Thứ Ba, 13 tháng 12, 2011

Sự tiếp xúc văn hóa VIỆT NAM với PHÁP (Chương III)


Sự tiếp xúc văn hóa VIỆT NAM với PHÁP

Phan Ngọc
 Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin & Viện Văn hóa, 2006

CHƯƠNG 3. Nhận xét chung về sự tiếp xúc giữa đạo Gia Tô và văn hóa cũ

Trong một cuộc tiếp xúc của Việt Nam với văn hóa nước ngoài, diễn ra nhiều hiện tượng phức tạp, mâu thuẫn nhau, mà nếu ta không nắm lấy hai yêu cầu cơ bản của Văn hóa Việt Nam, thì mọi sự đánh giá đều dễ chủ quan. Văn hóa Việt Nam như một cây đại thụ. Nó bắt nguồn từ môi trường Đông Nam Á, cho nên nó mang những nét của văn hóa Đông Nam Á. Chỉ nêu vài nét hiện nay vẫn còn, đặc biệt là ở miền Bắc: địa vị quan trọng trong gia đình của phụ nữ bên cạnh nam giới: cách tổ chức thành làng có chính quyền, thờ cúng, nghi lễ, phong tục, tế tự riêng; việc thờ cúng tổ tiên chung cho cả nước; trong sinh hoạt nghề trồng lúa nước; trong ăn uống lấy cá, cơm, rau làm thức ăn chính, đặc biệt các thứ mắm; trong tình cảm, rất quý trọng quan hệ gia đình, họ hàng, làng xóm. Nó có một hệ tư tưởng bàng bạc trong tục ngữ, dân ca, văn học dân gian rất gần các nước các nước Đông Nam Á, cái gọi là minh triết dân gian, rất khác Khổng giáo Trung Quốc, nhưng chưa có ai hệ thống hóa nó. Cách đây trên hai ngàn năm, có sự tiếp xúc với văn hóa Trung Quốc, và sau đó có sự tiếp hợp (greffage) với Nho Giáo. Sự tiếp hợp này là do bản sắc văn hóa quy định. Bản sắc văn hóa Việt Nam đòi hỏi trước hết là độc lập và thống nhất đất nước. Bất cứ cái gì không gây thiệt hại cho độc lập, thống nhất đất nước, có kết quả thực tế cao hơn cách làm cũ, đều được tiếp thu rất nhanh chóng, và thay thế cái cũ không cần một sắc lệnh nào hết. Chỉ cần nhìn xã hộ Việt Nam, văn hóa tư tưởng trong giai đoạn 1930 – 1940, cũng đủ thấy sự Âu hóa đi nhanh như thế nào. Người nhìn bên ngoài, tưởng đâu là bắt chước. Hoàn toàn không phải. Đó là bản sắc văn hóa yêu cầu. Khi cần đổi mới để đối phó với tình thế mới thì không ai quyết tâm đổi mới bằng Việt Nam; và khi chủ trương đổi mới từ trên đưa xuống thì toàn dân theo ngay, không có xáo động to lớn trong xã hội. Đó là điều làm cho Việt Nam khác mọi nước. Sự đổi mới có thể  là cực đoan, quyết liệt, nhưng cách diễn ra lại êm ả như không. Với một điều kiện: mọi sự đổi mới đều phải góp phần củng cố độc lập, thống nhất, và khi đất nước bị nô lệ thì nó phải góp phần giành lại độc lập thống nhất. Lịch sử văn hóa Việt Nam chứng kiến ba lần đổi mới có thể nói là cực đoan, nhưng đều là vì yêu cầu độc lập dân tộc. Lần thứ nhất là làm theo hẳn Nho Giáo, nhập vào khối văn hóa Hán. Lần thư hai là làm theo văn hóa Pháp. Lần ba là làm theo chủ nghĩa xã hội. Cả ba lần đều tạo nên một sự tháo gỡ cấu trúc cũ, cấu trúc hóa lại theo kiểu mới. Và cả trong ba lần này, động cơ thúc đẩy vẫn là bản sắc văn hóa. Người Việt Nam đổi mới để cứu nước, không phải để làm nô lệ. Do đó, kết quả không phải là Hán hóa văn hóa Việt Nam mà là Việt Nam hóa văn hóa Hán, không phải là Pháp hóa văn Việt Nam mà là Việt Nam hóa văn hóa Pháp. Cũng vậy, chúng ta đang đứng trước những cố gắng Việt Nam hóa chủ nghĩa xã hội.

1. Đối với những người chỉ xét những biểu hiện bên ngoài, thì xã hội, văn hóa Việt Nam đã từng bị xem là bản sao của Trung Quốc, của Pháp, của một nước xã hội chủ nghĩa. Nhưng nếu nhìn từ bên trong, thì thực tế lại rất khác.

Một thí dụ về sự Việt Nam hóa Nho giáo.
Nho giáo Trung Quốc không nói đến tổ quốc. Kết quả là Nho Giáo Trung Quốc chỉ tạo nên một bộ máy quan lại phục vụ hoàng đế. Khi bộ máy này thối nát, đất nước bị chia rẽ, thì ngoại tộc tràn vào, nhiều khi chiếm cả Trung Quốc. Chữ trung Trung Quốc chỉ có nghĩa là hy sinh với người đối xử tốt với mình, nuôi mình chu đáo. Thời chiến quốc, các thuyết khách sớm Sở, tối Tần chẳng có khái niệm gì về tổ quốc. Người ta ca ngợi Điển Vi trung với Tào Tháo, Quan Vũ trung với Lưu Bị, Chu Du trung với Tôn Quyền, mà chẳng quan tâm đến chỗ ba ông này chia cắt đất nước. Chính vì vậy người Trung Quốc có quan niệm “Thiên hạ hợp rồi lại phân, phân rồi lại hợp, đó là lẽ trời”. Cho nên cái nước đông người nhất,và văn hóa cao nhất thế giới trước thế kỷ 16 luôn luôn bị chia cắt, bị những ngoại tộc về số người, kinh tế, văn hóa kém gấp hàng chục lần vẫn xâm chiếm thậm chí cai trị được. Nhà Thanh cai trị Trung Quốc từ 1644 đến 1911, 267 năm là một thí dụ. Còn các nhà Nho? Họ trung với ngoại tộc, đàn áp các cuộc nổi dậy, hy sinh cho triều đình ngoại tộc và tự hào về điều ấy.
Khi Việt Nam tiếm nhận Nho Giáo thì tổ quốc Việt Nam đã hình thành xong từ lâu. Tổ quốc ấy có lịch sử hình thành qua cuộc đấu tranh từ thời kỳ đồ đồng để giành lấy đồng bằng từ tay biển cả, qua bao quộc đấu tranh chống lại xâm lược phương Bắc; qua thơ Lý Thường Kiệt, chữ “Sát thát’’  trên cánh tay con dân đất Việt, đặc biệt là qua Bình Ngô đại cáo khẳng định Việt Nam là độc lập về văn hóa, lãnh thổ, chủ quyền, phong tục và truyền thống giữ nước và cứu nước. Kết quả của sự tiếp hợp (grafting) với Nho giáo, là sự Việt hóa Nho giáo theo bản sắc văn hóa sẵn có. Những khái niệm Nho giáo như hiếu, nhân, nghĩa, dũng, trí… đều bị phân đôi thành tiểu và đại. Cái gì chỉ liên quan trực tiếp giữa người với người, như chính Nho giáo quan niệm đều gọi là tiểu, cái gì thông qua môi giới tổ quốc và nhân dân đều gọi là đại. Nguyễn Trãi nói đến đại hiếu, đại nghĩa, chí nhân, chí dũng … là chỉ bổn phận đối với nước, với dân. Tức là mọi tư tưởng từ ngoài đến, dù đó là từ Trung Quốc, Pháp, Tây Âu hay Liên Xô, khi thể hiện thành hành động ở Việt Nam đều trải qua một độ khúc xạ mà thành Việt Nam. Và chỉ sau khi được Việt  Nam hóa, có một nội dung mới, phù hợp với bản sắc văn hóa dân tộc, yếu tố văn hóa này mới trở thành một động lực cực kỳ mạnh mẽ, động viên toàn dân thực hiện nhiệm vụ mới. Sự tiếp biến văn hóa (acculturation) ở Việt Nam, do đó, là có phương hướng, có mục đích. Và ta phải xét sự tiếp biến qua yêu cầu qua bản sắc văn hóa thì mới tránh khỏi những lệch lạc.
Bây giờ thử xét sự tiếp xúc với Gia tô giáo theo yêu cầu của bản sắc văn hóa.
Về mặt chính trị của vấn đề này đã có công trình rất đầy đủ của anh Cao Huy Thuần Christianisme et colonialisme au vietnam 1857 – 1914, một luận án tiến sĩ quốc gia đã được dịch ra tiếng Việt (1). Tôi sẽ không bàn đến câu chuyện quá khứ về mối liên hệ giữa công giáo với thực dân Pháp. Tôi chỉ xét mặt văn hóa của vấn đề, và kết quả của sự tiếp xúc.

2. Đặt chân lên Việt Nam, công giáo có một số ưu thế rõ rệt.

Thứ nhất, về mặt giáo lý, Thiên chúa giáo có một hệ thống giáo lý rất chặt chẽ, nhất quán, có sức thuyết phục to lớn, dựa trên một thần học đồ sộ, chứa đựng một tinh thần nhân đạo: mọi người đều là con của Chúa, chính chúa Giê-xu đã hi sinh để cứu nhân loại. Nó giáo dục tình thương và sự hy sinh. Tôn giáo ấy, qua sự thuyết minh của Augustin (354 – 430), đặc biệt của Thomas dAquin (1225-1274) đã tiếp thu được một phần truyền thống của văn hóa Hy-La, và văn hóa châu Âu, nên mang một diện mạo mới, châu Âu. Từ thế kỷ 4 đến thế kỷ 13, thực tế Thiên chúa giáo là sợi dây tinh thần nối liền các nước châu Âu. Tiếng Latinh, ngôn ngữ nhà thờ, là ngôn ngữ văn học của cả châu Âu. Cho đến thế kỷ 18, một người biết tiếng này có thể dạy mọi trường Đại học ở châu Âu. Và Giáo Hoàng là ông vua của mọi ông vua, nhân danh Chúa cai trị châu Âu bằng một hệ thống nhà thờ, một hệ thống giáo sĩ giàu có dựa trên của cải nông nô, nông dân, thị dân. Nhân danh Chúa, sự cai trị ấy là tàn khốc. Trong giai đoạn chiến tranh tôn giáo ở châu Âu, bảy triệu người đã bi tòa án Giáo hội xử tử bằng mọi cực hình vì chỉ một lời xúc phạm giáo hoàng, kinh Thánh. Với thời phục hưng, các nước dần dần tách khỏi quyền lực giáo hoàng, cuộc cải cách tôn giáo phá vỡ uy thế độc tôn này ở Đức, Hà Lan và những chi nhánh công giáo hình thành ít nhiều mâu thuẫn với nhà thờ La Mã, ở Anh, Pháp. Nhất là khi phong trào khoa học phát triển, các học thuyết xưa bị xem là dị giáo, nay được xác lập, uy tín Công giáo bị giảm sút. Thất bại ở phương Tây, các giáo sĩ muốn tìm cách thiết lập nó ở phương Đông. Say sưa nhất trong nhóm này là chi nhánh Dòng Tên mà khẩu hiệu là “Vâng theo (Giáo hoàng) như một thây ma’’ (Obeire quái cadaver). Họ là những người kiên trì nhất, chịu khó nhất, và được đào tạo kỹ lưỡng nhất. A. de Rhodes là một thí dụ. Nhưng sự say sưa của họ làm chính nhiều nước châu Âu lo sợ. Do đó, hội Thừa Sai tiếp tục việc này mà Dòng Tên bị cấm, vì nước Pháp lo trước hết đến quyền lợi nước Pháp đã.
Thứ hai, đạo Thiên Chúa là một lực lượng của thế giới, rất am hiểu chính trị thế giới. Các giáo sĩ của họ là những con thoi có vô số mánh khóe để tranh thủ cảm tình, cầu xin viện trợ. Chính họ muốn mượn tay các nước thực dân để nô dịch các nước châu Á, thiết lập cái gọi là vương quốc của Chúa. Vương quốc ấy thế nào thì châu Âu đã biết, đã khiếp vía, và nước Việt Nam, ngay trong hoàn cảnh kháng chiến, cũng đã nếm một chút cái hương vị này dưới triều đình họ Ngô. Các giáo sĩ lắm thủ đoạn. Cách thứ nhất dễ thành công là biến ông vua thành người Thiên Chúa giáo. Đó là mưu của Pigneau de behaine. Nhưng hoàng tử Cảnh phải mất ngôi. Va chạm thứ nhất. Cách thứ hai là gây nội chiến. Ta có vụ Lê Văn Khôi ở Nam Kỳ, vụ Tạ Văn Phụng ở Bắc Kỳ, vụ Hồng Bảo ở Trung Kỳ. Cách thứ ba là làm quân sư cho thực dân. Để chuẩn bị cơ sở, họ tìm mọi cách tập hợp giáo dân lại thành những vùng riêng, bảo vệ chặt chẽ, dựng lên một nhà thờ, đồng thời là pháo đài theo nghĩa đen. Họ biến vùng này thành một quốc gia trong nước Việt Nam, trong đó ông giáo sĩ chỉ huy linh hồn chỉ huy tất cả. Tóm lại, một chữ: một quốc gia Trung cổ châu Âu ngay trong nước Việt Nam, mà bản sắc văn hóa và ý thức thống nhất và độc lập.
3. Không phải vì chống học thuyết Thiên Chúa giáo mà xảy ra những vụ tàn sát. Người Việt không có thái độ kỳ thị tôn giáo, Phật giáo, Đạo giáo không hề bị xử lý thô bạo. Nói đến chuyện giết đạo, cũng phải nói cả đến việc người Công giáo trả đũa. Trương Vĩnh Ký, một người công giáo trung thành với Pháp, nhờ am hiểu văn hóa dân tộc nên có đủ thẳng thắn để thừa nhận: “… sự thực là người Công giáo chẳng kém gì các người chống đối họ trong 99 trường hợp trong số 100 trường hợp đàn áp”. Sự thực là một cuộc huynh dệ tương tàn vô nghĩa và diễn ra có lợi cho thực dân, có hại cho dân tộc. Chính đô đốc Page cũng phải thừa nhận: “Cái chết lượn khắp nơi mọi đồn bốt: đã hơn một nghàn người đã nằm trên đất trên đất nước này … Mười tám đại đội lúc đầu tạo nên lực lượng của Rigault nay chỉ còn có sáu…”(1). Ông chấp nhận lẽ phải của người đại diện Tự Đức nói với ông ta: “Những người Pháp đến đây để đòi cho đạo Thiên Chúa La Mã được rao giảng khắp nước, mỗi thành phố, mỗi làng đều dựng lên một nhà thờ Gia-Tô. Nếu quả thật đó là ý muốn của Hoàng đế nước Pháp, thì không thể hòa giải được cả, mọi cuộc thảo luận sẽ vô ích, toàn quốc sẵn sàng chịu một cuộc chiến tranh diệt chủng, hơn là điều trực tiếp như thế. Trái lại, nếu người Pháp không đòi hỏi điều đó thì chắc chắn sẽ có hòa bình’’(2). Page và chính phủ Pháp đều muốn thương lượng, nhưng các cố đạo nước ngoài đã phá vỡ mọi thương lượng đẩy tới cuộc chiến tranh xâm lược .
Đạo Thiên Chúa đã phạm những lỗi lầm nghiêm trọng, mặc dầu đã có những đóng góp vào văn hóa Việt Nam. Chuyện này bàn sau. Kết quả rõ ràng. Dù cho thực dân Pháp có cai trị Việt Nam, và dù cho thực dân đứng hẳn về phía họ, bênh vực, che chở họ, chứ không phải đàn áp như các cố đạo đã đổ tội cho vua quan xưa, dù cho Thiên Chúa giáo có một đội ngũ gião sĩ rất trung thành và có học vấn, dù cho có những tổ chức từ thiện làm việc hết mình xứng đáng với mọi lời ca ngợi, dù cho các trường Công giáo có mặt khắp nơi và dạy học rất tốt – tôi học trung học ở một trường Công giáo và thường đứng đầu môn giáo lý – dù cho nó có những nhân cách siêu việt mà người Việt Nam rất tôn trọng, suất thời gian Pháp thuộc số trí thức, nhà Nho theo công giáo chẳng có bao nhiêu? Tại sao?
4. Sai lầm thứ nhất là thái độ khinh thường của Thiên Chúa giáo với văn hóa phương Đông, và văn hóa  Việt Nam. Phương Đông tuy có thua kém về kỹ thuật, đặc biệt về kỹ thuật quân sự, nhưng bản chất của văn hóa không phải là súng ống, máy móc, những nhà thờ – pháo đài, những lễ lạt rầm rộ. Nó là ở nhân cách. Nhân cách Việt Nam là ở ý thức về bổn phận đối với mọi người, lòng trung thành vô hạn đối với quyền lợi đất nước, lối sống cần, kiệm, liêm, chính, không kể địa vị, tài sản. Dù anh mạnh bao nhiêu, giàu đến mấy, quyền lực đến mấy, mà không có nhân cách thì người Việt Nam không phục, không yêu, dù cho nhất thời họ phải nghe theo. Hình ảnh của thực dân Pháp chẳng cách nào làm nhân dân Việt Nam cho là đẹp. Còn các cố đạo dù có tuyên truyền đến đâu về tình yêu cũng chảng đem đến một điều gì quen thuộc với họ. Họ bứng người Việt Nam ra khỏi môi trường tinh thần, gán cho anh ta những quan niệm xa lạ, làm anh ta khó chịu. Họ dạy vứt bỏ Tổ quốc để hy sinh cho vương quốc của Chúa. Nhưng xét cho cùng, làm gì có vương quốc của Chúa Trời. Bản tính thiết thực của người Việt nhận ra đó là nước Đại Pháp rồi nước Mỹ mà “biên giới đến tận vĩ tuyến 17’’. Họ kéo người Việt khỏi sự thờ cúng tổ tiên, bởi vì xét cho cùng Chúa tạo ra con người. Chuyện xét cho cùng còn phải bàn. Nhưng trước mắt tôi, xét ngay trực tiếp, tôi là do cha mẹ sinh ra. Cha mẹ nuôi sống tôi, dạy dỗ tôi là chuyện có thực. Họ sùng bái những vị thánh ở đâu đâu, những con người hy sinh cho đất nước, dân tộc thì không được nhắc đến.
Tôn giáo nào thì cũng dựa trên một tiền đề không thể chứng minh được. Thiên Chúa giáo, Phật giáo đều thế. Nhưng so với Phật giáo thì Thiên Chúa giáo tự cho mình là độc quyền về chân lý. Thái độ độc quyền ấy là trái ngược với sự thực. Nếu xét về mặt triết học, thì Thiên Chúa giáo kém xa Phật giáo. Nếu xét về mặt tu dưỡng con người thì Thiên Chúa giáo kém xa Nho giáo.
Đó là lý do dẫn tới sự khúc xạ của Thiên Chúa giáo ở Việt Nam. Nó đầu tiên chỉ là lén lút. Đa số con chiên đều thờ tổ tiên, đều làm giỗ cha, đều tôn trọng các vị anh hùng dân tộc . Họ vẫn thấy những người lương là đồng bào, là ruật thịt. Họ vẫn tôn trọng nhân cách theo quan niệm chung. Khi đã đi sâu vào văn hóa dân tộc, thì xuất hiện những nhà Công giáo yêu nước mà Nguyễn Trường Tộ là thí dụ nổi bật. Rồi những người Công giáo theo hai cụ Phan, theo Đảng cộng sản. Các cố đạo phương Tây hy vọng những người Công giáo sẽ nhất tề theo Pháp, nhưng điều này đã không diễn ra trong cuộc xâm lược của thực dân Pháp. Họ muốn lập những tổ chức chống cộng sản, nhưng số chiến sĩ Công giáo hy sinh cho sự giải phóng đất nước cũng đông chẳng kém gì người không Công giáo. Bản sắc văn hóa dân tộc Việt đã thắng, bắt buộc ngay các giáo sĩ Công giáo Việt Nam cũng phải đứng về phía dân tộc. Thái độ khinh thị văn hóa phương Đông đã giảm đi và chính Vantican cuối cùng đã chấp nhận việc kính chúa đi đôi với yêu nước, chấm dứt sự chia rẽ vô lý giứa tôn giáo với tổ quốc.

5. Sự tiếp xúc của Việt Nam với đạo Gia-tô nêu lên một kiểu khúc xạ độc đáo.

Trước tiên ta có một hệ tư tưởng từ ngoài vào, một vật thể xa lạ gắn vào cơ thể Việt Nam. Vật thể ấy ở châu Âu, dù cho sự phê phán gay gắt, vẫn đã có một thời huy hoàng, và những vẫn đề nó nêu lên cho đến giờ vẫn chiếm địa vị chủ đạo ở các nhà văn, học giả châu Âu: thượng đế, linh hồn, sự giải thoát, nhân cách (personnalite). Khi nhập vào cơ thể ViệtNam, tất cả những vấn đề nó nêu lên đều bị gạt ra. Dù người ta có dùng võ lực cấy lên trên cái cơ thể bằng súng đạn, sự tiếp xúc chẳng dẫn tới một điều gì mà các cha cố mong đợi. Thế Lữ, gốc Công giáo là người mở đường cho thơ mới, nhưng thơ và văn của ông chẳng hề dựa trên những nguyên lý Công giáo. Nguyên Hồng, gốc Công giáo là nhà văn hiện thực tâm lý cự phách nhưng tiểu thuyết của ông là tiểu thuyết của dân nghèo thành thị Việt Nam. Nhà thơ lớn có ảnh hưởng Công giáo là Hàn Mặc Tử. Nhưng đó là mãi về sau, sau khi nhà thơ vì mắc bệnh phong, sống trong Viện điều dưỡng của các bà phước Công giáo. Sức lôi cuốn của các bài thơ này không ở nhiệt tình Công giáo mà ở cách Beaudelaire hóa cảm giác phương Đông. Còn trước đó, thơ anh vẫn là thơ của một tri thức nhỏ thành phố Việt Nam gắn bó với nông thôn. Có một chút gì Công giáo trong thơ Huy Cận, nhưng đây là Công giáo bị đông phương Đông hóa, không phải Công giáo châu Âu. Tức là chính sự khúc xạ tạo nên vẻ đẹp. Về hội họa, họa sĩ Lê Văn Đệ đã một thời được tán thưởng. Nhưng đây là bà mẹ Việt Nam, con người Việt Nam và tình cảm Việt Nam khoác hình thức Công giáo. Thuyết nhân vị của Ngô Đình Nhu là xuất phát từ nhân cách luận (personalisme) của Emmanuel Mounier. Trịnh Văn Thảo nhận xét: “Nó vay mượn của nhân cách luận cái ngôn từ trí tuệ, chủ nghĩa cải lương trí tuệ, nhưng lại tránh không theo nhân cách luận về lĩnh vực chính trị. Sau đó, do ảnh hưởng của sự thất bại về chính trị của chế độ, nhất là do chiến tranh tái diễn, nó chuyển về một bảo nguyên luận (integrisme) kiểu Franco!’’. Dù cho có tên gọi “nhân vị” là một sai lầm về dịch thuật, cách chọn không tồi. Đối với người Việt Nam, cái thu hút quốc dân không phải là kinh tế, quyền lực mà là nhân cách con người. Nhưng nhân cách Việt Nam đã được thể hiện trọn vẹn bởi người cộng sản. Người Việt Nam theo họ vì chỉ có họ mới đánh Tây, đuổi Nhật, giành độc lập thống nhất, vì họ hy sinh mẫu mực và cần, kiệm, liêm, chính. Đằng này “nhân vị’’ chủ trương chính chính cái lý thuyết của các cố đạo Tây sặc mùi Trung cổ. Kết quả là, không chỉ nhân dân chống lại, mà cả tay chân của chính quyền. Tiền của Mỹ đổ vào chỉ càng làm cho cái xác chết thối rữa thêm.

6. Nhưng chính Công giáo có những chố mạnh .

Trước hết, chính người Công giáo là người tiên phong trong việc hiểu phương Tây, là người đầu tiên có khả năng sử dụng phương pháp phân tích của phương Tây để khảo sát văn hóa, xã hội Việt Nam. Nếu  như mọi người khác muốn tìm hiểu phương Tây chỉ có con đường của nhà trường, và của chính phủ thực dân, còn không, phải đi con đường bất hợp pháp, thì những người Công giáo còn có con đường của giáo hội. chỉ cần họ quyết tâm đi con đường dân tộc, là họ đạt được những thành tích to lớn. Nguyễn Trường Tộ là người tiêu biểu nhất và đã trở thành vị thấy của thời đại. Đối với người có cộng tác với Pháp, nhưng vấn gắn bó với văn hóa, ngôn ngữ Việt Nam, nhân dân vẫn biết ơn họ. Trương Vĩnh Ký, Huỳnh Tịnh Của là những thí dụ.
Thứ hai, đạo Thiên Chúa có khả năng to lớn trong việc xây dựng một nhân cách Thiên Chúa giáo vẫn duy trì bản sắc dân tộc. Những khả năng ấy hiện nay là lớn hơn bao giờ hết. Hãy yêu đất nước như Nguyễn Trường Tộ thì sẽ được nước Việt Nam yêu như yêu Nguyễn Trường Tộ. Người Việt Nam xưa nay quen nhìn tôn giáo là chuyện cá nhân, nhưng cũng có kinh nghiệm bảo vệ Tổ quốc. Tôi là người được một trường Công giáo – trường Thiên hựu – đào tạo, và tôi rất biết ơn sự đào tạo ấy. Chỉ cần Công giáo là Công giáo Việt Nam, độc lập đối với bất kỳ nước nào bất kỳ uy tín nước ngoài nào, thì nó sẽ phát triển, như lẽ ra nó đã phát triển mạnh mẽ nếu nó đứng về phía Tổ quốc. Công giáo Ba Lan là một tấm gương sáng. Sự đàn áp tôn giáo có thắng nổi tôn giáo không, tự thân lịch sử Công giáo có bằng chứng. Không ai ngu dại gì đàn áp tôn giáo.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét