Top 5 quốc gia nguy hiểm về giao thông nhất Đông Nam á, Việt nam xếp thứ mấy ?
Bí Ẩn Angkor Wat - Quá trình xây dựng một kỳ quan
Bí ẩn về Hội Tam Hoàng tại Việt Nam, một thời làm mưa gió
Top 10 vụ cướp Ngân hàng (nhà băng) kinh điển nhất Việt Nam | phim Mỹ còn thua
Top 10 xe tăng và pháo tự hành chống tăng mạnh nhất của Mỹ trong chiến tranh thế giới thứ 2
Top 10 trận đấu xe tăng kinh hoàng nhất trong lịch sử thế giới
Top 10 xe tăng và pháo tự hành chống tăng mạnh nhất của Đức trong Thế chiến 2
top 10 xe tăng nổi bật làm thay đổi chiến tranh thiết giáp
Việt nam đã bắn bao nhiêu viên đạn pháo trong chiến dịch Điện Biên Phủ 1954
Bí mật những trận đánh giữa Việt minh với quân đội Anh tại Sài gòn năm 1945
Bí ẩn việc tướng Giáp đã phân tích so sánh lực lương Pháp và quân ta như thế nào?
Chiến thắng Điện Biên Phủ và 10 cái nhất có thể bạn chưa biết
SỰ TIẾP XÚC CỦA VĂN HOÁ VIỆT NAM VỚI PHÁP
Phan Ngọc
Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin & Viện Văn hóa, 2006
Chương 5. Sự đổi mới tư tưởng
1. Một điều phải nói là rất khó hiểu. Tại sao một cuộc vận động văn hoá to lớn như cuộc Vận động ngũ tứ (1919) ở Trung Quốc lại gần như không có ảnh hưởng gì ở Việt nam, một nước đã theo dõi trào lưu tân thư rất sát? Phải chăng vì ảnh hưởng của Nam Phong đã đánh lạc hướng dư luận? Trên tờ báo này ta chỉ bắt gặp những bài theo khuynh hướng bảo thủ của Phạm Quỳnh (Nền tảng đạo Khổng; Khái niệm quân tử…) của Nguyễn Bá Trác (Bàn về Hán học), những bài của Nguyễn Hữu Tiến, Nguyễn Đôn Phục, Nguyễn Trọng Thuật thuần tuý Tống Nho. Có lẽ Phan Khôi trên Phụ nữ tân văn (1930), và Thần Chung (1931) là có sử dụng một vài luận điểm của phong trào ngũ tứ để đả kích Khổng giáo. Phan Khôi là một nhà Nho có có phê phán, có ngòi bút sắc sảo đã bị đày Côn đảo vì vụ chống thuế năm 1908 ở Quảng Ngãi. Nhưng ông là một người thiên về logic phương Tây nhưng chỉ mới hiểu được logic hình thức mà không hiểu biện chứng pháp. Ông lại thích tranh luận mà không chịu đi sâu vào cái lĩnh vực ông có khả năng nhất là Tống Nho. Công trình đáng chú ý nhất có ảnh hưởng Ngũ tứ là quyển Khổng giáo phê bình tiểu luận (1939) của Đào Duy Anh. Đó là tác phẩm đầu tiên thử áp dụng chủ nghĩa duy vật để xét Nho giáo trong bối cảnh xã hội, giai cấp, có tiếp nhận những kết quả nghiên cứu xã hội của cuộc vận động Ngũ tứ. Nhưng Đào Duy Anh là một nhà sử học hơn một nhà triết học, nên phần xét đoán về cơ sở xã hội đáng chú ý hơn phần học thuyết. Để bảo vệ Khổng giáo và tìm cách phối hợp nó với thời đại, Phan Bội Châu viết Khổng học đăng và Trần Trọng Kim (1882-1953) viết Nho giáo (1930-1933). Là con một nhà Nho, am hiểu Hán học, tốt nghiệp trường thông ngôn rồi trường Sư phạm Melun, Trần Trọng Kim viết tác phẩm này gồm 4 quyển cho đến nay vẫn được xem là công phu nhất, đầy đủ nhất về Nho giáo. Quyển I nói về Nho giáo của Khổng tử, quyển II nói về sự diễn biến của Nho giáo từ khi Khổng tử mất đến đời Hán. Quyển III nói về Nho giáo từ Hán đến hết đời Tống. Quyển IV nói về Tống Nho ở Việt Nam. Nhưng các thành tựu về kỹ thuật, kinh tế… phương Tây là xuất hiện trên một tâm thức khác đã được chuẩn bị ít nhất từ thời Phục hưng. Khi chưa được chuẩn bị về tâm thức, mà chỉ tiếp nhận mặt kỹ thuật thì chẳng bao lâu ta chỉ tiếp nhận đồ vật mà bỏ mất linh hồn. Kết quả là sự phá sản về nhân cách, và cái tiếp nhận được không phải là giàu có, phồn vinh mà mọi tệ nạn xã hội, mọi rác rưởi của nền văn minh tiêu thụ.
Con người tồn tại được đến giờ không phải nhờ chỗ nó ngu mà nhờ chỗ nó khôn. Ở mọi mặt như nông nghiệp, thủ công nghiệp, y học, tổ chức xã hội, học hành, lối sống v.v… đều có những giá trị thực sự mà ta phải biết khảo sát, tiếp nhận, tiến hành sự quy đồng mẫu số để chuyển sang cái mới, cái thuộc thế giới hiện đại. Câu chuyện là phải thắng để tồn tại. Bài học lớn nhất ở đây có giá trị phổ biến là bài học chiến tranh. Trong chiến tranh ta không gạt bỏ mọi kỹ thuật, mọi võ khí, mọi phương pháp chiến đấu để theo một cách làm duy nhất, dù là cực kỳ hiện đại. Nếu ta chỉ theo một cách làm duy nhất, dù là cực kỳ hiện đại. Nếu ta chỉ theo một cách thì ta mất nước rồi. Ta đã thực hiện một sự kết hợp thiên tài: ở đâu dùng chông, ở đâu đào hầm, ở đầu dùng ong, ở đâu dùng nỏ… ở đâu dùng xe tăng, trọng pháo. Lúc nào thì đánh, lúc nào thì đàm, lúc nào thì đấu lý, lúc nào thì đấu lực. Chúng ta không loại trừ mà kết hợp. Chỉ cần chuyển mục tiêu từ tất cả cho kháng chiến, sang tất cả cho nước Việt Nam phồn vinh xã hội chủ nghĩa là chúng ta làm được.
Dưới đây, chúng tôi trình bày ba quan điểm khác nhau do ảnh hưởng của tiếp xúc văn hoá với phương Tây, với Nho giáo nói riêng, và truyền thống văn hoá nói chung. Nó là tiêu biểu cho ba giai đoạn.
2. Sự phê phán thứ nhất là theo xu hướng tư sản. Từ 1930, sau khi phong trào Việt Nam Quốc dân Đảng bị tan rã do sự đàn áp của thực dân, thực tế ngọn cờ giải phóng dân tộc đã chuyển sang xu hướng mới do Đảng Cộng sản Đông Dương lãnh đạo. Xu hướng Việt Nam Quốc dân đảng vốn mang tính chất trí thức tiểu sản thành thị, sau khi mất chỗ dựa về chính trị đã tìm một lối thoát trong văn hoá, nghệ thuật. Tờ báo Phong hoá (1932) rồi Ngày nay (từ năm 1935) trong một thời gian dài đã có ảnh hưởng sâu rộng.
Người cầm đầu là Nguyễn Trường Tam, bút danh Nhất Linh (1906-1963), đỗ cử nhân khoa học ở Pháp. Dẫu sao, ông cũng thuộc lớp lớn tuổi so với thế hệ sinh sau 1910, cho nên có hai Nhất Linh trái ngược nhau, một Nhất Linh của Nho phong còn chịu nhiều ảnh hưởng Nho giáo và chưa có dấu hiệu báo trước con người của Phong Hoá, Ngày Nay, và một Nhất Linh cầm đầu Tự lực văn đoàn, tập hợp những người em trai của ông Nguyễn Trường Long, tức Hoàng Đạo (1907-1948), Nguyễn Trường Lân, tức Thạch Lam (1909-1943) và một số người bạn bè Trần Khánh Giư tức Khái Hưng, Nguyễn Thứ Lễ tức Thế Lữ (1907-1989), Hồ Trọng Hiếu tức Tú Mỡ (1900-1976), Tô Ngọc Vân (1934), sau này thêm Ngô Xuân Diệu, tức Xuân Diệu (1917-1985), Cù Huy Cận, tức Huy Cận (sinh năm 1919). Việc bàn về mặt giá trị văn học sẽ nói trong chương Những trào lưu văn học mới. Ở đây chỉ nói đến ảnh hưởng của văn hóa Pháp tới sự phê phán Nho giáo.
Với thế hệ mới, phần lớn sinh sau 1900, cái vốn Hán học thường là non yếu không cho phép họ tiến hành sự phê phán trực tiếp về học thuật. Cái vốn chủ yếu của họ là văn hóa Pháp tiếp thu ở trường, cho nên họ sẽ sử dụng những chuẩn mực mới, những chuẩn mực của xã hội tư sản phương Tây để đả kích toàn bộ xã hội cũ.
Với tờ Phong Hoá ta bắt gặp loại nhà báo phương Tây mà trước đây ít thấy. Đó là những người chỉ chú ý đến sự kiện trước mắt, phê phán nó kịch liệt, không xét đến gốc gác, không đi sâu vào bản chất, chỉ nhìn ở hiện tượng. Nó là tờ báo châm biếm, đả kích bất cứ cái gì, lần này lượt khác, không biết chán, không biết mỏi. Nhưng sự phê phán không đụng chạm bản thân chế độ thực dân, mà chỉ ở biểu hiện bên ngoài, lối phê phán ta thường gặp ở những tờ báo châm biếm của Pháp và là lối phê phán thực dân chấp nhận được để giữ cái vẻ ngoài dân chủ. Một tờ báo châm biếm cần có những bức tranh châm biếm sắc sảo. Về điểm này, nó có được sự giúp đỡ của hai hoạ sĩ bậc thầy là Nguyễn Gia Trí và Tô Ngọc Vân. Tranh châm biếm đã có từ trước. Nhưng phải đến Phong Hoá, mới có loại tranh châm biếm khắc hoạ những nhân vật có thực, hay hư cấu, tới mức điển hình, nhìn thấy là biết ngay, không một lời giải thích. Muốn làm thế, phải phân tích đối tượng để rút ra chi tiết điển hình, cấp cho chi tiết này một nội dung tư tưởng, đặt nhân vật vào những tình huống tiêu biểu để tính chất nhân vật được mọi người nhận thấy rõ ràng. Cái khó ở đây không chỉ ở tài năng vẽ mà trước hết ở một sự cấu trúc hoá đối tượng kiểu châu Âu. Cho nên Việt Nam trước khi tiếp xúc với phương Tây chưa có tranh biếm hoạ. Các biếm hoạ của Phong Hoá, Ngày Nay đã tung ra ba điển hình quen thuộc với nhân dân trong thập kỷ 30-34 không kém gì các nhân vật của Nguyễn Du: Lý Toét, Xã Xệ, Bang Bạnh, cùng với những nhân vật của xã hội mới (Phạm Quỳnh, Nguyễn Tiến Lãng, Phạm Lê Bổng…) đại diện cho lớp người thân Pháp. Thiếu một Tô Ngọc Vân, cho nên đến nay chưa có một ông quan liêu.
Nhóm Tự lực văn đoàn, vì nhìn xã hội theo con mắt tư sản, nên nông thôn đối với nó, chỉ là quê mùa, dốt nát, xứ sở để cho lợn Lý Toét, Xã Xệ, Bang Bạnh hoành hành, nơi tập trung mọi hủ tục: khao vọng, xôi thịt, đút lót, tệ ăn trên ngồi trốc, ma chay, đình đám. Còn thái độ đối với nông dân tuy có khác nhau từ chỗ là kẻ chỉ biết chịu đựng, mất hết nhân cách như ở Nhất Linh (trong Chàng nông phu) đến những người tốt, hiền lành, nhưng bất lực (trong Thạch Lam), nhưng điều không thấy là phẩm chất cao quý của người lao động, điều mà Xôviết Nghệ Tĩnh lẽ ra phải là một bài học. Đối với xã hội thành thị, hai tờ báo công kích tệ tham ô, chế độ nghị gật, sự xu nịnh Pháp, nhưng không đả động đến phương diện kinh tế là mặt kìm hãm sự hình thành của nền kinh tế tư sản dân tộc.
Xu hướng này có những mặt tích cực.
Thứ nhất, là óc phê phán. Óc phê phán là linh hồn của tư tưởng phương Tây, nhưng nó lại gần như vắng mặt ở Việt Nam. Nho giáo đề xướng việc tuân thủ các quy tắc, thái độ tôn kính mọi lời dạy của thánh hiền. Còn văn học bình luận tuy có phê phán các tệ nạn của chế độ quan liêu, nhưng không xây dựng được cơ sở kinh tế, đạo lý, cho phép sự phê phán thành nhất quán, có hệ thống. Dù cho sự phê phán này mới là ở biểu hiện bên ngoài, nhưng nó rất phù hợp với tầng lớp tiểu tư sản. Về điểm này, Tú Mỡ là nhà thơ trào phúng xuất sắc. Võ khí của sự phê phán chỉ mới là cái cười, chưa mang tinh thần lý luận. Nhưng đây là công cụ tiện lợi của kẻ yếu.
Thứ hai, nhóm này đánh đúng vào chỗ yếu nhất của Nho giáo, chỗ có khả năng lối cuốn quần chung đông đảo nhất, đồng thời đánh vào đấy thì Nho giáo không thể nào chống đỡ nổi. Đó là sự xung đột giữa hai thế hệ. Trước khi có sự tiếp xúc với phương Tây, điều này không diễn ra. Bởi vì mỗi thế hệ sẽ lặp lại nguyên xi chu kỳ sinh sống của thế hệ trước. Thế hệ cha sống, học hành, kết hôn, làm việc như thế nào, thì thế hệ con sẽ tiếp tục cái chu kỳ ấy. Đây là sự xoay vòng, đắp đổi, mà mô hình là sự đắp đổi của bốn mùa trong vũ trụ đã được Kinh dịch chuyển thành một nguyên lý triết học. Không phải từng người một không muốn kháng cự lại, nhưng dù cảm thấy bị ràng buộc, anh ta vẫn đành phải vâng theo để cho đảm bảo sự yên tĩnh trong gia đình, làng xóm, đất nước. Lúc này thì khác. Mọi kỷ cương cũ đang tan vỡ. Sự sinh sống trong nông thôn, thành thị đổi khác. Thế hệ con phải tự giải quyết chuyện sinh sống, hôn nhân, không thể vâng theo những quy định cũ. Nhóm Tự lực Văn đoàn còn biết sử dụng cái công cụ mới hết sức có hiệu lực để đổi mới xã hội. Trước hết đó là tiểu thuyết, truyện ngắn, trong đó thế nào ta cũng bắt gặp một cá nhân tìm con đường cho mình, hợp với tình cảm mình, trong sự đối lập với thế hệ cũ. Kết quả rất rõ ràng. Một nền tiểu thuyết mới ra đời mà mẫu mực không phải là tiểu thuyết chương hồi của Trung Quốc, hay tiểu thuyết truyền kỳ, và truyện thơ trước đây. Nó là tiểu thuyết tâm lý theo mô hình tiểu thuyết Pháp, trong đó nội tâm nhân vật được phân tích rất tinh vi, và ngôn ngữ rất gần văn xuôi Pháp, cho nên giản dị, trong sáng, khác các tiểu thuyết trước đây. Về thơ, tuy phong trào Thơ Mới không phải do nhóm này đề xướng, nhưng Thế Lữ, Xuân Diệu, Huy Cận vẫn là ba người nổi bật của phong trào.
Nhưng ngay trong phạm vi hợp pháp, nhóm này cũng phạm những khuyết điểm căn bản. Nó chống lại xu hướng hiện thực, ít nhất là trong giai đoạn đầu khi chê bai Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng để theo một văn học cá nhân chu nghĩa kiểu Gide. Chỉ do áp dụng của phong trào bình dân ta mới thấy nó chấp nhận những nhà văn của dân nghèo thành thị (Nguyên Hồng, Nam Cao), và tuyên truyền một thứ chủ nghĩa cải lương quê mùa: những người địa chủ sáng suốt đổi mới số phận cho nông dân lao động. Nó xây dựng cơ sở trên một không tưởng. Khi thực dân Pháp quyết tâm chống lại sự hình thành một tầng lớp tư sản dân tộc, thì dù Hoàng Đạo trong Mười điều tâm niệm (1938) có chủ trương “Theo cái mới không chút do dự”, cái mới, tức là xã hội tư sản, cũng không có để mà theo. Kết quả là, có một sự phân liệt. Lớp chủ chốt chạy theo một chủ nghĩa cá nhân thất bại, đó là những con người vất vưởng, cách mạng không có mục đích, tự thể hiện mình bằng con đường chạy theo cảm giác, hay lao theo cuộc đời mưa gió. Họ không hiểu quần chúng lao động, nên rời khỏi quần chúng lao động khi quần chúng này nắm quyền. Phần còn lại từ bỏ con đường cũ để theo cách mạng.
3. Sự phê phán thứ hai đối với Nho giáo là xuất phát từ những người ít nhiều theo chủ nghĩa Mác. Câu chuyện bàn về Nho giáo quá phức tạp không thể bàn ở đây được.
Ở một nhà triết học có hai phần khác nhau. Nếu không tách hai phần ấy ra khỏi nhau thì chúng ta sẽ hất cả đứa bé đang tắm cùng với chậu nước tắm. Có cái phần, nếu đứng ở góc độ hiện đại mà xét, thì cực kỳ ngớ ngẩn. Bởi vì triết học là con người, cho nên các giải pháp ông đưa ra, dù hay đến đâu, cũng chỉ là giải pháp của một giai đoạn lịch sử cụ thể, văn hoá đơn nhất. Tối đại đa số những người các thời đại sau đều là dân “nghĩ theo”, đại khái cũng như những đứa bé ba bốn tuổi là dân “ăn theo” của cha mẹ chúng. Dân nghĩ theo tạo ra sự ngừng trệ. Có ba nhà tư tưởng vĩ đại nhất của loài người mà học thuyết vì được lý giải theo lối nghĩ theo đã dẫn tới ba sự ngưng trệ. Người thứ nhất là Khổng tử, và dẫn tới sự ngưng trệ hai ngàn năm ở những nước theo cụ. Người thứ hai là Aristote và dẫn tới sự ngưng trệ phương Tây khoảng một ngàn năm. Người thứ ba là Marx và có sự ngưng trệ hiện ta chứng kiến. Nhưng đừng tưởng các cụ ấy chết. Các cụ ấy có những đóng góp toàn nhân loại mà chỉ sau khi vứt bỏ cái phần nhất thời, lịch sử, ta mới thấy được giá trị đích thực. Không phải ngẫu nhiêun mà Greimas viết quyển “Spectre de Marx” (Bóng ma của Marx) năm 1990 báo trước thế kỷ XXI sẽ là thế kỷ của Marx. Nên nhớ Greimas chưa hề là người Cộng sản. Hiện tượng Không tử đã được đặt lại nghiêm chỉnh ở Trung Quốc. Cái còn lại ở nhà tư tưởng là sự góp phần xây dựng nhận thức luận hiện đại.
Khổng tử là con người của Trung Hoa cổ đại cách đây 2500 năm, của một xã hội theo kinh tế cống nạp, phân thành đẳng cấp rạch ròi, tôn ty cách biệt, với chế độ phân phong thiên hạ chia thành trên trăm nước. Sợi dây liên hệ giữa người với người, giữa nước với nước là Lễ. Trong một xã hội như vậy, không thể có những yêu cầu của xã hội hiện đại, tư hữu, thị trường, tự do, cá nhân, dân chủ, bình đẳng. Cái gọi là pháp trị ở đây là đối lập lại chế độ pháp luật hiện đại. Về thực chất, pháp trị chỉ là xoá bỏ tôn ty để càng khẳng định tình trạng toàn dân đều là nô lệ về danh nghĩa của nhà vua, thực chất là của bộ máy quan liêu. Nếu ông vua sáng suốt, biết chọn một bộ máy quan liêu tài giỏi, dưới sự điều khiển của một vị tể tướng lỗi lạc, thì nước sẽ rất mạnh, làm bá… thậm chí thống nhất cả thiên hạ. Nhưng khi con người cao hơn pháp luật này, bắt toàn bộ pháp luật phục vụ nó, nếu là một hôn nhân, thì lập tức bọn gian thần lũng đoạn, mọi cái phi lý đều trở thành chân lý, như chuyện thời Tần Nhị Thế con nai thành con ngựa là bằng chứng rõ ràng, và nhân dân nổi dậy như ong, toàn bộ chế độ sẽ sụp đổ. Trường hợp cụ thể là nhà Tần. Tần Thuỷ Hoàng thống nhất thiên hạ năm -221 thì năm -226 sụp đổ, vì người kế vị ông ta là một hôn quân. Gia Cát Lượng phò tá Lưu Bị giữ được cơ đồ nhà Hán một thời gian. Nhưng khi Lưu Bị không nghe lời Gia Cát Lượng đem quân đánh Đông Ngô thì sách lược “Hoà Tôn Quyền, đánh Tào Tháo” thất bại, và khi Lưu Thiện một hôn quân lên ngôi thì dù có trăm Gia Cát Lượng còn sống, nhà Hán vẫn bị tiêu diệt. Giải pháp pháp trị chưa bao giờ thành công ở Trung Quốc cả là vì thế. Còn giải pháp “Lễ trị” mà Chu Công chủ trương ít nhất đã duy trì nhà Chu được 900 năm. Điều này giải thích tại sao Khổng tử chủ trương lễ trị, hay đức trị, văn trị (về thực chất ba chữ này đều là lễ trị) mà không tán thành pháp luật. Mọi sự khen chê hay phỉ báng Khổng giáo cho đến nay là chỉ xét từ ngoài vào. Tức là người ta tách từng câu ra để xét rồi đối chiếu với hiện tại để khen hay chê. Cái quan trọng hơn là phải xét từ bên trong như Husserl chủ trương đối với triết học.
4. Đối với đa số những người theo chủ nghĩa Marx, họ chỉ xét Khổng giáo từ bên ngoài, và khi họ thấy nó quá ư lạc hậu, phản động thì hò mạt sát, phủ định toàn bộ Khổng giáo. Cần phân biệt thái độ và cách làm. Về thái độ họ đã làm đúng và, nói chung, họ làm thế là hợp với quyền lợi cách mạng. Một nhà Nho chân chính không bao giờ chống lại thái độ này. Để cho câu chuyện bớt gây hiểu lầm, tôi nói đến hai vị tiền bối lỗi lạc nhưng đều không phải là đảng viên cộng sản. Khi Nguyễn An Ninh công kích quan điểm ưu tú luận (élitesme) của Khổng giáo, chỉ lo đào tạo một nhóm người quân tử ưu tú để cai trị, và thái độ bảo thủ của nó, thì Huỳnh Thúc Kháng trên Tiếng Dân, mặc dầu là nhà Nho đã viết bài Những điều khuyết điểm của Nho giáo (Tiếng Dân ngày 11-10-1930), công khai thừa nhận những lời chỉ tríhc ấy là đúng. Như vậy là một người Nho giáo (Huỳnh Thúc Kháng) Việt Nam, vì vâng theo bản sắc văn hoá dân tộc, không bao giờ chống lại những yêu cầu của cách mạng, sẵn sàng thừa nhận những khuyết điểm của chính học thuyết của mình. Nhưng cụ Huỳnh và ông Nguyễn đều xét học thuyết từ bên ngoài nên cuộc đối thoại vẫn không tìm ra được lời giải đáp.
Tôi muốn đi từ chỗ A đến chỗ B. Giữa A và B là rừng rậm. Người hiện đại nói: ra đi trực thăng, ta đi ôtô, xe lửa. Và vân vân. Tự do, dân chủ, pháp luật, và vân vân, đều là những công cụ của một thời đại khác, không thể nó có cách đây 2500 ở Trung Hoa. Trong tay Khổng tử chỉ còn con dao rựa. Chê bai cụ Khổng không biết dùng tự do… thì chẳng khác gì chê cụ Khổng tại sao không đi máy bay. Ta chỉ có thể chê cụ Khổng về điểm dùng dao rựa phạt cây có tìm được con đường vừa ngắn, vừa dễ đi, vừa ít gặp thú dữ không. Còn ở thời đại ta thì phải làm khác hẳn: phải chụp ảnh, đo đạc, làm đường, sân bay, đường sắt v.v…, không thể nào nhảy vọt một cái mà đến được. Nếu xét như vậy, thì phải chấp nhận cái lý của cụ. Cần phải tạo kỳ được một số người ưu tú phát đường mà tiến rồi kén những người theo mình. Những người cùng đi phải chấp nhận kỷ luật chung v.v… Cái hôm nay bị xem là lạc hậu thì hôm qua là tất yếu. Làm sao có thể có một biện pháp dùng cách đây 2500 năm bây giờ vẫn nguyên vẹn?
Cũng chính vì vậy, dù người ta chê bai Nho giáo đến đâu, người ta vẫn không cách nào phủ nhận giá trị những con người lỗi lạc về nhân cách, đạo đức, lối sống. Ngày nay, có cần những người cần, kiệm, liêm, chính nữa không? Có cần những người giàu sang không làm hư hỏng, uy vũ không thể khuất phục, nghèo hèn không thể lay chuyển nữa không? Nếu lấy lợi ích vật chất làm động cơ duy nhất, liệu Việt Nam có đi đến chủ nghĩa xã hội, một mình, được không? Phải chăng cứ xoá sạch quá khứ, xây dựng lại tất cả từ đầu là chỉ có thành công mà không bao giờ có sai sót? Hay là những cuộc cách mạng văn hoá chỉ có lợi cho tầng lớp quan liêu, và mở đường cho văn hoá tư bản chủ nghĩa khí nó lắm tiền của, phương tiện, có thể tấn công vào một miếng đất trống?
Tôi chỉ nói một chuyện nhỏ. Người Việt Nam xưa biết yêu cha mẹ, kính thầy, do đó mà biết tôn trọng Đảng. Chữ Hiếu tuy là cái gốc của đạo đức dân tộc bị gạt bỏ khỏi các sách giáo khoa. Khi giáo sư Nguyễn Lân thấy học sinh vô lễ có viết trên Tạp chí Văn hoá – Nghệ thuật số 31 (tháng 7 năm 1973) bài “Có nên vận dụng phương châm “Tiên học lễ, hậu học văn” trong việc giáo dục thế hệ trẻ của ta ngày nay không?” thì trên báo Tiền phong số 2351 ngày 16-8-1973, ông Thanh Bình viết bài “Quét sạch những tàn dư tệ hại của Khổng giáo”. Bài báo kết luận đanh thép vô cùng:
“Là thế hệ thanh niên của thời đại Hồ Chí Mih, chúng ta đang sống, chiến đấu, lao động và học tập vì độc lập, tự do của Tổ quốc và chủ nghĩa xã hội, chúng ta có trách nhiệm bảo vệ và phát huy những truyền thống quý báu của dân tộc ta (tức là truyền thống tiên học lễ hậu học văn của dân tộc là chẳng quý báu gì cả – P.N), bảo vệ sự trong sáng của chủ nghĩa Mác-Lê nin đầy sáng tạo. Chính vì thế mà chúng ta không thể dung hoà được với Khổng giáo cùng với hệ tư tưởng phản động và bảo thủ của nó. Vì sự nghiệp cách mạng, chúng ta kiên trì đấu tranh để quét sạch nó ra khỏi mọi lĩnh vực của đời sống xã hội như quét sạch những đống rác bẩn vậy”.
Thế rồi, khi tình trạng trẻ em phạm pháp, tệ tham ô, lãng phí, cuộc sống vô trách nhiệm với gia đình cơ quan, khi cái nhân cách con người bị giảm sút, người ta giải thích đó là do bốn nghìn năm phong kiến và tám mươi năm thực dân để lại. Nhưng bốn nghìn năm phong kiến gần hư không có chuyện này, và tám mươi năm thực dân cũng rất hiếm. Vậy nó từ đâu đến mà nhan nhản như vậy? Đây có phải là rác bẩn hay không? Nếu là rác bẩn thì có quét đi hay không?
5. Vì người ta đã lấy Hồ Chí Minh làm bình phong chứng minh tư tưởng Mác-Lênin không thể dung hoà được với Khổng giáo. Vậy tôi sẽ chứng minh sự dung hoà này ở Hồ Chí Minh.
Tôi đã đọc Toàn tập Hồ Chí Minh không thấy có một câu nào mạt sát Khổng tử, hay khẳng định rằng tư tưởng Marx không thể dung hoà với Nho giáo. Trái lại, năm 1929, Bác nói với nhà thơ Liên Xô Yosip Mandelstam: “Xét về căn bản thì đạo Khổng cũng thuyết giáo sự hoà mục trong xã hội”. Một nhà báo hỏi Bác: “Ngài theo chủ nghĩa cộng sản hay chủ nghĩa Tôn Dật Tiên?” Chủ tịch Hồ Chí Minh đáp:
“Học thuyết Khổng tử có cái hay là đạo đức con người. Học thuyết Giê-xu có cái hay là lòng nhân ái. Chủ nghĩa Mác có cái hay là phép biện chứng. Chủ nghĩa Tôn Dật Tiên có cái hay là thích hợp với điều kiện của nước chúng tôi.
“Khổng tử, Giê-xu, Mác, Tôn Dật Tiên, các vị ấy không có chỗ giống nhau sao? Các vị ấy đều muốn làm lợi cho xã hội. Nếu họ còn sống và ở gần nhau, tôi tin rằng các vị ấy sẽ chung sống với nhau thoải mái như những người bạn tốt.
“Tôi đã gắng làm người học trò nhỏ của các vị ấy. Tôi chính là tôi ngày trước, một người yêu nước”.
Nếu như trong toàn tập có câu dẫn của Khổng tử là gấp trên mười lần số câu dẫn của Marx và Lê nin, nếu như ngay giữa cách mạng văn hoá, Hồ Chí Minh yêu cầu đến thăm Khúc Phụ, nơi thờ Khổng tử và viết một bài thơ cảm khái thì căn cứ vào đâu để khẳng định Khổng giáo là hệ tư tưởng phản động? Trừ phi căn cứ vào Giang Thanh, Diêu Văn Nguyên. Nhưng làm sao có thể chứng minh đó là chủ nghĩa Marx-Lê nin đầy sáng tạo được?
Tôi xin lỗi bàn hơi dài về một nhận xét, không phải vì thành kiến mà vì đó là quan điểm chung của một giai đoạn lịch sử kéo dài 40 năm (1945-1985).
Tôi sẽ không bàn đến quan hệ giữa Bác với Khổng tử. Tôi sẽ bàn đến một điểm quan trọng hơn. Nhờ hiểu sâu chủ nghĩa Marx, Bác là người đầu tiên tách được từ Khổng giáo cái phần nhận thức luận hết sức có giá trị của nó, điều mà ở Việt Nam chưa ai làm được và tôi cũng chưa thấy ai ngoài Bác làm được.
Học thuyết Khổng giáo là xuất phát từ cái bất biến trong các quan hệ giữa người với người. Đã là người, thế nào cũng có cha mẹ, do đó chữ Hiếu, thế nào cũng có anh em, do đó có chữ Đễ, thế nào cũng có bạn bè, do đó có chữ Tín, thế nào cũng có trên, có dưới, do đó có chữ Nghĩa. Các quan hệ này thế nào cũng phải mang một hình thức đẹp để đem đến sự hài hoà, do đó có Lễ. Khi đạt đến trình độ cao nhất của hiếu, đễ… lễ làm cho xã hội hài hoà người ta đạt đến chữNhân. Nhưng có một điểm mà đời sau bỏ quên, đó là Hiếu, Đễ, Tín, Lễ, Nghĩa, Nhân đều không phải là những khái niệm cố định kiểu châu Âu, mà phải phù hợp với hoàn cảnh xã hội, tình huống cụ thể tức là đúng với nghĩa của chữ Thời. Ngay cả một giai đoạn lịch sử cá biệt, là giai đoạn Khổng tử sống, những câu trả lời của Khổng tử về hiếu, lễ, nhân… là hết sức khác nhau đối với từ người hỏi, còn nói gì đến thời đại này, thời đại của sức mạnh nguyên tử, của tin học và của sự hoà hợp toàn nhân loại. Mạnh tử đã hiểu điều này khi nói Khổng tử là “ông thánh của chữ thời”, và đối với ông không có cái gì là tuyệt đối “có thể làm và không thể làm”. Để hiểu chữ thời phải có chữ trí. Nhưng chữ trí này không hề có tính chất cơ hội mà xuất phát từ một nguyên lý bất biến. Bác nói:
“Triết lý đạo Khổng và triết lý phương Tây đều tán dương một nguyên tắc đạo đức: “Kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân”. Điều mà mình không muốn thì đừng làm với người khác. Triết lý phương Tây quả đã có một câu đúng từng chữ trong triết lý đạo Khổng. “Ne fais à autrui ce que tu ne voudrais pas qúon te fit”.
Cơ sở của cái bất biến trong các quan hệ giữa người với người là những tình cảm chung và những nhu cầu bất biến. Bác nói đến văn hoá mới, mọi người Mác-xít đều nói đến cái mới của đạo đức vô sản, tính giai cấp. Còn Bác nói đến những nhu cầu bất biến. Tức là xuất phát từ nhận thức luận của Khổng tử: “Hằng ngày ta phải ăn cơm, uống nước, thở khí trời để mà sống. Những điều đó, ngày xưa cha ông ta phải làm, bây giờ chúng ta phải làm, con cháu ta sau này cũng phải làm, vậy ăn cơm, uống nước và thở khí trời để đem lại cuộc sống cho con người thì đó là những điều không khi nào trở thành cũ cả. “Cần, Kiệm, Liêm, Chính, Chí công, Vô tư đối với đời sống mới cũng vậy…”.
Nguyễn Trãi cũng nói như vậy: “Nhân, nghĩa làm gì có xưa nay?”. Cái thuyết con người chỉ có tính giai cấp, không có tính người có thể được chấp nhận là của Hồ Chí Minh không, dù cho nó đã được một số người khẳng định?
Ai cũng vậy Marx không quan tâm đến đạo đức, mà chỉ xét đến lợi ích vật chất. Còn Khổng tử lấy tu thân làm nền tảng. Bác cũng lấy tu thân làm nền tảng:
“Cách mạng tiên cách tâm,
“Cải tạo xã hội tiên cải tạo tự kỷ,
“Tiên chi dĩ tự kỷ tu thân,
“Kế chi dĩ giáo hoá bộ thuộc,
“Kế chi dĩ cảm ứng dân chúng…
Rõ ràng ngay cả về ngôn từ đây là nhận thức luận của Khổng tử.
Khổng tử và Hồ Chí Minh chủ trương nhân nghĩa, đức trị.
“Bất dụng uy quyền, chỉ dụng nhân”.
“Nhân dân ta từ lâu đã sống với nhau có tình có nghĩa. Từ khi Đảng ta lãnh đạo và giáo dục, tình nghĩa ấy càng cao đẹp hơn, trở thành tình nghĩa đồng bào, đồng chí, tình nghĩa năm châu bốn biển một nhà. Biết chủ nghĩa Mác-Lê nin là phải sống với nhau có tình có nghĩa. Nếu thuộc bao nhiêu sách mà sống với nhau không có tình có nghĩa, thì sao gọi là hiểu chủ nghĩa Mác-Lê nin”.
Cách hiểu chủ nghĩa Mác-Lê nin như thế này thực tình không thấy ở châu Âu.
“Trừ bọn Việt gian bán nước, trừ bọn phát-xít thực dân là những ác quỷ mà ta phải kiên quyết đánh đổ, đối với tất cả những người khác thì phải yêu quý, kinh trọng giúp đỡ, phải thực hành Bác ái”.
Khổng giáo là một học thuyết không bàn đến chuyện vô thần hay hữu thần, không căn cứ vào tín ngưỡng tôn giáo để đánh giá con người, chỉ cốt anh ứng xử đúng với yêu cầu xã hội, đất nước đặt ra là đủ. Một người vô thần mà bất nhân, bất nghĩa, bất hiếu, tham ô, thì cái vô thần mà anh khoe khoang kia quý báu ở chỗ nào? Ngày lễ Phật rằm tháng Bảy, Bác viết thư cho các Phật tử Việt Nam:
“Đức Phật là đại từ bi, cứu khổ cứu nạn. Muốn cứu chúng sinh ra khỏi khổ nạn, Người phải hy sinh tranh đấu diệt lũ ác ma.
“Nay đồng bào ta đại đoàn kết, hy sinh của cải xương máu kháng chiến đến cùng, để đánh tan thực dân phản động, để cứu quốc dân ra khỏi khổ nạn, để giữ quyền thống nhất và độc lập của Tổ quốc. Thế là chúng ta làm theo dòng đại từ đại bi của Đức Phật Thích Ca, kháng chiến để đưa giống nòi ra khỏi cái khổ ải nô lệ… Tôi cảm ơn đồng bào”.
Bác và Khổng tử không chủ trương có thể xây dựng xã hội lý tưởng, không có giai cấp, nghèo nàn, áp bức, hoàn toàn bình đẳng ngay lập tức, dựa trên bạo lực chính trị. Hai người đều không lãng mạn, mà thiết thực. Bản di chúc viết: “Đánh thắng giặc Mỹ rồi, thì những việc chính của Cách mạng là giải quyết ngày càng tốt hơn các vấn đề ăn, mặc, ở, đi lại, học hành, phòng và chữa bệnh… Tóm lại là không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân”.
Là người thức nhận, điều tôi thấy rõ ở Bác là Bác chỉ nêu lên những lập luận liên quan đến mặt nhận thức của Khổng tử, mà không dẫn ra câu nào liên quan đến những cách ứng xử cụ thể. Những câu ấy nói chung là rất ngớ ngẩn, bảo thủ, thậm chí phản động, nếu xét theo quan điểm hiện đại. Ai muốn đả phá đạo Khổng cũng đều tránh mặt nhận thức luận mà đưa ra những câu ứng xử cụ thể. Còn những người dù thừa nhận những lời đả kích là đúng vẫn cứ theo Khổng giáo (Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Phan Bội Châu…) là vì họ vẫn cảm thấy trong Khổng giáo có một cái gì rất giá trị, tạo nên chính nhân cách của họ.
Nhưng nếu ta xét Khổng giáo từ trong ra, tức là lý do tại sao có những câu như thế, những lý do chính trị, xã hội của một hoàn cảnh cá biệt, của một con người cá biệt (Khổng tử, Nhan Hồi…) thì sẽ thấy tất cả đều xuất phát từ nhận thức luận. Lý do đó là chữ “thời” biểu hiện qua bốn trục:
Trục 1: Làm thế không chết, ở vào cái thời mà chế độ quan lại ăn bám thực sự là chủ của đất nước. Hay dù có chết, phải là một tấm gương giáo dục được hậu thế, chứ không phải uổng phí một đời.
Trục 2: Có ích thực sự cho xã hội vì đạo Nho là đạo “dấn thân”.
Trục 3: Bảo vệ được nhân cách mình, vì Nho giáo chủ trương dùng nhân cách mình để nêu gương tốt cho xã hội.
Trục 4: Phù hợp cụ thể với hoàn cảnh, con người đơn nhất.
Nếu không làm thế thì không tài nào bác lại được lời phê phán khắc nghiệt này của Hégel đối với Khổng tử trong quyển Những bài giảng về triết học. “Khổng tử chẳng qua là một con người khôn ngoan của thế tục thực tiễn. Trong những ý kiến của ông chẳng có lấy một giọt triết học tư biện nào mà chỉ có những thứ học thuyết đạo lý tinh vi, song chúng ta chẳng học được gì đặc biệt ở đây cả”.
Điều tôi trình bày trên đây không phải là mượn Hồ Chí Minh để đề cao Khổng giáo. Tôi chỉ muốn để sự khúc xạ tức là cái liên quna tới tiếp xúc văn hoá giữa Việt Nam và phương Tây. Đây là độ khúc xạ cho phép chủ nghĩa Marx-Lê nin sẽ còn chiến thắng trên giải chữ S như nó đã chiến thắng. Đây là bảo vệ tính trong sáng của chủ nghĩa Marx-Lê nin đầy sáng tạo. Những chữ truyền thống dân tộc, sự trong sáng của chủ nghĩa Marx-Lê nin đã từng được nêu lên như những câu thần chú. Là người thực chứng luận, tôi tìm quan hệ và thao tác.
Những thao tác Bác đã làm đối với chủ nghĩa Marx-Lê nin cũng là những thao tác Nguyễn Trãi đã nêu lên trong cuộc chiến tranh cứu nước (1418-1428) chống quân Minh, cách đây trên năm trăm năm và làm thành truyền thống dân tộc.
Một là chiến lược đoàn kết toàn dân vì quyền lợi của “bốn phương manh lệ”.
Hai là chính sách đại nghĩa, chí nhân.
Ba là “tâm công”, đánh vào ý chí xâm lược của địch.
Bốn là phân hoá triệt để đối phương đến mức lôi kéo được một bộ phận trước kia của địch về làm cho mình.
Năm là tiến hành đánh kết hợp với đàm và đàm trên những nguyên lý văn hoá chung cho cả hai bên.
Sáu là giữ chữ tín trong mọi trường hợp, nhất là đối với tù binh.
Bảy là hết sức khiêm tốn đối với một đối phương mạnh hơn mình nhiều lần, trải chiếu hoa cho địch về.
Tám là “Giữ hoà hiếu giữa hai nước, tắt muôn đời chiến tranh”, chấm dứt một cuộc kháng chiến bất đắc dĩ.
Đó là đối với địch. Còn đối với mình thì:
Sống giản dị, khiêm tốn, tránh xa hoa, lãng phí, lo trước sướng sau.
Sống cuộc sống suốt đời không một ngày tha hoá.
Không chạy theo quyền lực, cũng không cho phép giàu sang, quyền lực ảnh hưởng đến mình.
Về điểm này, tôi có viết một công trình “Hồ Chí Minh là ai!”.
6. Tóm lại, trong sự tiếp thu tư tưởng từ ngoài vào, Việt Nam không bỏ mất bản sắc văn hoá của mình, do đó các tư tưởng dù là Khổng giáo, tư tưởng tư sản Pháp, tư tưởng vô sản đều trải qua một độ khúc xạ. Không phải ngay lập tức Việt Nam đã tìm được độ khúc xạ đúng. Nhưng cuối cùng đã tìm được. Và khi tìm được thì đạp bằng mọi trở lực, phá công lệ. Vĩ đại thay đất nước ấy, Việt Nam.

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét