Top 5 quốc gia nguy hiểm về giao thông nhất Đông Nam á, Việt nam xếp thứ mấy ?
Bí Ẩn Angkor Wat - Quá trình xây dựng một kỳ quan
Bí ẩn về Hội Tam Hoàng tại Việt Nam, một thời làm mưa gió
Top 10 vụ cướp Ngân hàng (nhà băng) kinh điển nhất Việt Nam | phim Mỹ còn thua
Top 10 xe tăng và pháo tự hành chống tăng mạnh nhất của Mỹ trong chiến tranh thế giới thứ 2
Top 10 trận đấu xe tăng kinh hoàng nhất trong lịch sử thế giới
Top 10 xe tăng và pháo tự hành chống tăng mạnh nhất của Đức trong Thế chiến 2
top 10 xe tăng nổi bật làm thay đổi chiến tranh thiết giáp
Việt nam đã bắn bao nhiêu viên đạn pháo trong chiến dịch Điện Biên Phủ 1954
Bí mật những trận đánh giữa Việt minh với quân đội Anh tại Sài gòn năm 1945
Bí ẩn việc tướng Giáp đã phân tích so sánh lực lương Pháp và quân ta như thế nào?
Chiến thắng Điện Biên Phủ và 10 cái nhất có thể bạn chưa biết
Sự tiếp xúc văn hóa VIỆT NAM với PHÁP
Phan Ngọc
Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin & Viện Văn hóa, 2006
(Xem Chương I, II ; Chương III)
CHƯƠNG 4. Qúa trình diễn biến tư tưởng của Việt Nam
trong gần một thế kỷ (1859 – 1945)
Trước khi tiếp xúc với phương Tây, Việt Nam đã có một hệ tư tưởng riêng, mang hình thức Nho giáo, được cấu trúc hóa lại theo Nho giáo. Về mặt danh từ, thì toàn là danh từ Hán Việt, về mặt nội dung đó là những cách ứng xử Việt Nam. Kết quả có một sự Việt hóa Nho giáo rất khác Nho giáo Trung Quốc. Tôi đã nói đến độ khúc xạ thứ nhất của Nho giáo qua lăng kính tổ quốc Việt Nam. Độ khúc xạ thứ hai là cơ chế làng nước. Người Việt là người hai mang: một ông Nguyễn Khuyến chẳng hạn, dù có đỗ Tam nguyên, có làm tổng đốc, vẫn là một người con của làng. Cho nên thơ Nôm, câu đối nôm của ông lại mách qué nằm hẳn trong truyền thống chống khổng giáo Trung Hoa. Làng có chính quyền riêng, kinh tế riêng, thờ cúng riêng, cai trị theo khoán ước, trọng tuổi hơn chức vụ, những tàn dư của một Đông Nam Á. Những điều này sẽ có công trình riêng vì nó vượt ra ngoài phạm vi tiếp xúc văn hóa với Pháp. Chỉ cần nêu lên một số đặc điểm về tư tưởng:
Trước hết, thái độ coi trọng gia đình, bà con, làng xóm, lấy quan hệ gia đình làm nền tảng cho mọi quan hệ; thái độ bao dung về tín ngưỡng; coi trọng nhân cách hơn tài sản, quyền lực; tìm hạnh phúc ở thế giới này trong yên ổn, lao động, có con cháu được mọi người kính nể, yêu thương.
Thứ hai, lòng trung thành vô hạn với Tổ quốc.Tổ quốc này là của toàn dân, do lịch sử xương máu của dân tộc tạo nên. Triều đình chỉ là người cai quản, không được phép cắt đất cầu hòa, bán nước cho ngoại tộc.
Thứ ba, đầu óc thiết thực, tinh thần dũng cảm dám đạp bằng mọi khó khăn khi đã giác ngộ. Người Việt Nam dám chấp nhận những thay đổi triệt để, cực đoan, trước đây chưa hề biết đến, miễn là những thay đổi ấy thực tế làm nước độc lập, dân no ấm. Không phải ngẫu nhiên mà từ một văn hóa Đông Nam Á, Việt Nam chuyển sang văn hóa Hán, rồi văn hóa xã hội chủ nghĩa, toàn những thay đổi cực đoan.
Về mặt sự kiện cụ thể, công trình của Trịnh Văn Thảo Việt Nam du Confucianisme au Communisme (Việt Nam, từ Nho giáo sang Chủ nghĩa cộng sản)(1) đã trình bày chu đáo về mặt sự kiện, và về mặt xã hội học. Tôi chỉ đứng về gốc độ văn hóa mà nhận xét. Khác đa số các bạn, tôi tự mình xây dựng một cơ chế khái niệm (ở đây là khái niệm bản sắc văn hóa và khái niệm khúc xạ), sau dó dùng cơ chế này phân tích, lý giải sự tiếp xúc văn hóa. Tôi đi con đường của triết học Đức, mà không dựa vào kết luận của người khác để biện hộ cho mình. Vì mục đích tôi theo đuổi là quy ra quan hệ tìm thao tác đối phó với văn hóa hậu công nghiệp, chứ không phải khen người này, mạt sát người khác, cho nên có chỗ khó nghe. Xin bạn đọc thông cảm mà tha thứ.
1. Nước Pháp là nước có kinh nghiệm giành thuộc địa. Để chiếm lấy một nước rất giàu kinh nghiệm trong chiến tranh nhân dân, để phá vỡ sự thống nhất giữa quân đội triều đình với cuộc kháng chiến tự vệ của nhân dân, thực dân Pháp thi hành chính sách kết hợp: kết hợp chiến tranh với đàm phán, dùng võ lực bắt triều đình cắt đất giảng hòa. Nhờ thế, nó có thì giờ nghỉ ngơi, lấy sức, bởi vì nước Pháp ở rất xa, không có khả năng duy trì một cuộc xâm lược liên tục. Sau đó, tiến từng bước. Lấy 3 tỉnh Nam Kỳ xong (1859), nó chiếm toàn bộ 6 tỉnh (1967), rồi lại đề nghị hòa để chuẩn bị lực lượng lấy toàn bộ Việt Nam (1884).
Triều đình Việt Nam hoàn toàn bị động trước một sách lược nó hoàn toàn chưa biết đến.
2. Lúc đó, có hai khả năng. Hoặc là chiến đấu đến cùng, theo gương nhà Trần, Lê Lợi, mặc cho mất đất, mất kinh đô. Bao vây, cắt đường lương thực, đánh thẳng vào ý chí xâm lược. Chính sách của nhà Trần, chính sách “tâm công” của Lê Lợi – Nguyễn Trãi, chính sách Hồ Chí Minh. Không phải chính sách này không có hiệu quả. Ngày 1-9-1858, quân Pháp và quân Tây Ban Nha chiếm Đà Nẵng. Quân đội họ dù chiếm được hải cảng, vẫn bị bao vây. Không một người Công giáo nào theo họ, trái ngược với lời hứa hẹn của cố đạo Pellerin, nói “600.000 con chiên sẽ giúp đỡ người Pháp… và tại đó chúng ta tuyển quân đội”. Aubaret dù là tín đồ Gia-tô ngoan đạo, cũng phải thừa nhận “Các nhà truyền đạo… đã lầm lạc lạ lùng về tinh thần chính trị của một dân tộc mà dù họ đã sống rất lâu năm với nó, họ đã biết khá sai”. Còn de Gennouilly, đô đốc, chỉ huy “điên đầu’’ và “chán nản’’: “Con số người chết thật đáng sợ… Trong số 800 bộ binh chỉ còn nhiều nhất là 500 có thể mang khí giới. Để giữ vững Đà Nẵng, thì không còn gì, hay gần như không có gì để mở một cuộc hành quân quan trọng nào”(1). Quân Pháp tháo chạy khỏi Đà Nẵng.
Rigault de Gennuilly đánh chiếm Sài Gòn ngày 17-1-1859. Nhân dân Nam Bộ đã tử chiến, và đã là trọn nhân cách Việt Nam. Quân Pháp lại lâm vào tình trạng trước đây. Nếu triều đình theo theo gương nhà Trần, Lê Lợi thì vẫn cứu được nước. Nhưng riều đình Huế chủ hòa. Nguyễn Xuân Ôn (1825-1889) vì chủ chiến mà bị cách chức. Sách lược bách thắng mà ông đề ra chẳng được nghe theo.
Con đường thứ hai là chủ hòa. Muốn chủ hòa mà giữ được chính quyền thì phải chấp nhận sự đổi mới. Đã đổi mới, tức là không thể giữ nguyên vẹn cái đặc tính cũ mà phải theo một cách tiếp cận mới. Muốn có một sự tiếp xúc hữu hiệu, phải có sự phê phán triệt để cái cũ . Vào thế kỷ 14, Hồ Qúy Ly có ngờ vực đôi điểm về Khổng giáo; vào thế kỷ 18, Lê Qúy Đôn có ngờ vực đôi điểm về Tống Nho trong Kiến văn tiểu lục. Nhưng đây là ngờ, chưa phải phê phán. Từ thế kỷ 16, các cha cố Công giáo cố chứng minh tính đúng đắn của nguyên lý Thiên Chúa giáo. Nhưng đây là chuyện khẳng định giá trị một kiến giải mới, chưa phải phê phán. Muốn phê phán, phải đi từ bên trong ra, chứng minh cái hệ thống cũ không hợp với thực tế. Chỉ có người nào am hiểu Nho giáo, nhưng thấy rõ Nho giáo bất lực, phải có một cách lý giải mới mà anh ta thông thạo mới giải quyết được khó khăn. Còn không, chỉ là chuyện chửi bới, mạt sát, không có ích gì cho xã hội.
3. Nguyễn Trường Tộ (1828-1871) là nhà phê phán Tống Nho đầu tiên. Con một nhà nho Công giáo, từ bé nổi tiếng hay chữ được gọi là Trạng Tộ. Tuy không đi thi, nhưng qua các bài điều trần bằng chứ Hán của ông, tai tôi đã nghe các vị hoàng giáp, tiến sĩ chịu là hay chữ hơn họ. Nhờ chỗ là người Công giáo, ông học tiếng Pháp với giám mục Gauthier, rồi sang Pháp học từ 1858 đến 1861. Trong lòng ôm ấp chí cứu nước, Nguyễn học thần học thì ít, mà học kỹ thuật thì nhiều, đặc biệt tìm hiểu văn hóa, chính trị phương Tây và là học giả lớn nhất cuối thế kỷ XIX, người tiếp thu đầy đủ nhất hai nền văn hóa Đông,Tây. Về nước, ông làm việc ở dịch bộ chỉ huy của Pháp cùng với Trương Vĩnh Ký, nhưng rồi bỏ trốn để tìm cách cứu nước. Ông là tác giả những bài điều trần bất tử, cho đến nay vẫn mang tính thời sự. Ông yêu cầu thay đổi chính sách ngoại giao, lấy Xiêm La (Thái Lan) làm gương mẫu: “Hãy nhìn Xiêm La, nước chẳng lớn hơn, cũng chẳng mạnh hơn nước ta. Nhưng khi tiếp xúc với phương Tây, nước này biết tỉnh ngộ trước thực tế… Nước này không phải bảo vệ bờ cõi và quyền lợi mà vẫn được tôn kính như một nước mạnh… Thái Lan chỉ dựa vào ngoại giao mà thôi; nhưng các quan hệ ngoại giao cho phép nó ngày càng mạnh và phồn thịnh… Trong khi họ đã đạt đến một trình độ phát triển rất cao, thì chúng ta tỉnh ngộ hết sức chậm chạp’’. Ông chủ trương một ngoại giao đa phương để lợi dụng mâu thuẫn giữa các nước phương Tây. Sau đó, tranh thủ thời gian đổi mới văn hóa, kỹ thuật, khoa học, giáo dục, công nghiệp. Khác mọi nhà nho, ông là nhà thao tác luận đầu tiên của lịch sử văn hóa. Ở bất cứ mặt nào, ông cũng đưa ra những biện pháp cụ thể, làm được và có kết quả ngay. Không những thế, với thái độ tự tín của con người trách nhiệm, ông xung phong nhận lấy nhiệm vụ, đạp bằng mọi ngờ vực về thân thế, lý lịch. Câu chuyện đổi mới hôm nay đã bắt đầu từ năm 1860 và lặp lại lần này lượt khác. Tôi thấy cần tái bản lại toàn bộ các bài điều trần, vì điều này rất bổ ích cho chúng ta. Nó sẽ giúp các nhà “đổi mới” thấy 1. Thực tế Việt Nam; 2. Những cản trở gây nên bởi bệnh sách vở; 3. Nhân cách Việt Nam; 4. những biện pháp đổi mới.
Cách tư duy của Nguyễn Trường Tộ vẫn là cách của một nhà Nho, có nhiều điểm dựa vào Kinh dịch và nguc hành, âm dương. Nhưng ông đã nhìn thấy cái họa của phương Tây trong việc nô dịch châu Phi, Cận Đông, Ấn Độ và vùng Đông Á. Còn người thức giả không nhìn về quá khứ, mà nhìn về tương lai. Nước Việt Nam không việc gì phải thất vọng, mà phải dựa vào ưu thế địa lý – chính trị của mình, tin vào khả năng kháng cự có truyền thống lịch sử phi thường của mình. Muốn thế, phải chấm dứt sự ngưng trệ là nguyên nhân chính của sự thất bại, và tiến hành cải tổ các thể chế. Trước hết, là thay đổi chế độ giáo dục, khuyến khích đầu óc phê phán, tinh thần khoa học bằng cách dạy những môn học đã tạo nên sự hùng mạnh của châu Âu: kinh tế học, chính trị, lịch sử, các khoa học ứng dụng, đặc biệt là pháo binh và kỹ thuật quân sự. Dĩ nhiên, ông, với tư cách là người Công giáo, rất thông thạo chữ Quốc ngữ, nhưng ông đề nghị một thứ chữ Việt Nam, phiên âm theo kiểu văn tự Nhật Bản để khỏi đoạn tuyệt với chứ Hán, và kiên quyết đòi bãi bỏ chữ Hán, và chế độ khoa cử làm tê liệt trí thức Viêt.
4. Gía trị một nhà tư tưởng không phải ở chỗ nhờ những tư tưởng ấy ông ta kiếm sống, làm quan to. Nó là ở chố tư tưởng ấy cứu được nước, được dân. Còn chuyện người nói vì thế mà bị hiểu lầm, thiệt thòi là chuyện quá bình thường. Nhà Nguyễn không hiểu được Nguyễn Trường Tộ. Nhưng một nhà Nho lỗi lạc khác lại kế thừa: Nguyễn Lộ Trạch (1852-1895), con trai tiến sĩ và Thượng thư Nguyễn Thanh Oai, rể của Tàafn Tiễn Thành, người cầm đầu phái chủ hòa của triều đình. Tuy nổi tiếng hay chứ từ bé, Nguyễn Lộ Trạch không chịu đi thi, mà say mê các sách Trung Quốc viết về phương Tây. Khác vị tiền bối là đã trực tiếp tiếp xúc với sách báo và thực tế phương Tây, Nguyễn Lộ Trạch là điển hỉnh của nhà Nho Việt Nam và của trí thức Việt Nam nói chung trưởng thành bằng tự học. Tác phẩm của ông vượt xa tất cả những công trình phê phán Nho giáo sau này. Đó là công trình Thiên hạ đại thế luận muôn đời bất tử viết năm 1882.
Cũng như Nguyễn Trường Tộ, Nguyễn Lộ Trạch bênh vực chế độ quân chủ, xác nhận giá trị của nhân cách Việt Nam trong sự hy sinh vô hạn cho đất nước. Ông không chống lại cơ sở đạo đức của Nho giáo, chỉ chống lại chữ Lễ của Nho giáo làm tê liệt con người. Nước Việt Nam không thể nhờ ai cứu hết, Nhật Bản cũng tàn ác như Pháp mà thôi, điều chứng minh kiến giải của ông còn cao hơn Phan Bội Châu một bực. Để cứu nước, ông đưa ra một khái niệm mới là “chính giáo’’ được phát triển theo ba hướng: chính trị, quân sự văn hóa.
Về chính trị, nước mạnh hay yếu không lệ thuộc vào chỗ nó lớn hay nhỏ, mà lệ thuộc vào chính giáo, tức là học thuyết chính trị làm nền tảng cho nó. Cái yếu của Việt Nam là ở chính trị: nó không thể biết tận dụng sự hòa hoãn để đổi mới, mà cứ để căn bệnh nặng thêm.
Về quân sự, ông chủ trương xây dựng quân đội có phân biệt về chất lượng giữa quân chính quy và dân quân. Võ khí phải hiện đại hóa, sự thất bại hôm nay là chuẩn bị cho sự thắng lợi ngày mai. Phải đánh lâu dài, địch mạnh thì phòng ngự, địch yếu thì tấn công. Quân địch sẽ bắt buộc phải thương lượng khi chúng ta mạnh. Phải tiếp thu nghệ thuật quân sự của phương Tây. Ông đề nghị bỏ Huế chọn một nơi khác làm trung tâm kháng chiến có điều kiện địa lý, quân sự, nhân lực thuận tiện. Nơi đó có thể là Thanh Hóa.
Về kinh tế, phát triển chế độ đồn điền, dùng quân đội cày ruộng để giảm bớt gánh nặng về chi phí; phát triển thương nghiệp, xây dựng đội thương thuyền, giành lấy quyền buôn bán quốc tế từ tay người Hoa.
Về giáo dục, phải chọn những người ưu tú trong số con cái các nhà Nho để gửi ra nước ngoài học tập kỹ thuật. Theo gương nước Mỹ, đổi mới nông nghiệp, thương nghiệp, khuyến khích thanh niên học tập kỹ thuật hiện đại.
Dù cho các đề nghị của hai người không được chấp nhận, giá trị con người đâu phải ở chỗ kiếm ăn. Phái chủ chiến do Tôn Thất Thuyết cầm đầu phạm đủ mọi sai lầm “ngu xuẩn”. Bốn tháng giết ba vua làm sự lãnh đạo rối loạn ngay vào lúc cần có một chính quyền ổn định hơn bao giờ hết. Giết tróc lung tung, làm nội bộ rối loạn. Nằm bẹp ở Huế để chịu thất thủ, rồi mới mang vua tháo chạy sau một cuộc phản kích liều mạng, và vô ích. Thế rồi, mất nước mới hạ chiếu cần vương! Ai hưởng ứng? Không phải bọn nịnh hót mà những con người cương trực bị triều đình đuổi về: Phan Đình Phùng ở Hà Tĩnh, Nguyễn Xuân Ôn ở Nghệ An. Một bài học có giá trị lịch sử.
5. Từ khi giặc Pháp lấy ba tỉnh Nam Bộ cho đến cuối thế kỷ XIX, sau khi mất nước, diễn ra một sự đối chọi giữa hai hệ tư tưởng. Một là Nho giáo Trung Quốc chủ trương nước là của vua. Do đó, vua theo ai, nhà Nho theo người ấy. Hai là nước là của dân, vua chỉ là vua khi bảo vệ được nước. Đó là cái mà Nguyễn Đình Chiểu gọi là “đạo nhà’’,Nguyễn Lộ Trạch gọi là “Chính giáo’’. Cụ thể đây vẫn là đạo Nho, nhưng đạo Nho Việt Nam hóa. Sự đối lập này kéo dài từ 1860 đến 1945. Vài thí dụ:
Trần Bích San (1840-1877), đỗ tam nguyên, năm 1877, được nhà vua sai cầm đầu phái đoàn điều đình với Pháp. Biết rằng để mất nước là có tội với nước, ông đã uống thuốc độc tự sát (chuyện này sử sách không chép, nhưng thân phụ tôi nghe chính cụ Cao Xuân Dục nói). Một nhà nho Việt Nam chân chính không thể hi sinh quyền lợi đất nước để theo ý nhà vua. Phan Thanh Giản (1796-1867) là người Minh Hương tức Hoa kiều, người đầu tiên đỗ tiến sĩ ở Nam Bộ. Nho giáo trong óc ông là Nho giáo Trung Quốc, cho nên đã vâng theo ý Tự Đức cắt ba tỉnh Nam Bộ cho Pháp rồi để mất cả sáu tỉnh. Để chứng tỏ việc này quả thực không phải ý của ông, mà là bắt buộc, không thể không theo, sau đó ông đã uống thuốc độc tự sát. Triều đình Huế để đổ lỗi cho ông, sai đục tên ông ở bia Văn Miếu Huế. Hai ông tiến sĩ đều tự sát, nhưng lý do khác nhau.
Việc cắt ba tỉnh Nam Kỳ gây những phản ứng như thế nào ở Nho giáo Việt Nam, ta thấy rõ ràng qua các phản ứng của Phan Văn Trị (1830-1910), Nguyễn Đình Chiểu (1822-1888), Huỳnh Mấn Đạt (1807-1883), Nguyễn Hữu Huân (1814-1875), Hồ Huân Nghiệp (1828-1864) v.v… Thái độ của họ với nhà vua có thể thâu tóm trong câu của cử nhân Phan Văn Trị : “Chém đầu Tự Đức, moi gan Tự Đức, uống máu Tự Đức!”. Một thái độ không thể có ở Nho giáo Trung Hoa.
Bức thư Hoàng Cao Khải gửi Phan Đình Phùng và thư trả lời của Phan là tiêu biểu cho sự đối kháng của Nho giáo Trung Quốc với Nho giáo Việt Nam. Hoàng Cao Khải sử dụng văn Nho giáo Trung Quốc về chữ Trung, và chữ Hiếu để thuyết phục Phan, thì Phan sử dụng Nho giáo Việt Nam để quật lại. Từ đầu chí cuối bức thư trả lời xây dựng trên truyền thống dân tộc:
“Tôi ngẫm nghĩ về nhân dân ta sống ngàn năm trên một mảnh đất hẹp, quân đội ít, tài nguyên không bao nhiêu. Tôi hiểu rằng chúng ta tồn tại được chỉ nhờ năm đức. Đã bao lần Hán, Đường, Tống, Nguyên, Minh… đã xâm lược nước ta. Đứng trước một nước láng giềng mạnh gấp ngàn lần chúng ta đã đương đầu nổi, nhờ ý trời, và sự sáng suất của tổ tiên…”
“Ngày nay nước Pháp ở cách xa vạn dặm, vượt biển để xâm chiếm nước ta, gây bão táp, lật đổ triều đại, biến nước ta thành thuộc địa, tàn phá hủy diệt chẳng chừa gì hết…”
“Ông hiểu nỗi khổ của nhân dân này. Ông hãy đứng ở địa vị tôi thì sẽ hiểu, tôi không cần bàn thêm vô ích”.
Như vậy là có hai Nho giáo. Tôi không bảo Nho giáo Trung Hoa không tạo được những nhân cách lỗi lạc, không có trung thần. Nói đến truyền thống văn hóa dựa trên văn hóa thì chẳng nước nào sánh được với Trung Hoa. Nhưng một văn hóa lấy cơ sở là truyền thống yêu nước thì chẳng nước nào sánh được với Việt Nam.
Sau này, mọi người cộng tác với Pháp đều bênh vực Nho giáo (Petrus Ký, Phạm Quỳnh…) nhưng cái Nho giáo họ bênh vực là Nho giáo Trung Quốc. Nho giáo dạy họ trung với người cai trị. Còn những người chống lại (Phan Khôi, Đào Duy Anh…) thì cái họ chống lại là Nho giáo Trung Quốc. Ngay những người muốn kết hợp (Trần Trong Kim…) thì cũng là kết hợp với Nho giáo Trung Quốc. Sở dĩ thế là vì họ không xây dựng một cơ chế khái niệm thích hợp.
6. Khi giặc Pháp đã làm chủ cả nước, khi những cuộc kháng chiến lần lượt thất bại (phong trào Cần vương chấm dứt với cái chết của Phan đình Phùng – 1895), những nhà Nho tự trọng nhưng không tin vào thắng lợi của cuộc kháng chiến, chỉ còn một cách là về hưu, quay về làng sống cuộc đời thôn dã. Ở ạo, diễn ra một sự tiếp xúc văn hóa khá tiêu biểu: họ cảm thấy nhục, họ thấy một xã hội khá nhố nhăng, một không khí nghẹt thở. Văn minh vật chất phương Tây, với những thói quen trái ngược, làm họ khó chịu. Để an ủi, họ tìm chỗ dựa ở làng xóm, ở thiên nhiên. Nhưng làng xóm bắt đầu bị bần cùng hóa, để nhường chỗ cho những thành thị là nơi sống, ăn chơi của một số người làm việc cho Pháp. Đó là xu hướng tiêu cực mà cụ Tam nguyên Yên Đổ là tiêu biểu nhất, bên cạnh những ẩn sĩ khác .
7. Sự phê phán Nho giáo ở bản thân học thuyết không bắt đầu ở Việt Nam mà ở Trung Quốc. Sở dĩ như vậy là vì Nho giáo ở Việt Nam, tuy phổ biến rất rộng rãi, nhưng không sâu sắc. Việt Nam lúc này chỉ tiếp nhận một chi nhánh độc nhất của Nho giáo là nhánh Tống Nho, và học vấn chỉ có mục đích tạo những người tương lai sẽ ra làm quan, nếu thi đỗ cử nhân trở lên. Còn nếu thi đỗ tú tài, hay không thi đỗ, thì quay về làng xã, dạy học, làm thuốc, tham gia sinh hoạt làng xóm. Các sách đều là kinh truyện do các nhà Tống Nho giải thích, văn thơ cổ và quyển sử Thông giám cương mục của Chu Hy. Đã thế, Việt Nam chỉ học loại sách rút gọn, lược bớt rất nhiều. Người làm công việc này là Bùi Huy Bích làm tham tụng đời Lê, nên nhân dân quen gọi nó là sách “Hàn Tham”. Kết quả nó giúp được người Việt trong việc viết văn làm thơ, nhưng không đào tạo được những học giả thực sự. Các học giả của Việt Nam ngày xưa trở thành học giả chủ yếu là do tự học chứ không do lò khoa cử.
Xét về số lượng, thì triều Nguyễn từ năm 1804 đến 1918 qua 38 khoa đình thí và hội thí chọn được 558 tiến sĩ tức là trung bình mỗi năm chọn được 4,8 tiến sĩ. Còn về số người thi hương đỗ cử nhân trong thời gian ấy chon được 6.226 người. Số người thi đỗ và làm quan như vậy là rất ít, trái lại số người đi thi rất đông, và số người học chữ Hán lại càng lớn. Uy tín của những người đỗ đạt cao là rất lớn. Muốn lãnh đạo nhân dân đánh giặc, thường phải là một tiến sĩ hay một cử nhân nổi tiếng trong nước, trong danh sách 58 người trí thức Việt Nam thế hệ 1862 mà ông Trịnh Văn Thảo đã lập, dĩ nhiên là đầy thiếu sót ta có thể nhận thấy:
Tiến sĩ. Hoàng diệu (phó bảng), Hoàng Văn Hòe, Phạm Văn Nghị, Nguyễn Xuân Ôn, Nguyễn Thượng Phiên, Phan Đình Phùng (Đình Nguyên), Đỗ Quang, Tống Duy Tân, Phạm Phú Thứ, Nguyễn Đôn Tiết, Hoàng Tăng Bí (phó bảng), Trần Qúy Cáp, Đặng Nguyên Cẩn (phó bảng), Nguyễn Thượng Hiền (hoàng giáp), Ngô Đức Kế, Huỳnh Thúc Kháng (hoàng giáp), Phan Châu Trinh (phó bảng), Nguyễn Quang Bích (hoàng giáp)(1). Tóm lại có 18 vị tiến sĩ tham gia phong trào cứu nước. Họ là những người thực dân rất muốn lôi cuốn, nhưng không sao lôi cuốn nổi. Qua đó, không thể nói Nho giáo Việt Nam là phản động đựơc, cũng không thể nói họ thua kém bất kỳ tầng lớp nào về tinh thần yêu nước.
Nhưng muốn đổi mới cho Nho giáo bằng cách tiếp thu hệ tư tưởng phương Tây thì họ vẫn không có khả năng tự mình làm được. Họ bị học vấn Tống Nho hạn chế vào những lý luận liên quan tới lý, tính, tâm, khí. Học vấn này lại quá thực dụng, chỉ lo đến văn chương, thơ, phú, kinh nghĩa. Họ thừa dũng khí để hy sinh, nhưng thiếu phương pháp luận. Cho nên họ kém Nguyễn Trường Tộ và Nguyễn Lộ Trạch là những người phần nào từ bỏ con đường Tống Nho ngay từ đầu.
Một khi cảm thấy cái hệ tư tưởng mà họ sùng bái không cứu được nước, mà lại để cho nước mất, các nhà Nho tất yếu tìm sự giải thích ở một nước khác cùng hoàn cảnh. Nước ấy chỉ có thể là Trung Hoa.
Từ sau Nha phiến chiến tranh (1840), Trung Hoa nhận thức nguy cơ xâm lược của phương Tây. Các nhà trí thức Trung Hoa, do chỗ tiếp xúc nhiều với phương Tây, đặc biệt qua các bản dịch của Nhật mà người Trung Quốc có thể đọc khá dễ dàng, bắt đầu nhận thấy ưu thế của phương Tây Trước hết là tư tưởng, không chỉ ở vũ khí. Tăng Quốc Phiên, Trương Chi Động tiếp thu khẩu hiệu “Trung học vi thể, Tây học vi dụng” tức là “tinh thần Trung Hoa, kỹ thuật phương Tây”. Nhưng để tiếp thu được cái kỹ thuật phương Tây, thì cái tinh thần Trung Hoa tự nó phải thay đổi mới có thể tiếp thu được. Nói giọng thao tác luận, muốn kết hợp phải quy đồng mẫu số hai phân số hết sức khác nhau về mẫu số.
Nhưng một nước xưa nay tự cao tự đại đến mức gọi mình là “thiên hạ” (dưới trời), Trung Quốc (cái nước ở giữa), Trung Hoa (cái nước hóa rực rỡ ở giữa thế giới), dĩ nhiên không thể dễ dàng vứt bỏ Nho giáo, cho nên nó sử dụng một biện pháp độc đáo. Đó là chứng minh rằng mọi ưu điểm của tư tưởng phương Tây đều đã sẵn trong đạo Khổng hết. Chỉ cần theo cụ Khổng là có tất. Điều này tự nó không có gì lạ: Trước ảnh hưởng của chủ nghĩa xã hội, Thiên Chúa giáo, Phật giáo, Hồi giáo đều tự chứng minh mình là những học thuyết xã hội chủ nghĩa. Nghiêm Phục, nhà dịch giả nổi tiếng nhất chứng minh Tuân Tử đã đi trước Spencer, Lão tử đi trước Darwin. Lương Khải Siêu chứng minh các quan niệm “dân bản”, “dân ý”, “dân quyền” của Mạnh Tử đi trước các quan niệm “chủ quyền nhân dân”, “ý chí nhân dân”; và khái niệm “vô vi” của Lão tử đi trước quan niệm chính phủ không can thiệp vào kinh tế của phương Tây. Xét về mặt thao tác luận, các nhà cải cách Trung Hoa đã tìm cách quy đồng mẫu số để tạo nên sự phối hợp. Đó là cách làm hợp lý nhất. Tiếc là có sự sai lầm về phương pháp luận. Phương Tây đã thắng về tư tưởng. Phương Đông muốn sống, phải Âu hóa hệ tư tưởng của mình. Để tạo nên sự kết hợp phải lấy phương Tây làm chuẩn. Phải đập vỡ tư tưởng Khổng giáo, đốt nó thành than, thì con phượng hoàng mới sống lại được.
Người cầm đầu trào lưu này là Khang Hữu Vi (1857-1927), nhưng người ảnh hưởng lớn nhất ở Việt Nam lại là Lương Khải Siêu, nên ở Việt Nam người ta hay nói đến Khang – Lương. Vì thế hệ sinh sau 1910 vẫn còn nhiều quan điểm không chính xác về Khổng giáo, nên cần phải nói kỹ hơn một chút.
Chúng ta mới biết đời Thanh nổi tiếng nhất về mặt khảo chứng. Những tác phẩm khảo chứng đồ sộ nhất của lịch sử văn học Trung Hoa là suất bản trong giai đoạn này, chỉ cần kể bộ khang hy tự điển mà nhà nào cũng có. Xu hướng khảo chứng là kế thừa xu hướng đời Hán, mà phủ nhận Tống Nho. Khang Hữu Vi, trước hết dựa vào Hán nho viết Tân học nguy kinh khảo để chứng minh các văn bản Nho giáo mà Tống Nho lấy làm cơ sở đều là xuyên tạc, chẳng phải của Khổng tử. Câu chuyện là như sau. Sau khi nhà Tần đốt sách, vua Huệ đế nhờ nhà Nho học thuộc lòng chép lại và, do đó, có một văn bản. Đó là văn bản vẫn lưu thời Tiền Hán. Sang thời Đông Hán, người ta phát hiện ở vách tường đền thờ Khổng tử một văn bản khác viết bằng thứ chữ cổ gọi là chữ “nòng nọc”, vì hình dáng nó giống con nòng nọc. Lưu Hâm chuyển văn tự nòng nọc thành chữ mới. Tống Nho gọi văn bản này là “cổ văn” ý nói nó cổ xưa hơn, còn văn bản đời Hán là “Kim văn”, và gạt bỏ kim văn chỉ chấp nhận cổ văn. Khang chứng minh ngược lại cho văn bản kim văn mới là thực, còn văn bản cổ văn là xuyên tạc. Chuyện chứng minh ai đúng ai sai nằm ngoài phạm vi của ta. Chỉ biết rằng muốn làm thế Khang phải rất uyên bác. Khang dựa vào đấy viết Đại đồng thư đểchứng minh mọi nguyên lý tạo thành cơ sở cho sự phồn vinh phương Tây như tự do, dân chủ, tiến bộ… đều đã có ở Khổng tử, Tuân tử, Mạnh tử nhưng đều bị Tống Nho loại trừ tạo nên sự ngưng trệ. Lương Khải Siêu, học trò Khang, không phải là nhà tư tưởng, nhưng lại là nhà tuyên truyền, giới thiệu vô địch. Đặc biệt, ông có một lối văn cực kỳ lôi cuốn, đầy hình ảnh, rất xúc động. Ở Việt Nam, ta có lối văn này ở Phan Bội Châu. Hai tác phẩm quen thuộc nhất của Lương là Ẩm băng thất và Trung Quốc hồn có thể tìm thấy ở mọi nhà đại gia sứ Nghệ.
Vào đầu thế kỷ XX, các sách của phái cải cách nhập vào Việt Nam rất đều đặn. Người ta gọi là Tân thư, tức sách mới, đối lập với loại sách Tống Nho quen thuộc, gọi là sách cũ. Lần đầu tiên các nhà Nho vốn chỉ biết có văn chương cử tử, biết thế nào là chủ nghĩa đế quốc, duy lý luận của Descartes, thuyết giao kèo của xã hội của Rousseau, thuyết tam quyền phân lập của Montesquieu, thuyết tiến hóa của Huxley, thuyết cạnh tranh sinh tồn của Darwin. Có một sự tiếp thu phương Tây cực kỳ sôi nổi và hăng hái. Các nhà Nho yêu nước nhận ra con đường cứu nước mới. Tâm trạng giữ lấy đạo nhà, hay độc thiên kỳ thân, đã nhường chỗ cho tâm trạng phấn khởi, phá xiềng xích, lao vào thực tế để Âu hóa nó, dĩ nhiên là theo con đường bản sắc văn hóa quy định, con đường nhân cách Việt Nam.
Lần đầu tiên, các nhà Nho Việt Nam hiểu được phương Tây. Điều ngược đời, đó không phải thực dân Pháp, dù họ đã cai trị Việt Nam, giới thiệu văn hóa phương Tây cho Việt Nam. Sự có mặt của thực dân lúc đầu tiên, ngoài sức mạnh võ khí ra, chưa có gì hấp dẫn. Về mặt vật chất, đó là sâm banh, bánh mỳ. Về mặt phong tục, đó là khiêu vũ, lúc ấy gọi là “nhảy đầm”. Về người, chung quanh bọn thực dân là một lũ tay sai mà chính người Pháp cũng thừa nhận là một lũ cặn bã, hèn hạ. Chính các tân thư Trung Quốc đã làm họ tỉnh ngộ. Họ thấy phải đổi mới xã hội, đất nước để cứu lấy nước. Họ hiểu được giá trị của những tư tưởng mới. Người Việt Nam không đánh giá một học thuyết ở tự thân nó. Người Đức, người Pháp làm được điều đó, và điều này làm vinh dự cho văn hóa của họ. Người Việt Nam đánh giá một tư tưởng ngoài vào theo một tiêu chuẩn duy nhất: nó giúp được gì cho họ để giữ nước và cứu nước. Và khi thấy nó làm được điều này, thì người Việt có thái độ cực đoan: theo hẳn cái mới. Điều này giải thích lịch sử tiếp xúc văn hóa của Việt Nam với những biến đổi đột ngột: theo văn hóa Hán, theo văn hóa Pháp, theo chủ nghĩa xã hội. Nhưng theo là theo kiểu ghép cây (greffage), chứ không phải theo kiểu lật đổ hoàn toàn kiến trúc cũ, để lắp một kiến trúc mới, bởi vì văn hóa không phải chỉ là một thượng tầng kiến trúc.
8. Sở dĩ các tân thư lôi cuốn người Việt đến thế là vì nó được viết bằng một ngôn ngữ rất quen thuộc với họ: một ngôn ngữ Hán rất dễ hiểu, còn dễ hiểu hơn ngôn ngữ của các bài phú, cổ văn. Tâm trạng người Việt là tâm trạng của dân mất nước, đau xót trước một triều đình hủ bại. Đặc biệt, cách giới thiệu thông qua lăng kính Nho giáo, Phật giáo, nên đọc là hiểu ngay, thấm ngay. Nhưng nếu ta xét đoán theo quan điểm thực chứng, hiện đại, khi chúng ta đã hiểu tư tưởng phương Tây không kém gì phương Tây, thì nó khá nông cạn và hời hợt. Mặc dầu thế, điều người Việt Nam cần, tức là con đường cứu nước, đã hiện ra. Do đó có ba hiện tượng:
Thứ nhất, là sự đổi mới tư tưởng khá triệt để. Tuy khoa cử đến năm 1915 mới bị bỏ ở Bắc Bộ, và 1918 bị bỏ ở Trung Bộ, tuy sách đi thi vẫn là sách Tống Nho, nhưng các nhà Nho đều mê Tân thư, đều là Thanh Nho. Phần lớn lúc này có người thi để làm quan, nhưng có người thi để giành lấy một uy tín tinh thần có lợi cho cuộc vận động (Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh…). Có thể nói, cho đến năm 1925, xu hướng giới thiệu công khai hay bí mật sách báo, tư tưởng phương Tây là dựa trên sách báo Trung Quốc. Chính vì vậy cho nên tên đất, tên người phương Tây đều đọc theo âm Hán Việt, nhiều khi khá kỳ quặc: Voltaire thànhPhú lộc đặc nhĩ , Montesquieu thành Mạnh đức tư cưu v.v… Ngay đến 1964 Marx còn được gọi là Mã-khắc-tư v.v…. Còn tên đất về cơ bản là tên Hán Việt, mãi đến giờ rút gọn lại lấy âm tiết đầu: Anh, Nga, Phổ, Pháp, Ý, v.v… Ngược lại, dù địa vị người Pháp thay đổi nhưng tên gọi vẫn là tên cũ: ông toàn quyền vốn là từ chỉ Đại sứ đặc mệnh toàn quyền (plenipotentiaire), ông công sứ vốn là từ để chỉ lãnh sự (consul), v.v… Cuộc vận động cải cách ở Trung Quốc thất bại vào năm 1898, phái cải cách người thì chết (trong đó có vua Quang Tự), người chạy trốn (Khang, Lương). Những nhà cải cách oanh liệt một thời (Khang, Lương) sau này mất cả chí khí chạy theo bọn quân phiệt. Mặc dầu thế, tư tưởng cải cách vẫn được duy trì. Cách nhìn Nho giáo kiểu Khang Hữu Vi trở thành cách nhìn chủ đạo của Tôn Dật Tiên ở Trung Quốc, của Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, và các nhà nho yêu nước ở Việt Nam. Lý thuyết “dân vi quý” hiện nay vẫn có nhiều người cho là lý thuyết dân chủ, v.v… Ở đây có hai điều khác hẳn nhau. Nếu xét một cách thực chứng, thì những tư tưởng tự do, dân chủ, tiến bộ, pháp luật v.v… không những có mà thậm chí không tài nào có thể có trong óc Khổng Tử với tính cách con người của một thời đại cụ thể, cách đây trên 2500 năm. Tư tưởng một con người trước sau vẫn là sản phẩm một xã hội cụ thể. Vài thí dụ: trước thế kỷ thứ 4 không một nhà tư tưởng châu Âu nào công kích chế độ nô lệ. Trước thế kỷ 17 mọi nhà tư tưởng đều than phiền về tình trạng xã hội ngày càng suy đồi, hạnh phúc là ở quá khứ, vậy làm gì có chỗ đứng cho tiến bộ? Trước thế kỷ 20 trừ New Zealand chẳng có ai yêu cầu phụ nữ bình đẳng với nam giới về chính trị. Những điều hôm nay cho là hiển nhiên, thì chỉ hôm qua thôi, ngay cả những đầu óc sáng suốt nhất của loài người cũng không thấy… Nhưng mặt khác, tôn chỉ của đạo Khổng là đạt đến sự hài hòa trong xã hội trên cơ sở tu dưỡng bản thân và để đạt đến điều này phải hiểu chữ “thời”, tức là không bám vào cái gì cứng nhắc. Chính Khổng tử thực hiện điều này cho nên các câu trả lời của ông về hiếu, nhân, lễ, trí… thay đổi tùy theo người và tùy theo trường hợp. Do đó, nếu dân chủ, tiến bộ, tự do… pháp luật tự nó góp phần làm xã hội hài hòa thì người theo Nho giáo phải tự tu dưỡng mình để tiếp nhận nó và đưa nó vào xã hội.
Thứ hai, là phong trào Đông Du. Từ cuối thế kỷ XIX Nhật Bản đã là một tấm gương ở chỗ nhờ biết tiếp thu khoa học, kỹ thuật phương Tây, nó đã đổi mới được đất nước, giữ vững được độc lập. Đặc biệt với Nhật, chiến thắng Nga năm 1905 được người Việt Nam chào đón như là chiến thắng chung của người da vàng đánh bại người da trắng. Người Việt Nam xem người Nhật là cùng văn hóa, cùng chủng tộc, cùng cảnh ngộ, và tìm giải pháp cứu nước theo con đường Nhật Bản. Đó là phong trào sang Đông, bằng con đường sang Trung Quốc để sang Nhật Bản, tìm biện pháp duy tân đất nước, đổi mới kinh tế, chính trị, đặc biệt học tập kinh nghiệm quân sự. Các tác phẩm của Nguyễn Trường Tộ, Nguyễn Lộ Trạch lúc này trở thành ngọn đuốc soi đường. Trên hai trăm người ưu tú ra đi. Phan Bội Châu (1867-1940) giải nguyên trường Nghệ năm 1903, là người lãnh đạo, cùng với Nguyễn Thượng Hiền (hoàng giáp), Tăng Bạt Hổ, Nguyễn Thành và những thanh niên yêu nước sẽ tham gia những cuộc khởi nghĩa (Lương Ngọc Quyến, Trần Hữu Lực…)
Thứ ba, là những cuộc vận động cải cách sôi nổi trong nước. Lần đầu tiên, ta thấy những nhà Nho bắt tay làm thương nghiệp. Hồ Tá Bang thành lập công ty nước mắm ở Phan Thiết. Phan Châu Trinh bỏ công việc ở bộ Lễ để đi buôn. Những trường học tư nhân mở ra khắp nơi dạy chữ Quốc ngữ (chỉ riêng tỉnh Quảng Nam có 40 trường), đồng thời là nơi giáo dục tinh thần yêu nước, đổi mới đất nước. Nổi tiếng nhất là trường Đông Kinh nghĩa thục theo gương trường Khánh ứng nghĩa thục của Nhật Bản. Trường hoạt động sáu tháng, tập hợp những nhà Nho yêu nước (Dương Bá Trạc, Lương Văn Can…) do Nguyễn Quyền làm hiệu trưởng. Những trường tương tự được tổ chức khắp các tỉnh. Người cầm đầu phong trào cải cách trong nước, chấn dân khí, khai dân trí, hậu dân sinh là Phan Châu Trinh. Một phong trào đổi mới sôi nổi lôi cuốn toàn quốc, về một số điểm mang tính chất tư sản dân tộc. Linh hồn của phong trào là Phan Châu Trinh. Lúc này thực dân Pháp phạm điều sai lầm sẽ dẫn tới sự sụp đổ của đế quốc Pháp. Nó không hiểu rằng cái nước mà nó chiếm quá dễ dàng thực tình có một lịch sử vinh quang, một truyền thống yêu nước vô song, và một nhân dân thông minh chẳng mảy may thua kém người Pháp. Để nuôi bọn Tây đoan, bọn chủ đồn điền, chủ mỏ… nó chỉ biết đàn áp. Không những những người chủ trương võ trang khởi nghĩa, mà cả những người đòi cải cách trong phạm vi hợp pháp cũng bị đàn áp mà đàn áp còn khốc liệt hơn: Trần Quý Cáp bị chém. Nhà tù Côn Đảo chật ních những con người hay chữ nhất của đất nước: Huỳnh Thúc Kháng (hoàng giáp), Ngô Đức Kế (tiến sĩ), Đặng Nguyên Cầm (phó bảng)… Thầy tôi, Phan Võ, thường nhắc lại lời than thở của cụ Đình Nguyên Đặng Văn Thụy: “Bọn hay chữ đi Côn Đảo cả rồi, ở đây chẳng còn ai biết chữ nghĩa gì nữa!”.
Mọi con đường đều bị bế tắc. Con đường dựa vào Nhật chấm dứt sau khi Nhật cấu kết với Pháp trục xuất những người yêu nước. Con đường tự lực đổi mới đất nước theo gương châu Âu bị đàn áp. Dần dần, người Việt Nam nhận ra con đường duy nhất, vô cùng khó khăn nhưng cứu được nước. Nếu các đế quốc cấu kết với nhau, thì con đường cứu nước chỉ có thể là con đường theo Quốc tế III chống toàn bộ hệ thống đế quốc chủ nghĩa.
Chủ nghĩa xã hội đã đến với văn hóa Việt Nam, phù hợp với bản sắc văn hóa dân tộc. Bản sắc ấy dám đổi mới, dù cho đổi mới là cực đoan, là đoạn tuyệt với những điều trước đây được xem là thiêng liêng. Nhưng đổi mới là để cứu nước, không phải để làm đầy tớ người ta. Vài thí dụ. Không phải thực dân, mà chính các nhà Nho yêu cầu bỏ chế độ khoa cử, đoạn tuyệt với chữ Hán. Không phải thực dân, mà chính các nhà Nho truyền bá chữ Quốc ngữ, một văn tự Tây phương. Khác tất cả các nước đã có một truyền thống văn tự rực rỡ, Việt Nam dám đổi mã văn tự, theo hẳn châu Âu. Vào khoảng 1920, chữ hán và chữ Nôm đều ở trong quá trình tàn lụi. Ngày trước, người Việt để búi tó. Từ 1907 có phong trào cắt búi tó để đoạn tuyệt với quá khứ. Đến 1920 búi tó biến mất, cũng vào khoảng ấy chế độ quân chủ, dù là lập hiến, cũng bị công kích, người Việt chỉ có thể chấp nhận chế độ dân chủ.
Thực tế một quá trình Âu hóa đã diễn ra. Ai chống lại? Không phải các nhà Nho mà thực dân Pháp. Nhiều người hăng hái nhất bênh vực chữ Quốc ngữ bị đày đi Côn Đảo. Ai cắt búi tó vào năm 1908 đều bị tình nghi. Các trường học theo xu hướng cải cách bị đóng cửa, các hiệu buôn để mở mang kinh tế đất nước bị cấm.

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét