúa Hiền yêu cầu Macao gửi cha Bartholomew de la Coste đến chữa bệnh. Phước Chu giữ cha Artonnis de Arnedo lại lo về toán – thiên văn. Công việc này do cha Lima làm năm 1724, rồi cha Siebetrt, sau đó là cha Siamenski và cha Koffler tiếp tục.
Thế kỷ XVIII – Cha Xavier de Monteiro và cha Jean de Lourcirs làm thầy thuốc và coi thiên văn.
1751 – Năm giáo sĩ dòng tên chuyên về “toán học và pháo thủ” đến Thăng Long.
Người Bồ Đào Nha cung cấp đều đặn cho Chúa Trịnh và Chúa Nguyễn súng đạn, thuốc súng.
2. SỰ TIẾP XÚC VỚI NGƯỜI HÀ LAN
1602 – “Công ty Đại Ấn Độ” thành lập, bắt đầu quan tâm tới việc buôn bán với phương Đông.
1633 – Chuyến tàu do Paulus Traudenius cầm đầu đến Đà Nẵng.
1636 – Thương điếm đầu tiên ở Hội An do Cornelis Coesar cầm đầu.
1637 – Người Hà Lan đến Thăng Long, có quyền đặt thương điếm ở Hội An. Chúa Trịnh muốn nhờ sự giúp đỡ quân sự vì thấy người Bồ Đào Nha thân với chúa Nguyễn .
1641 – Chúa Nguyễn giận, tịch thu hai tàu Hà Lan, giết 7 thương nhân, đóng cửa thương điếm Hà Lan ở Hội An.
1642 – 5 tàu Hà Lan đến giải phóng những người Hà Lan bị giam. Đại bại. Van Liasvelt bị giết.
1643 – Pieter Baeck cầm đầu một đoàn tàu đến gần Hội An, bị hải quân của Chúa Nguyễn đánh bại, Pieter Baeck bị giết.
1648 – Hiền Vương (Chúa Nguyễn đã đánh bại thủy quân quân Hà Lan) thay đổi chính sách, thương lượng hòa giải.
1631? – Người Hà Lan được trả tù binh, được mở mang thương điếm trở lại, nhưng sự ngờ vực vẫn còn.
1645 – Người Hà Lan mở thương điếm ở Thăng Long cùng hoạt động với thương điếm Phố Hiến. Hàng mang đến là hàng Trung Quốc (lụa, quế, thủy ngân…), hàng mua đa dạng (gạo, bạc nén, vải, ngà voi, sừng, hồ tiêu…).
1700 – Người Hà Lan đóng cửa thương điếm ở Đàng Ngoài vì không cạnh tranh nổi với người Anh và người Trung Quốc.
3. SỰ TIẾP SÚC VỚI NGƯỜI ANH
1600 – Công ty Đông Ấn Độ thành lập , người Anh loại dần các đối thủ Bồ Đào Nha, Hà Lan.
1673 – Gyfford được Lê Gia Tôn tiếp, và được phép mở thương điếm ở Phố Hiến. Thương điếm chuyển sang Hà Nội và bị đóng cửa năm 1697.
1695 – Thomas Bowyear đến Phú Xuân gặp Chúa Nguyễn là Phước Chu hai lần, được phép mở thương điếm.
1702 – người Anh chiếm Côn Đảo, định biến nó thành cơ sở lâu dài, dựng pháo đài với 200 người Maccassar (tên chung chỉ người Ấn Độ, Indonexia) để bảo vệ thương điếm, Trương Phúc Phấn tổ chức được cuộc binh biến, lấy lại Côn Đảo.
1778 – Hai ông quan Chúa Nguyễn đến gặp R.de Lourciro trên tàu Rumbold ở Đà Nẵng để xin vào Nam theo Nguyễn Ánh. Lúc này Phú Xuân bị quân Trịnh chiếm. Đến Nam Bộ, thì vùng này đã bị Tây Sơn chiếm. Chapman được Nguyễn Nhạc tiếp ở Quy Nhơn, đến Hội An và Huế đang bị quân Trịnh chiếm. Chiếc tàu của Chapman bị quân Trịnh ngờ, phải trốn chạy về Calcutta. Sau chuyến này, Chapman đề nghị can thiệp võ trang.
4. SỰ TIẾP SÚC VỚI PHÁP
Pháp đến muộn hơn, thiên về truyền bá Thiên Chúa giáo hơn là buôn bán. Trong suất nửa cuối thế kỷ 17, hoạt động thương nghiệp phụ thuộc vào hội Thừa sai (Societe des Missions Etrangeres).
1600 – Francois Pallu, một trong những người sáng lập hội Thừa sai, lập công ty Trung Hoa (Compagnie de la Chine), sau chuyển thành công ty Hoàng gia Đông Ấn Độ (Compagnie royale des Indes Orientales).
1627 – Linh mục dòng tên Alexandre de Rhodes được Chúa Trịnh tiếp. Ông là người đưa đường cho Pháp.
1629 – Ông đã rửa tội cho 6700 người, trong đó có vài công nương của triều đình.
1630 – Chúa Trịnh đuổi A. de Rhodes.
1640 – A. de Rhodes trở lại Nam Kỳ vào tháng 2.
1640 – Ông bị đuổi khỏi Nam Kỳ, Quay về Macao.
1644 – Ông quay trở lại Trung Kỳ.
1645 – Ông bị đuổi quay lại Macao.
1645 – Ông quay về La Mã, vĩnh viễn rời khỏi Việt Nam.
1651 – Ông xuất bản quyển Dictionnarium Annamitico-Lusitanum et Latinum (Từ điển Việt- Bồ Đào Nha-latinh) ở La Mã, cùng với quyển Cathechismus (Giáo lý vấn đáp) bằng chữ Quốc ngữ.
1638 – La Mã bổ nhiệm 2 người đại diện Tổng tòa là Francois Pallu và Lambert de la Motte, ông này là khâm mạng tòa thánh. Cho đến thế kỷ 18 ở Việt Nam không có đại diện thương mại nào của Pháp, ngoài các nhà truyền đạo đội lốt nhà buôn.
1671 và 1675 – Lambert de la Motte đến Đàng Trong gặp Chúa Hiền: hội Thừa sai được phép giảng đạo.
1680 – Chapelain được phép mở thương điếm ở Phố Hiến.
1721 – Người Pháp bàn chuyện chiếm Côn Đảo nhưng từ bỏ ý định vì nhớ sự thất bại của Anh.
1744 – Pierre Poivre công bố quyển Memoire sur la Cochinchine (Hồi ký về Đàng Trong) nói chi tiết về Đàng Trong (chính trị, tiền tệ, thương nghiệp) thuyết phục công ty Hoàng gia Đông Ấn Độ trao đổi buôn bán và mở thương điếm với Đàng Trong, giành chủ quyền buôn hương liệu của Hà Lan.
1749 – Pierre Poivre đến Huế gặp Võ Vương, nhận thấy phải chiếm Đà Nẵng, bắt cóc một người phiên dịch đem đi. Võ Vương trục xuất mọi người châu Âu (1750).
1752 – Cựu giaó sĩ Charles-Thomas de Saint Pierre yêu cầu buôn bán với Đàng Ngoài.
1770 – Bộ trưởng Choiseul mất chức. Quyết định đánh chiếm Nam Kỳ của ông theo đề nghị của P.Poivre bị hoãn.
1778 – Chevalier, người cầm đầu Pondichery (Ấn Độ), nghe lời hai viên quan của Nguyễn Ánh đến tàu Rumbold bàn đến việc giúp Nguyễn Ánh đánh Tây Sơn.
1784 – Nguyễn Ánh trốn tránh tại Hà Tiên gặp Giám mục Pigneau de Behaine, nhân viên phái bộ truyền giáo nước ngoài. Giám mục khuyên Nguyễn Ánh cầu viện Louis XVI. Nguyễn Ánh gửi Hoàng tử Cảnh cho p. de Behaine.
1787 – Hiệp ước Đồng minh ký ngày 28-11-1787 qua sự điều đình của P. de Behaine với thượng thư Bộ Ngoại giao Montmorin. Vua Pháp cam kết phái quân đội và tàu bè đến giúp đỡ Nguyễn Ánh khôi phục lại đất nước. Vua nhường lại cho Pháp các đảo gần Đà Nẵng và Côn Lôn để Pháp toàn quyền buôn bán, và không cho bất cứ nước châu Âu nào tham dự. Hiệp ước không thi hành là vì Pháp bận vào chiến tranh ở châu Mỹ. Bá tước De Conway, toàn quyền vùng Ấn Độ thuộc Pháp, chống lại hiệp ước. De behaine được người Pháp giúp đỡ mang đến cho Nguyễn Ánh hai chiếc tàu đầy khí giới đạn dược, và một số quân tình nguyện, trong đó có Olivier Chaigneau, Vannier, Dayot, Forsans. Họ huấn luyện một phần quân đội theo kiểu châu Âu, một đội pháo binh và thủy quân hiện đại. Thực tình họ không giúp cho Nguyễn Ánh được bao nhiêu.
CHƯƠNG 2. Triều đình Việt Nam trước họa mất nước
1802 – Gia Long lên ngôi, hài lòng về điểm Pháp đã không thi hành Hiệp ước 1787.
1803 – Robert, sứ giả công ty Ấn-Anh đến Đà Nẵng, xin mở hãng buôn ở Trà Sơn (Quảng Nam). Gia Long không chấp nhận, trả lại tặng phẩm.
1817- Phái đoàn De Kergarich của Pháp đến Đà Nẵng trên tàu Le Cybele yêu cầu thi hành Hiệp ước 1787. Gia Long không tiếp .
Vấn đề gay cấn: Ai sẽ kế vị Gia Long? Hoàng tử Cảnh đã theo đạo Gia-tô. Triều đình hoảng sợ, khi ông ta không chịu lạy trước bàn thờ tổ tiên. Lê Văn Duyệt, tổng trấn, thái giám, người cầm đầu Nam Kỳ, ủng hộ Cảnh chống vua Minh mạng (1820-1840), với sự ủng hộ của triều đình, được chọn làm Đông cung, và kế vị. Minh Mạng sẽ căm thù Lê Văn Duyệt đến xương tủy.
Trước khi chết, Gia Long dặn Minh Mạng trong di chiếu: hãy đối xử tử tế với người châu Âu, nhất là người Pháp, nhưng hết sức cảnh giác trước tham vọng của của các nước châu Âu. Bằng chứng: Người Anh vừa chiếm Singapore.
1820 – Minh Mạng lên ngôi.
Chaigneau trở lại Huế với danh nghĩa lãnh sự và Khâm sai để ký kết Hiệp ước. Minh Mạng trả lời Louis XVIII rằng việc buôn bán được tự do cho mọi nước, theo các luật lệ của Việt Nam. Triều đình quan tâm tới sự giao dịch với phương Tây. Ba cố đạo Gabelin, Taberd và Odovico làm phiên dịch ở Huế từ 1826 đến 1828. Jacard làm phiên dịch từ 1829 đến 1833.
Ty Thương bạc được thành lập để kiểm tra việc buôn bán trực tiếp với phương Tây. Trước 1830, các viên quan đến Hà Nội, Sài Gòn, Quảng Nam kiểm tra thuế buôn thu được. Sau 1830, Ty chỉ nhận báo cáo.
1827 – Thành lập Hành nhân ty để đào tạo phiên dịch. Năm 1835 , xuất hiện Tứ dịch quán để chuẩn bị những câu trả lời các nước ngoài.
1833 – 1835 – Lê Văn Khôi người gốc thiểu số và con nuôi Lê Văn Duyệt nổi dậy do việc Minh Mạng sai đào mả Lê Văn Duyệt sau khi ông ta chết. Khôi đã chiếm Nam Kỳ, được các con chiên Công giáo ủng hộ. Có sự chuẩn bị thành lập một chính phủ thân Công giáo. Bức thư Khôi gửi cho Taberu đang trốn ở Xiêm, yêu cầu ông ta về Sài Gòn bị tóm ở Phú Quốc. Linh mục Marchand bị bắt trong tổng hành dinh của khôi, bị đem về Huế sử lăng trì. Từ 1831 đến 1839, các liên lạc giữa Pháp và Việt Nam bị gián đoạn. Các đạo luật cấm đạo ban hành từ 1825 được áp dụng lại: các nhà thờ bị đóng cửa, tàu bè châu Âu bị kiểm soát chặt chẽ.
Minh Mạng chống đạo, nhưng quan tâm đến kỹ thuật châu Âu. Năm 1838, triều đình công bố quyển Hải trình tập nghiệm sách, bày cách đi biển và cách đóng tàu. Lúc bấy giờ Minh Mạng chú ý nhất đến Anh. Nhận thấy số lính của Anh không vượt quá 6 vạn, nhà vua cũng muốn giảm quân số xuống tương đương khi công việc xây dựng ở Huế kết thúc. Năm 1836, Việt Nam mua thuốc súng Anh được xem là tốt nhất thế giới. Đặc biệt, triều đình mê tàu hơi nước, năm 1830 mua một chiếc tàu hơi nước, tháo ra. Rồi thành lập một xưởng ở ngoài cửa Chính Nam (Huế) để bắt chước chế tạo. Nhưng vì các thợ theo lối bắt chước bên ngoài, mà kỹ thuật là thuộc văn hóa. Có một hệ thống khái niệm, lý thuyết mà ta phải tiếp thu. Cho nên dù rất khéo tay, vẫn không đạt được kết quả.
1839 – Anh can thiệp quân sự tại Trung Quốc. “Chiến tranh thuốc phiện”. 1842 Anh chiếm Hương Cảng và mở 5 cảng ở Trung Quốc. Pháp được tự do truyền đạo ở Trung Quốc qua Hiệp ước Hoàng Phố (1844) và hưởng những mối lợi tương tự.
Trong bối cảnh này, Minh Mạng hiểu sự đe dọa của phương Tây. Năm 1840, nhà vua gửi nhiều đoàn sữ giả đi Penang, Calcutta, Battaux, Paris và Luân Đôn để thăm dò ý kiến phương Tây, chuẩn bị một thỏa hiệp về đạo Gia tô và thương nghiệp. Nhưng các phái bộ truyền giáo sợ có sự thỏa hiệp bất lợi cho họ, nên ngăn cản, và đoàn sứ giả không được yết kiến Louis Philippe. Minh Mạng bị xem là kẻ thù tôn giáo. Khi các đoàn sứ giả về đến Huế, Minh Mạng đã qua đời (1840).
Thiệu trị (1841-1847) bãi bỏ việc cấm đạo, phóng thích 5 người truyền đạo đã bị kết án tử hình. Năm 1845, phóng thích giám mục Lefebvre. Lefebvre lẻn về Nam Kỳ nhưng không được.
1847 – những người truyền giáo yêu cầu dùng vũ lực ép Việt Nam chấp nhận những đặc quyền của Pháp ở Việt Nam, như Hiệp ước Hoàng Phố quy định ở Trung quốc. Rigault de Genouily tống tối hậu thư đòi đạo Thiên Chúa phải được tự do truyền đạo. Trong cuộc thương thuyết ở Đà Nẵng R. de Genouilly tấn công không báo trước, đánh đắm toàn thể đoàn thuyền Việt Nam (1847). Thiệu Trị ra lệnh xử tử những người châu Âu.
Tự Đức (1848-1883) lên ngôi trong tình trạng rối loạn. Hồng Bảo anh ruột của Tự Đức bị truất ngôi, kêu gọi những người theo đạo, hứa chấp nhận tự do tôn giáo nếu các con chiên tham gia vụ nổi loạn. Âm mưu bị khám phá. Đạo dụ 1848 chống lại “những kẻ cả gan đến mức quyến rũ một hoàng thân”.
1857 – Phái đoàn Montigny được gửi ra Huế đòi tự do truyền giáo, buôn bán, và lập tòa lãnh sự ở Huế. Tự Đức không tiếp, vì trước đó (1856) tàu Catinat tự tiện đánh úp Đà Nẵng.
Ngày 1-9 – R. de Genouilly đánh chiếm Đà Nẵng chiếm một cảng để tiếp liệu, sửa chữa tàu bè, nhưng không chịu thương thuyết. Bệnh tật làm lính Pháp hao mòn. Quân đội Pháp bị bao vây, tấn công. Tháng 3-1858, quân Pháp rút khỏi Đà Nẵng vì thấy rõ các con chiên chẳng theo Pháp.
Mục tiêu lợi dụng văn hóa đã thất bại , de Genouilly chuyển sang mục tiêu mới: đánh chiếm Sài Gòn, xác lập chế độ thực dân.
Ngày 17 tháng 1 năm 1859, quân Pháp chiếm Sài gòn. Lịch sử bước sang giai đoạn mới. Giai đoạn đàm phán đã chấm dứt. Súng đạn lên tiếng mọi cái lùi lại sau.
Tháng 11 năm 1859, đô đốc Page thay thế R.de Genouilly là người đã được lệnh thương thuyết với Tự Đức.
(Còn tiếp)

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét