Hiển thị các bài đăng có nhãn Việt Nam Cộng hòa. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Việt Nam Cộng hòa. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 26 tháng 1, 2012

Hội nghị nghiên cứu lịch sử bàn về trải nghiệm của Mỹ tại Đông Nam Á


Hội nghị nghiên cứu lịch sử bàn về

trải nghiệm của Mỹ tại Đông Nam Á

Hillary Rodham Clinton
Ngoại trưởng
Khán phòng phía Đông, Trung tâm Hội nghị George C. Marshall
Washington, DC
Ngày 29 – 9 – 2010
Cám ơn rất nhiều, thưa ngài Đại sứ, và đây là niềm vui to lớn cũng như đặc ân dành cho tôi để chào đón tất cả mọi người tới Bộ Ngoại giao. Tôi biết trong khán phòng này, chúng ta có các học giả, sử gia, nhà ngoại giao và những người với hiểu biết cá nhân sâu rộng cũng như kinh nghiệm về vấn đề quan trọng sẽ được thảo luận trong suốt hôm nay. Rất nhiều sự kiện đã được thực hiện tại bộ Ngoại giao và tiếp tục được thực hiện mỗi ngày. Và một số người đang làm việc ở đây, những người từng làm việc ở đây trước kia biết rằng điều đó thật tuyệt.
Tôi muốn, với tư cách cá nhân, hoan nghênh Ngoại trưởng Henry Kissinger trở lại Bộ Ngoại giao, Đại sứ Richard Holbrooke, Trợ lý ngoại trưởng Kurt Campbell, và tất cả cộng sự của tôi, những người tham dự vào đề tài nghiên cứu về ngoại giao của thế kỷ 21.  Tôi cũng muốn đưa ra lời đón chào đặc biệt tới các vị khách của chúng ta đến từ Cộng hòa Việt Nam (*): Đại sứ Trần Văn Tùng và TS Nguyễn Mạnh Hà (**). Cám ơn tất cả mọi người đã có mặt và tham dự cuộc đối thoại quan trọng này. Tôi thấy có cựu thứ trưởng John Negroponte. Cám ơn ông đã có mặt tại đây.
Tôi muốn ghi nhận tất cả công việc khó khăn của các sử gia tại đây, những người đã hoàn thành một bộ tài liệu thấu đáo về chính sách của Mỹ với Đông Nam Á từ 1946 – 1975. Họ đã biên soạn hơn 24.000 trang tài liệu chính thức, hàng nghìn bức thư tín, bản ghi nhớ, báo cáo tình báo, đánh giá quân sự, các ghi chép họp hành, điện đàm giữa các nhà hoạch định chính sách. Ít nhất, họ không phải lướt qua hàng triệu email (cười). Tôi e là chúng ta phải tăng kích cỡ Văn phòng Lịch sử lên bốn lần cho các đánh giá tương lai (cười). Bộ sưu tập này sẽ là một nguồn cho sinh viên và các học giả, cho các gia đình và công dân hai nước chúng ta, những người vẫn quan tâm sâu sắc tới đề tài lịch sử chung này của chúng ta.
Với người Mỹ thế hệ của chúng tôi, chiến tranh tại Việt Nam đã định hình cách mà chúng ta nhìn nhận về thế giới và đất nước chúng ta. Giống như mọi người trong những ngày ấy, tôi có bạn bè tham gia quân ngũ – những người bạn trai trong quân ngũ – đã bị gọi đi quân dịch, chống lại hay trở thành những người từ chối nhập ngũ vì nghĩ rằng điều này trái với đạo lý; rất nhiều cuộc trò chuyện dài, buồn bã, đau khổ. Và tới lúc này, những bài học của kỷ nguyên ấy vẫn tiếp tục thấm vào những quyết định mà chúng ta đưa ra. Và với người Việt Nam cùng thế hệ, những người thấy đất nước họ tan hoang vì chiến tranh, và những người cùng chung sự thống khổ, mất mát người thân, bạn bè, gia đình giống như rất nhiều người Mỹ phải chịu đựng, những ký ức vẫn còn sống động và với rất nhiều người, vẫn đau đớn.
Con người không dễ dàng rũ bỏ sức nặng của lịch sử. Ở tất cả các nơi trên thế giới, chúng ta nhìn thấy di sản chua xót của những cuộc xung đột, thù hằn cũ. Đây là một nguồn trong rất nhiều thách thức dai dẳng nhất của chúng ta. Tôi thấy nó mỗi ngày khi tôi làm việc với các chính phủ về những xung đột rất nặng nề thậm chí khó có thể hình dung ra cách giải quyết vì quá trình lịch sử của những mối hoài nghi được tích tụ lại, của bạo lực đã đi cùng con người theo thời gian. Nhưng thật đáng chú ý là, người Mỹ và người Việt Nam đã quyết định để lại phía sau lịch sử mà họ không thể nào thay đổi, hướng tới một tương lai mà chúng ta có thể cùng nhau định hình.
Gần đây tôi đã đến Hà Nội. Tôi sẽ trở lại Hà Nội vào cuối tháng tới. Chuyến thăm đầu tiên của tôi 10 năm trước đây cùng với chồng tôi lúc ông ấy làm tổng thống, thật vô cùng xúc động. Chúng tôi đã gặp những người đồng nhiệm khi đó trong Chính phủ Việt Nam. Chúng tôi đã đi dạo trên các con đường ở nhiều thành phố. Có hình ảnh của chúng tôi trong rất nhiều cửa hàng ở Hà Nội,  nơi chúng tôi đã góp phần đáng kể vào nền kinh tế (cười).
Nhưng trải nghiệm xúc động nhất là chuyến đi tới một địa điểm nơi các nhà khảo cổ học Việt Nam và Mỹ cùng với binh lính Mỹ và Việt Nam, cùng nhau tìm kiếm hài cốt một phi công Mỹ mất tích, trong một vụ rơi máy bay cách đây 33 năm, đó là Trung tá Lawrence Evert. Bill và tôi đứng đó quan sát họ làm việc cùng với những người con của Trung tá Evert, giờ đây đã trưởng thành bên cạnh chúng ta. Chúng tôi thấy các công nhân cẩn thận chọn lựa bùn đất, đầu gối ngập sâu, họ tỉ mỉ đào từng mảnh vỡ chiếc máy bay chiến đấu F-105 của Trung tá Evert và từng mảnh vụn của bộ quân phục của ông. Đây là một địa điểm thiêng liêng và cả hai bên cùng tham gia công việc ấy. Chính phủ Việt Nam đã gửi các kỹ sư trợ giúp, dân làng thì đưa ra các dụng cụ và thông tin, cuối cùng, những người con của Evert đã có thể đưa cha về nhà.
Trong chuyến đi tới Hà Nội vừa qua, tôi đứng trên đường băng của sân bay khi quân đội tiến hành thủ tục đưa hài cốt người Mỹ mất tích tại Việt Nam trở về, và tôi một lần nữa lại chìm trong cảm xúc trang nghiêm bởi sự long trọng và thiêng liêng của công việc này. Cơm ơn sự hợp tác chưa từng thấy giữa các chính phủ và người dân của chúng ta, cũng như những nỗ lực không mệt mỏi của nhiều vị lãnh đạo như Thượng nghị sĩ John McCain, Thượng nghị sĩ John Kerry, và cựu đại sứ Pete Peterson, rất nhiều gia đình như nhà Evert, ở cả hai nước, đã có thể tìm kiếm được một số giải pháp hòa bình.
Hình ảnh cuộc đào bới 10 năm trước đây vẫn còn lại trong tôi. Người Mỹ và người Việt Nam chân ngập trong bùn, cùng nhau tìm kiếm các dấu vết của một quá khứ chia sẻ và đau thương, không phải vì họ muốn làm sống lại nó hay mở ra những vết thương cũ, mà vì chúng ta cùng nhau công nhận rằng, chúng ta phải đối mặt với quá khứ nếu chúng ta muốn tạo ra hòa bình với nó.
Và đó là lịch sử, công việc của các bạn, của hội nghị này và rất nhiều cuốn sách đã xuất bản, là tất cả những gì liên quan tới. Các sử gia đang đào bới, khai quật, chọn lọc và gắng sức, giúp chúng ta biết lịch sử đầy đủ hơn để chúng ta có thể để lại quá khứ phía sau và cùng nhau tiến về phía trước.
Những tiến triển giữa Việt Nam và Mỹ rất ngoạn mục. Khi tôi ở Hà Nội nhân dịp kỷ niệm 15 năm bình thường hóa quan hệ, tôi đã phát biểu với một nhóm lớn doanh nghiệp Mỹ và Việt Nam đang làm việc cùng nhau. Thỏa thuận thương mại của chúng ta đã tạo ra việc làm và thúc đẩy tăng trưởng của cả hai bên bờ Thái Bình Dương. Tình hữu nghị của chúng ta đã trở thành nơi neo đậu của an ninh và ổn định trong khu vực. Và cả một thế hệ trẻ lớn lên đang hiểu rằng chỉ có hòa bình tồn tại giữa Việt Nam và Mỹ, và mối quan hệ họ đang tạo dựng thông qua trao đổi giáo dục, văn hóa, qua mạng lưới kinh doanh và xã hội mới đang đưa chúng ta đến gần nhau hơn.
Việt Nam là quê hương của một nền văn minh cổ xưa và huy hoàng. Năm nay, Hà Nội sẽ kỷ niệm tròn 1.000 tuổi. Nhưng Việt Nam vẫn là một quốc gia năng động, đang tăng trưởng với dân số trẻ, đầy sức sống. Tôi gặp khá nhiều bạn trẻ đang làm việc ở trung tâm hội nghị, các bạn trẻ Việt Nam đã hỏi tôi về việc có thể có nhiều cuộc trao đổi về giáo dục, học thuật, tăng cường hợp tác hơn nữa giữa thanh niên hai nước. Tôi nghĩ, cơ hội to lớn vẫn ở phía trước trong những gì chúng ta có thể làm cùng nhau khi quan hệ của chúng ta thêm sâu sắc, rộng mở. Và tôi tin tưởng rằng, 15 năm tới sẽ đưa Mỹ và Việt Nam cùng xích lại gần nhau hơn.
Tôi cũng hy vọng rằng, những cam kết của chúng ta hướng tới một tương lai chung, bất chấp lịch sử chung của chúng ta có thể được sử dụng như nguồn cảm hứng hay thâm chí là một mô hình với những nước khác; vì có rất nhiều quốc gia đang ngập ngừng khi họ không thể vượt qua quá khứ của mình, những người từ chối tìm kiếm nền tảng chung vì nền tảng sau họ đầy rẫy những thi thể và máu đổ của các thế hệ trước. Trong thế giới ngày nay, cấp bách hơn cả là chúng ta nên tìm cách chấm dứt xung đột, tìm ra những cách thức có thể kết nối dựa trên nhân tính chung của chúng ta. Chúng ta sẽ không nhất trí về mọi thứ, chúng ta sẽ có các chế độ chính trị khác nhau.Nhưng chúng ta phải hướng tới một con đường để tìm ra nền tảng chung và để cùng làm việc hướng tới khát vọng chung mà thực hiện tiềm năng vì hòa bình, tiến bộ và thịnh vượng.
Vì vậy, tôi cảm ơn mọi người có mặt ở đây để tham dự hội nghị này. Tôi mong muốn được nghe báo cáo của các sự kiện trong ngày. Tôi đã lưu ý đến chương trình. Nó khá mang tính quốc tế. Chúng ta có các chuyên gia không chỉ đến từ Việt Nam và Mỹ, mà đến từ các trường đại học trên thế giới. Và chúng tôi đánh giá rất cao các nỗ lực của tất cả mọi người dẫn đầu là các sử gia của chúng ta ở đây tại Bộ Ngoại giao, không chỉ đưa ra ở hội nghị này, mà còn giúp chúng ta chấp thuận với lịch sử của chính chúng ta.
Cám ơn tất cả (vỗ tay).
Người dịch: Nguyễn Hùng

Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2010

—
* VNDCCH? Có lẽ có sự nhầm lẫn của bà Clinton?
Bài đã được đưa lên trang Ba Sàm từ 1/10/2010, nhưng do bị tin tặc phá, xóa mất, nay đưa lên lại.

Thứ Tư, 18 tháng 1, 2012

Vào lúc kết thúc cuộc Chiến tranh, tàu của Hải quân Mỹ đã cứu Hải quân Nam Việt Nam


Vào lúc kết thúc cuộc Chiến tranh, tàu của

Hải quân Mỹ đã cứu Hải quân Nam Việt Nam

Joseph Shapiro và Sandra Bartlett
Ngày 01 tháng 9 năm 2010
Phần cuối của bài gồm ba phần
Tàu của Nam Việt Nam theo sau chiếc USS Kirk tới Vịnh Subic,  Philippines. Nhiệm vụ cuối cùng của chiếc Kirk vào thời điểm kết thúc cuộc  Chiến tranh Việt Nam là  đưa số còn lại của hải quân miền Nam tới Philippines một cách an toàn
Ngày 30 tháng 4, năm 1975, quân đội Bắc Việt tiến vào các đường phố vắng vẻ của Sài Gòn. Những chiếc xe tăng đã phá toang cánh cổng vào dinh tổng thống và những người lính đã kéo lên lá cờ hai màu vàng và đỏ của Việt cộng.
Chỉ vài giờ trước, những người Mỹ cuối cùng đã được sơ tán, được giải cứu và bay đi trên những chiếc trực thăng tới tàu sân bay của Hải quân Mỹ đang chờ ngoài khơi.
Chiến tranh Việt Nam đã chính thức kết thúc. Lúc này những con tàu của Hải quân đã nhổ neo rời khỏi Việt Nam.
Nhưng có một ngoại lệ. Đêm đó, thuyền trưởng của một tàu khu trục hộ tống cỡ nhỏ, tàu USS Kirk, đã nhận một mệnh lệnh bí ẩn để quay đầu trở lại Việt Nam.
Hải quân Nam Việt Nam: “Chúng tôi đã quên ‘họ’ “
Chiếc Kirk đến Đảo Côn Sơn, ngoài bờ biển nam Việt Nam, vào ngày 1-5-1975. Tại đó, nó đã gặp 30 chiếc tàu của hải quân Nam Việt Nam và hàng chục tàu cá, tàu vận tải và tới  30,000 người tị nạn Việt Nam.

Paul Jacobs, vị thuyền trưởng, đã nhận được chỉ thị từ Đô đốc Donald Whitmire, chỉ huy của sứ mệnh di tản-có tên là Operation Frequent Wind. Ông được lên tàu USS Blue Ridge, con tàu chỉ huy của Hạm đội 7 Hải quân.
Jacobs nhớ lại bức diện tín gây ngạc nhiên của Whitmire: “Ông ấy nói: ’Chúng tôi sẽ phải phái anh trở lại để giải cứu hải quân Việt Nam. Chúng ta đã quên mất họ. Và nếu chúng ta không đưa được họ hoặc bất cứ thành phần nào trong họ đi, thì có thể tất cả họ sẽ bị giết.’ “
Chiếc Kirk đã được phái đến một hòn đảo cách xa đất liền của Việt Nam. Và có một điều kỳ lạ hơn, là viên đô đốc đã nói với Jacobs: ông ấy muốn được nhận các lệnh từ một nhân viên dân sự.
Richard Armitage đã lên chiếc Kirk vào đêm muộn, ông mặc một chiếc áo khoác thể thao mượn của ai đó. Nhiều năm sau, Armitage đã trở thành nhân vật thứ hai dưới quyền chỉ huy của Colin Powell trong Bộ Ngoại giao của chính quyền Bush. Nhưng ngày cuối cùng của tháng 4 năm 1975, ông được giao một nhiệm vụ đặc biệt từ bộ trưởng quốc phòng. Ông mới hơn 30 tuổi vào cái tuần đó.
Armitage nhớ lại việc mình lên chiếc tàu đó và nhanh chóng được hộ tống tới chỗ nhóm các sĩ quan, nơi ông đã gặp gỡ Jacobs và Thiếu tướng Hải quân Donald Roane, chỉ huy đội tàu nhỏ của những chiếc khu trục hạm Hải quân.
“Thiếu tướng Roane nói đại để là, ‘anh bạn trẻ, tôi không quen việc có những chuyên viên dân sự xa lạ lên tàu của tôi vào lúc nửa đêm và đưa ra cho tôi những mệnh lệnh’ “, Armitage nhớ lại. “Tôi nói, ‘thưa ông, tôi cũng chưa quen việc leo lên những chiếc tàu lạ vào giữa đêm khuya và đưa ra những mệnh lệnh cho ông. Thế nhưng hãy nhổ neo hướng tới Côn Sơn..’ Và thế là họ đã tuân theo.”
Kế hoạch bí mật giải cứu không chỉ những con tàu
Chiếc Kirk cùng thủy thủ đoàn khoảng 260 sĩ quan của nó và người đàn ông đã được lệnh tới đảo Côn Sơn, cách bờ biển Nam Việt Nam khoảng 50 dặm và chưa bị người Bắc Việt chiếm đóng. Côn Sơn là một nhà tù khét tiếng. Lúc này, bến cảng của nó là nơi ẩn náu cho số tàn quân còn lại của hải quân Nam Việt Nam.
Armitage đã đưa ra kế hoạch cho họ tập hợp ở đó.
Armitage, tốt nghiệp trường Annapolis, từng là một sĩ quan tình báo Hải quân, được bổ nhiệm vào hoạt động trong các đơn vị Việt Nam. Ông đã giành được sự tôn trọng đối với người Việt Nam trong thời gian làm việc cùng với họ và trở nên thông thạo tiếng [Việt]. Sau đó ông từ chức và rời khỏi Hải quân để phản đối khi chính quyền Nixon ký hiệp định hoà bình Paris. Thỏa thuận năm 1973 đó giữa tất cả các bên tham chiến tại Việt Nam đã chấm dứt sự dính líu trực tiếp của Hoa Kỳ vào cuộc chiến này. Armitage cảm thấy Mỹ đã bán đứng miền Nam Việt Nam.
Nhưng khi vấn đề trở nên rõ ràng rằng chính phủ miền Nam Việt Nam đã gần như sụp đổ, một quan chức Lầu Năm Góc đã yêu cầu Armitage bay về Việt Nam với một sứ mệnh nguy hiểm. Nhiệm vụ của ông là: loại bỏ hoặc phá hủy các con tàu và công nghệ hải quân  để chúng không rơi vào tay những người Cộng sản.
Một vài tuần trước khi Sài Gòn thất thủ, Armitage đã có mặt tại văn phòng của một người bạn cũ, Đại tá Đỗ Kiểm, Chỉ huy phó toán hải quân Nam Việt Nam. Họ cùng nhau đặt ra kế hoạch bí mật giải cứu các con tàu của Việt Nam khi chính phủ Nam Việt Nam đầu hàng, bởi vì điều này đang ngày càng rõ hơn là sẽ xảy ra.
Đỗ Kiểm nhớ lại lời nhắc nhở Armitage rằng họ muốn cứu được nhiều hơn là những con tàu.
“Tôi đã nói với anh ta, tôi đã nói, ‘Vâng, thủy thủ đoàn của chúng tôi sẽ không rời khỏi Sài Gòn mà không có gia đình của họ, bởi vậy  sẽ có rất nhiều người dân,’” ông Kiểm nhớ lại.
Ông cho biết là Armitage vẫn giữ im lặng. “Anh ta không nói là đồng ý; cũng không nói là không. Vì vậy, tôi tức khắc coi nó như là sự chấp thuận.” Ông kể.
Armitage đã không nói cho các sếp của mình ở Lầu Năm Góc biết là sẽ có những người tị nạn trên tàu. Ông lo sợ chính quyền Mỹ sẽ không muốn có họ.
Tuy nhiên, cả Armitage lẫn Đỗ Kiểm đều không thể dự đoán được có bao nhiêu người tị nạn sẽ xuất hiện ở Côn Sơn.
Hỗn loạn trên đảo Côn Sơn
Năm 1975, Richard Armitage là một chuyên viên dân sự 30 tuổi được giao nhiệm vụ với một sứ mệnh nguy hiểm: tháo rời và phá hủy những con tàu và công nghệ của hải quân Nam Việt Nam để chúng khỏi rời vào tay những người Cộng sản. Sau đó, Armitage đã phục vụ trong vai trò thứ trưởng ngoại giao từ năm 2001 tới 2005, dưới thời Ngoại trưởng Colin Powell trong chính quyền George W. Bush.
Chiếc Kirk chạy suốt đêm để tới Côn Sơn và đến đảo khi mặt trời mới mọc vào ngày 1 Tháng 5. Có 30 chiếc tàu hải quân Nam Việt Nam, và hàng chục tàu thuyền đánh cá và tàu hàng. Tất cả đều đầy ứ những người tị nạn đang tuyệt vọng để có được cách nào ra khỏi Việt Nam.
Các con tàu “đã được nhồi nhét đầy những người dân”, ông Kent Chipman, người mà vào năm 1975 là một phụ máy 21 tuổi trong phòng máy và ngày hôm nay làm việc tại một  nhà máy lọc nước tại Texas. “Tôi không thể nhìn thấy bên dưới sàn tàu, nhưng ở trên boong tàu thì mọi người đã bị nêm chặt sát sạt vào nhau tới mức có thể.”
Không có con số chính xác là bao nhiêu người trên các con tàu đó. Một số ghi chép lịch sử cho rằng đã có 20.000 người. Các hồ sơ khác cho rằng có tới 30.000. Jan Herman, một nhà sử học thuộc Ban Y tế Hải quân Mỹ, người đang ghi lại câu chuyện của Kirk, thì sử dụng con số cao hơn.
Các kỹ sư của Kirk được phái đến một số các tàu thuyền để giúp chạy máy.
“Chúng han rỉ, xấu xí, bầm dập”, ông Chipman kể. “Một số tàu trong đó thậm chí không chạy nổi; chúng phải kéo nhau. Và một số trong đó thực sự đã được lôi đi trên mặt nước và chúng tôi đã đưa chúng đi được và có được chúng theo cái cách có thể vận hành được.”
Một tàu chở hàng quá nặng nên bị chìm. Người dưới sàn tàu đã phải dùng giày để tát nước ra.
Stephen Burwinkel, lính cứu thương của chiếc Kirk – trong Hải quân có vai trò như một y tá quân y viện – đã lên con tàu đó để khám cho các bệnh nhân và người bị thương. Ông đã trông thấy một đại úy hải quân Việt Nam đang giúp hành khách rời khỏi con tàu chìm chuyển sang con tàu khác, trên một tấm ván gỗ nhỏ. Khi mọi người xô đẩy nhau để thoát khỏi con tàu đang chìm dần, thì một người đàn ông đã đánh một phụ nữ bỗng dừng lại  trước mặt anh ta. Cô này đã rơi khỏi tấm ván và chìm xuống biển.
Người phụ nữ này nhanh chóng được cứu sống. Nhưng Burwinkel lo là những người khác trên tàu sẽ hoảng sợ. Ông ra lệnh cho viên đại úy hành động nhanh chóng.
“Viên đại úy Việt Nam này không chần chừ, ông đã tức khắc tiến tới phía sau người đàn ông, rút súng ra và chĩa vào đầu bắn ông này chết ngay, rồi đá cái xác qua một bên. Mọi cảnh hỗn loạn tại đây đã chấm dứt ngay từ khi đó,” Burwinkel nhớ lại . Phát đạn gây sốc, ông nói, nhưng nó rất phù hợp để ngăn chặn một cuộc náo loạn.
Chạy về hướng Philippines
Sau khi sửa chữa những gì có thể sửa được trên các con tàu có thể chịu được sóng gió và chuyển những người trên các tàu phải bỏ lại, chiếc Kirk dẫn đầu đội tàu nhỏ của hải quân, các thuyền đánh cá và tàu vận chuyển hàng hóa chạy về phía Philippines.
Chiếc USS Cook, một tàu khu trục hộ tống, tựa như chiếc Kirk, đã giúp các tàu thuyền rời khỏi Côn Sơn. Thủy thủ đoàn của chiếc Cook đã cung cấp gạo, và đưa y tá của mình qua giúp Burwinkel và trợ lý của ông trên chiếc Kirk chăm sóc các bệnh nhân và người bị thương nữa.
Khi đội tàu hướng ra biển, trên đường đến Philipines, các tàu Hải quân khác đã tham gia vào và rời khỏi cuộc hộ tống, theo Herman cho biết. Trong số những con tàu đó có USS Mobile, USS Tuscaloosa, USS Barbour County, USS Deliver và USS Abnaki.
Nhưng rõ ràng qua các máy đo tốc độ hàng ngày trên chiếc Kirk và các tàu khác thì thủy thủ đoàn của chiếc Kirk đã đóng vai trò dẫn đường.
“Đối với tôi, Kirk là lý tưởng”, ông Armitage, người đã chuyển từ chiếc Kirk sang chiếc tàu đô đốc của hải quân Việt Nam, cho biết. “Nó có thể liên lạc với phần còn lại của hạm đội Mỹ. Họ cùng chúng tôi qua tới Philippines và có khả năng cứu bất cứ người nào có thể đang gặp nguy hiểm. Một số người đã bị thương. Một số đang có thai. Tất cả đều bị bệnh sau một thời gian. Và chúng ta cần có cách để chăm sóc những người này.”
Các thủy thủ của Kirk bận rộn cung cấp thực phẩm, nước và thuốc uống cho những người trên các con tàu của Nam Việt Nam.
Burwinkel đã dành thời gian di chuyển từ tàu này samg tàu khác để điều trị cho các bệnh nhân và người bị thương. Với hàng ngàn người – đa số là trẻ sơ sinh và trẻ em – ông đã làm việc gần như không nghỉ.
“Khi người ta trao cho tôi tấm mề đay tưởng thưởng cho tất cả thành tích này, tôi khá thẳng thắn mà gọi nó là tấm mề đay ‘không ngủ’ của tôi,” đó là lời ông Burwinkel, người đã có một sự nghiệp trong lực lượng Hải quân và hiện đang nghỉ hưu và sinh sống tại Pensacola, Florida. “Tôi có thể tới đó, và làm những công việc của mình và lúc trời tối, chúng tôi trở về với chiếc Kirk và cố gắng  kiếm được một chút gì đó để ăn và làm vài chầu rượu – lấy lại tinh thần, sức lực, và sẵn sàng cho ngày hôm sau.”
‘Chủ quyền lãnh thổ cuối cùng của Việt Nam Cộng hòa’
Một con tàu đưa những người tị nạn Việt Nam tới chiếc Kirk gần Đảo Côn Sơn. Tàu của Hoa Kỳ đã đảm trách những sứ mệnh nhân đạo lớn lao nhất trong lịch sử quân đội Hoa Kỳ.
Trong số 30.000 người tị nạn trên những chiếc tàu mà Kirk hộ tống trong sáu ngày, chỉ có ba người chết.
Nhưng khi các đội tàu nhỏ tới gần Philippines, hạm trưởng Kirk đã nhận được một số tin xấu. Sự hiện diện của các tàu thuyền miền Nam Việt Nam tại một bến cảng Philippines sẽ đặt ra một tình trạng khó khăn về ngoại giao cho chính phủ ở Manila.
“Chính phủ Philippines sẽ không cho phép chúng ta vào, bởi vì những con tàu này giờ đây đã thuộc về người Bắc Việt Nam và họ không muốn xúc phạm quốc gia mới đó”, thuyền trưởng Jacobs nhớ lại.
Chính phủ của Tổng thống Philippines Ferdinand Marcos là chính phủ đầu tiên công nhận các nhà cai trị cộng sản giờ đây kiểm soát một nước Việt Nam duy nhất, và Jacobs đã được yêu cầu buộc các con tàu này phải trở về.
Armitage và người bạn Nam Việt Nam của mình, Hạm trưởng Đỗ Kiểm, đã đưa ra một giải pháp mà Marcos phải chấp nhận.
Ông Kiểm nhớ lại kế hoạch: “Chúng tôi sẽ kéo lên cao lá cờ Mỹ và hạ cờ Việt Nam xuống như là một dấu hiệu của sự chuyển nhượng con tàu lại cho Hoa Kỳ, bởi vì trong chiến tranh những con tàu này được trao cho chính phủ Việt Nam như là một khoản vay, nếu như người ta muốn, từ Hoa Kỳ, để chiến đấu với những người Cộng sản. Bây giờ chiến tranh kết thúc, chúng ta trả chúng lại cho Hoa Kỳ. “
Một cuộc lục soát điên cuồng để tìm ra 30 lá cờ Mỹ. Hai sĩ quan từ chiếc Kirk đã được gửi tới mỗi chiếc tàu Việt Nam để chỉ huy một buổi lễ phỏng theo một nghi thức chào cờ trang trọng.
Rick Sautter là một trong những sĩ quan của Kirk đã thực hiện mệnh lệnh trên một con tàu Việt Nam.
“Đó là dấu tích cuối cùng của miền Nam Việt Nam khi những lá cờ được hạ xuống và những lá cờ Mỹ được kéo lên. Bởi vì một con tàu của Hải quân là chủ quyền lãnh thổ và vì vậy mà con tàu đó là chủ quyền lãnh thổ cuối cùng của Việt Nam Cộng Hòa”, ông nói.
“Hàng ngàn người trên những con thuyền bắt đầu hát quốc ca [miền Nam Việt Nam]. Khi người ta hạ lá cờ xuống, họ đã khóc, khóc, và khóc,” ông Đỗ Kiểm hồi tưởng.
‘Thời khắc quan trọng trong sự nghiệp của tôi’
Ngày 7 tháng 5, các tàu mang cờ Mỹ được phép vào Vịnh Subic.
Đối với những người tị nạn, đó mới chỉ là sự khởi đầu cho cuộc hành trình dài, đưa họ đến Guam, sau đó tái định cư tại Hoa Kỳ.
Đối với các thủy thủ của Kirk, sự kết thúc cuộc Chiến tranh Việt Nam bằng việc cứu vớt được từ 20.000 đến 30.000 người là rất mãn nguyện.
“Đây là đỉnh cao của sự nghiệp của tôi và tôi rất tự hào về những gì chúng tôi đã làm, những gì chúng tôi hoàn thành, cái cách mà chúng tôi đã thực hiện”, Jacobs nói. “Tôi cảm thấy dường như chúng tôi đã xử lý công việc đó thật sự chuyên nghiệp và đó phần nào như một thời khắc buồn thảm.”
Armitage nói rằng ông “ghen tị” với các sĩ quan và những người đàn ông của con tàu USS Kirk. Con tàu đã không được trải qua các trận đánh trong chuyến đi của mình tới Việt Nam. Nhưng nó đã kết thúc với cuộc giải cứu hàng chục ngàn người tị nạn, một trong những nhiệm vụ nhân đạo lớn nhất trong lịch sử của quân đội Mỹ.
Armitage nói: “Họ đã không phải chịu gánh nặng liên quan tới những bất hạnh trước đây ở Việt Nam.”
Người dịch: Ba Sàm

Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2010

* Bài được dịch, đăng trên trang Ba Sàm từ 2/9/2010, nhưng bị tin tặc phá blog xóa mất, nay đăng lại.

Thứ Ba, 17 tháng 1, 2012

Hội nghị San Francisco với vấn đề chủ quyền của VN đối với quần đảo HS&TS


Tạp chí Xưa và Nay

Hội nghị San Francisco với vấn đề

chủ quyền của Việt Nam đối với

quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa

Số 360, tháng 7 năm 2010
PHẠM NGỌC BẢO LIÊM
Về Hội nghị San Francisco (9-1951)
Đầu tháng 9-1951, các nước Đồng Minh trong Thế chiến hai tổ chức Hội nghị ở San Francisco(1) (Hoa Kỳ) để thảo luận vấn đề chấm dứt chiến tranh tại châu Á-Thái Bình Dương và mở ra quan hệ với Nhật Bản thời hậu chiến. Tham gia Hội nghị gồm phái đoàn của 51 nước. Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và Trung Hoa Dân quốc không tham dự Hội nghị do Mỹ và Liên Xô không thống nhất được ai là người đại diện chính thức cho quyền lợi của Trung Hoa.
Trong hội nghị này, vấn đề chính là thảo luận dự thảo Hiệp ước Hòa bình giữa các nước trong phe Đồng Minh với Nhật Bản do Anh-Mỹ đưa ra ngày 12-7-1951 nhằm chính thức kết thúc Thế chiến hai ở châu Á-Thái bình Dương.
Ngày 8-9-1951, 48 quốc gia tham dự hội nghị đã ký một Hiệp ước Hòa bình với Nhật Bản(2). Hiệp ước này đã chính thức chấm dứt Thế chiến hai ở Viễn Đông cũng như đánh dấu chấm hết cho sự tồn tại của chủ nghĩa quân phiệt Nhật.
Vấn đề chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa
Theo lời mời của Chính phủ Hoa Kỳ, với tư cách là thành viên của khối Liên hiệp Pháp, Thủ tướng Quốc gia Việt Nam(3) đã tham dự Hội nghị. Ngày 7-9-1951, phát biểu tại Hội nghị, trưởng phái đoàn Quốc gia Việt Nam, Thủ tướng Trần Văn Hữu nêu rõ: “Chúng tôi cũng sẽ trình bày ngay đây những quan điểm mà chúng tôi yêu cầu Hội nghị ghi nhận (chứng nhận)…”(4). Về vấn đề chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, tuyên bố của phái đoàn Việt Nam khẳng định: “Và cũng vì cần phải thành thật lợi dụng tất cả mọi cơ hội để dập tắt những mầm mống các tranh chấp sau này, chúng tôi xác nhận chủ quyền đã có từ lâu đời của Việt Nam trên quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa”(5).
Lời xác nhận chủ quyền đó của phái đoàn Việt Nam không hề gây ra một phản ứng chống đối hoặc yêu sách nào của 51 quốc gia tham dự Hội nghị(6).
Về nội dung, Hiệp ước Hòa bình với Nhật Bản được ký kết tại San Francisco ngày 8-9-1951 quy định Nhật Bản phải rút lui khỏi những nơi mà nước này đã dùng vũ lực để chiếm đóng trong Thế chiến hai(7). Riêng đối với quần đảo Trường Sa (Spratly Islands) và quần đảo Hoàng Sa (Paracel Islands), Điều 2 – khoản (f) của Hiệp ước quy định: “Nhật Bản từ bỏ tất cả quyền, danh nghĩa và đòi hỏi với quần đảo Trường Sa (Spratly Islands) và quần đảo Hoàng Sa (Paracel Islands)”(8).
Hiệp ước quy định Nhật Bản từ bỏ tất cả quyền, danh nghĩa và đòi hỏi đối với quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa mà không nói rõ lực lượng hay chính quyền nào sẽ tiếp nhận chủ quyền của hai quần đảo này đã gây ra những ngộ nhận. Sự thiếu rõ ràng ấy của Hiệp ước San Francisco đã bị những quốc gia sau này tranh chấp chủ quyền với Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa khai thác, lấy làm cớ để cho rằng phải “trao trả” lại hai quần đảo trên cho họ.
Đối với Trung Quốc – nước không tham dự hội nghị San Francisco(9) – thì Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa không đưa ra tuyên bố phản đối nào tại Hội nghị San Francisco vì không tham dự Hội nghị. Tuy nhiên, ngày 15-8-1951, Ngoại trưởng Chu Ân Lai lên tiếng về bản dự thảo Hiệp ước Hòa bình với Nhật Bản do Mỹ – Anh soạn thảo(10).
Đòi hỏi cho quyền lợi của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa trong Hội nghị San Francisco đối với quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa được phái đoàn Liên Xô nêu lên trong phiên họp khoáng đại ngày 5-9-1951 của Hội nghị. Phát biểu trong phiên họp này, Andrei A. Gromyko – Ngoại trưởng Liên Xô – đã đưa ra đề nghị gồm 13 khoản tu chính để định hướng cho việc ký kết hòa ước thực sự với Nhật Bản. Trong đó có khoản tu chính liên quan đến việc “Nhật nhìn nhận chủ quyền của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đối với đảo Hoàng Sa và những đảo xa hơn nữa dưới phía Nam”(11). Với 48 phiếu chống và 3 phiếu thuận, Hội nghị đã bác bỏ yêu cầu này của phái đoàn Liên Xô.
Nhận định về việc Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa viện dẫn việc Trung Hoa Dân quốc thừa lệnh Đồng Minh tiếp quản quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa năm 1946(12) để cho rằng chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa thuộc về Trung Quốc, tạp chí Quê hương năm 1961 đã viết: “Nhật Bản đã lấy danh nghĩa gì để chuyển giao chủ quyền cho họ (Trung Hoa Dân quốc – TG). Khi Nhật Bản giao miền Bắc Đông Dương cho Trung Hoa chiếm đóng, có phải là họ đã nhường chủ quyền trên đất Trung Hoa, một điều có bao giờ Trung Hoa thừa nhận? Vậy không thể viện lẽ rằng quần đảo Nam Sa do Nhật chuyển giao mà cho rằng mình có chủ quyền trên (các) đảo đó”(13).
Về phía Việt Nam – nước tham gia Hội nghị San Francisco với tư cách là thành viên của khối Liên hiệp Pháp(14) – tuyên bố của phái đoàn Quốc gia Việt Nam về chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trong Hội nghị mà không có sự phản đối nào của các nước tham gia cũng chính là sự thừa nhận của các nước Đồng Minh về chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo này.
Hơn nữa, Điều 2 của Hiệp ước Hòa bình với Nhật Bản có hiệu lực đã tái lập sự toàn vẹn lãnh thổ cho những quốc gia bị quân Nhật chiếm đóng trong Thế chiến hai. Do đó, việc Nhật Bản tuyên bố từ bỏ tất cả các quyền, danh nghĩa và đòi hỏi đối với quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa cũng có nghĩa là Nhật Bản trả lại chủ quyền của hai quần đảo mà nước này chiếm đóng trong giai đoạn 1939-1946 cho Việt Nam. Chủ quyền đối với hai quần đảo này do vậy hiển nhiên thuộc về Việt Nam.
Dựa trên những tư liệu đã được công bố, có thể khẳng định rằng (muộn nhất) từ thế kỷ XV đến đầu thế kỷ XIX, quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa đã thuộc chủ quyền Việt Nam. Đến cuối thế kỷ XIX, những Hòa ước ký kết giữa Việt Nam với Pháp đã quy định rằng chính quyền Pháp ở Đông Dương thay mặt Việt Nam gìn giữ chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo đó. Đồng thời, Chính quyền Đông Dương cũng đã thi hành mọi biện pháp để khẳng định sự chiếm hữu cũng như các biện pháp quản lý hành chính đối với quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa.
Đến giữa thế kỷ XX, tuy quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa bị quân đội Nhật Bản tạm thời chiếm đóng từ năm 1939 đến năm 1946 nhưng với Hòa ước San Francisco (9-1951), Chính phủ Nhật  Bản đã chính thức tuyên bố từ bỏ mọi quyền, danh nghĩa và đòi hỏi đối với hai quần đảo này. Do đó, Việt Nam tất nhiên đã khôi phục lại được chủ quyền vốn có của mình đối với hai quần đảo đó.
Giá trị pháp lý về tuyên bố chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa trong Hội nghị San Francisco không những được khẳng định đối với các quốc gia tham dự Hội nghị mà còn đối với những quốc gia cũng như chính quyền không tham dự Hội nghị bởi những ràng buộc của Tuyên cáo Cairo(15) và Tuyên bố Potsdam(16). Việc khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa trong Hội nghị San Francisco là sự tái lập/tái khẳng định một tình thế đã có từ trước. Thêm nữa, Hội nghị Geneve năm 1954 bàn về việc chấm dứt chiến tranh ở Đông Dương với sự tham gia của những quốc gia không có mặt tại Hội nghị San Francisco cũng đã tuyên bố cam kết tôn trọng chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam(17).
Một vài nhận định
Việc quốc gia Việt Nam dưới sự bảo trợ của Pháp, tham gia Hội nghị San Francisco (9-1951) và tuyên bố chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa là sự kiện có ý nghĩa quan trọng trong chuỗi các sự kiện minh chứng cho sự xác lập chủ quyền từ sớm (về pháp lý cũng như sự chiếm hữu một cách hòa bình trên thực tế) đối với quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa của Việt Nam.
Tuyên bố của phái đoàn Quốc gia Việt Nam trong hội nghị San Francisco về chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo này là cơ sở pháp lý quan trọng để Việt Nam tiếp tục đưa vấn đề tranh chấp ở quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa hiện nay ra các hội nghị, diễn đàn quốc tế. 51 nước tham dự Hội nghị San Francisco thừa nhận tuyên bố của Việt Nam cũng chính là sự công nhận của quốc tế về chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa. Sự thừa nhận này sẽ làm yếu đi luận điểm cũng như thái độ muốn giải quyết những tranh chấp ở Biển Đông hiện nay thông qua đàm phán song phương. Ghi nhận tầm quan trọng của Hội nghị San Francisco đối với việc thiết lập hệ thống các quan hệ quốc tế mới sau Thế chiến hai ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương cũng chính là sự thừa nhận có tính pháp lý tuyên bố về chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa. Trong xu hướng “hòa hợp” hiện nay, việc làm có ý nghĩa là toàn thể dân tộc Việt Nam tập hợp dưới cùng một ngọn cờ đoàn kết, và chỉ có như vậy mới tạo ra được sức mạnh đủ để giữ gìn và đấu tranh cho sự toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc.
… TUYÊN BỐ CỦA PHÁI ĐOÀN QUỐC GIA VIỆT NAM TRONG HỘI NGHỊ SAN FRANCISCO VỀ CHỦ QUYỀN VIỆT NAM ĐỐI VỚI HAI QUẦN ĐẢO NÀY LÀ CƠ SỞ PHÁP LÝ QUAN TRỌNG ĐỂ VIỆT NAM TIẾP TỤC ĐƯA VẤN ĐỀ TRANH CHẤP Ở QUẦN ĐẢO HOÀNG SA VÀ QUẦN ĐẢO TRƯỜNG SA HIỆN NAY RA CÁC HỘI NGHỊ, DIỄN ĐÀN QUỐC TẾ…
CHÚ THÍCH:
(1)   Còn được gọi là Hòa hội Cựu Kim Sơn, diễn ra từ ngày 5 đến 8-9-1951.
(2)   Còn gọi là Hiệp ước San Francisco (Treaty of San Francisco) hay Hiệp ước Hòa bình San Francisco (San Francisco Peace Treaty). Hiệp ước bắt đầu có hiệu lực từ ngày 28-4-1952. Do những bất đồng nên Liên Xô, Tiệp Khắc, Ba Lan không tham gia ký kết Hiệp ước này.
(3)   Quốc gia Việt Nam là một thực thể chính trị tồn tại trong giai đoạn 1949-1956, ra đời sau Hiệp ước ngày 8-3-1949 giữa Pháp và cựu vương Bảo Đại (Hiệp ước Elysee). Cuối năm 1955, Ngô Đình Diệm – lúc này là Thủ tướng Quốc gia Việt Nam – lên làm tổng thống sau cuộc “Trưng cầu dân ý” ngày 23-10-1955. Đến năm 1956, Quốc gia Việt Nam “cải đổi” thành Việt Nam Cộng hòa, công bố Hiến pháp mới (26-10-1956). Như vậy có thể nói Quốc gia Việt Nam là “tiền thân” của Việt Nam Cộng hòa.
(4)   Trần Đăng Đại (1975), Các văn kiện chính thức xác nhận chủ quyền Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa từ thời Pháp thuộc tới nay, Tập san Sử Địa – số 29, tháng 1-3-1975, Sài Gòn, tr.284.
(5)   Nguyên văn tiếng Pháp như sau: “Et comme il faut franchement profiter de toutes occasions pour estouffer lé germes de discorde, nous affirmons nos droits sur iles Spratly et Paracels qui de tout temps ont fait partie du Viet-Nam”. In trên Tạp chí France – Asia, số 66-67, tháng 11-12-1951, tr.505 – dẫn theo Trần Đăng Đại, Tlđd, tr.286.
(6)   Lãng Hồ (1975), Hoàng Sa và Trường Sa, lãnh thổ Việt Nam, Tập san Sử Địa - số 29, tháng 1-3-1975, Sài Gòn, tr.103.
(7)   Năm 1938, Nhật Bản chiếm đóng quần đảo Hoàng Sa và đổi tên thành Hirata gunto. Năm 1939, quân đội Nhật Bản đổ bộ lên đảo Itu Aba (đảo Ba Bình, thuộc quần đảo Trường Sa). Ngày 31-3-1939, Bộ Ngoại giao Nhật Bản tuyên bố rằng ngày 30-3-1939 Nhật Bản quyết định đặt quần đảo Trường Sa dưới sự kiểm soát của Nhật Bản. Ngày 19-8-1939, Bộ Ngoại giao Nhật Bản tuyên bố quyết định đặt quần đảo Trường Sa – dưới tên gọi Shinnan gunto – trực thuộc đảo Đài Loan. Về những sự kiện này, Chính quyền Đông Dương đã nhiều lần lên tiếng chính thức phản đối Chính phủ Nhật Bản. Dẫn theo: Lãng Hồ, Tlđd, tr.100; Quốc Tuấn (1975), Nhận xét về các luận cứ của Trung Hoa liên quan tới vấn đề chủ quyền hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, Tập san Sử Địa – số 29, tháng 1-3-1975, Sài Gòn, tr.222; Nguyễn Nhã (2002), Quá trình xác lập chủ quyền của Việt Nam tại quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, Luận án Tiến sĩ Lịch sử, Đại học Quốc gia TP HCM, Trường Đại học KHXH&NV, tr.107. Về chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa, “ngày 14-10-1950, Chính phủ Pháp chính thức chuyển giao cho Chính phủ Bảo Đại (Quốc gia Việt Nam – TG) quyền quản lý các quần đảo Hoàng Sa. Thủ hiến Trung phần là Phan Văn Giáo đã chủ tọa việc chuyển giao quyền hành ở quần đảo Hoàng Sa” – Nguyễn Nhã (2002), Quá trình xác lập chủ quyền của Việt Nam tại quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, Tlđd, tr.110.
(8)   Nguyên văn: “Japan renounces all right, title and claim to the Spratly Islands and to the Paracel Islands” – Treaty of Peace with Japan, CHAPTER II (Territory) – Article 2 – f. Source: United Nations Treaty Series 1952 (reg. no. 1832), vol. 136, p.p.45 – 164, www.vcn.bc.ca.
(9)   Riêng với Trung Hoa Dân quốc, ngày 28-4-1952, Trung Hoa Dân quốc ký riêng rẽ một Hiệp ước Hòa bình với Nhật Bản. Trong bản tuyên bố ngày 5-5-1952 về Hiệp ước này, Ngoại trưởng Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa Chu Ân Lai không nói gì đến quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa mặc dù hai quần đảo này đã được đề cập một cách mập mờ trong Điều 2 của Hiệp ước: “Điều 2 – Hai bên nhìn nhận là theo Điều 2 Hòa ước với Nhật Bản ký ngày 8-9-1951 tại Cựu Kim Sơn (San Francisco) ở Hoa Kỳ, Nhật Bản đã khước từ mọi quyền, danh nghĩa hay đòi hỏi liên quan tới Đài Loan (Formosa) và Bành Hồ (The Pescadores), cũng như quần đảo Trường Sa (Spratly Islands) và Hoàng Sa (Paracel Islands)” (Source: Chen Yin-ching (1975), Treaties and Agreements between The Republic of China and other powers, Sino-American Publishing Service, Washington D.C., p.p.454 456). Nghĩa là Nhật Bản và Trung Hoa Dân quốc chỉ nhắc lại việc khước từ chứ không nói là Nhật Bản trao hai quần đảo này cho Trung Hoa Dân quốc – Quốc Tuấn, Tlđd, tr.231.
(10)                     “Chính phủ Nhân dân Trung ương nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa một lần nữa tuyên bố: Nếu không có sự tham dự của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa trong việc chuẩn bị, soạn thảo và ký một hòa ước với Nhật Bản thì dù nội dung và kết quả của một Hiệp ước như vậy có như thế nào, Chính phủ Nhân dân Trung ương cũng coi hòa ước ấy hoàn toàn bất hợp pháp, và vì vậy vô hiệu” – (Toàn văn bản tuyên bố ngày 15-8-1951 đăng trong People’s China, T.IV, số 5, ngày 1-9-1951, phụ trương ngày 1-9-1951, tr.3 – 6 dưới nhan đề Foreign Minister Chou En – lai’s Statement on the US British Draft Peace Treaty with Japan – dẫn theo Quốc Tuấn, Tlđd, tr.221).
Trước đó, ngày 4-12-1950, Ngoại trưởng Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa tuyên bố: “Nhân dân Trung Hoa rất ước muốn sớm có một hòa ước liên hợp với Nhật Bản cùng với các quốc gia Đồng Minh khác trong thời kỳ Thế chiến hai. Nhưng căn bản của hòa ước phải hoàn toàn thích hợp với bản Tuyên cáo Cairo, Thỏa ước Yalta, bản Tuyên bố Potsdam và các chính sách căn bản đối với Nhật Bản sau khi nước này đầu hàng được quy định trong các văn kiện này” (Toàn văn bản tuyên bố ngày 4-12-1950 đăng trong bán nguyệt san People’s China, Bắc Kinh, T. II, số 12, phụ trương ngày 16-12-1950, trang 17-19, dưới nhan đề Chou En lai’s Statement on the Peace Treaty with Japan – dẫn theo Quốc Tuấn, Tlđd, tr.220).
Như vậy Tuyên bố ngày 15-8-1951 đã đi ngược lại tinh thần tuyên bố ngày 4-12-1950 của chính Trung Quốc vì thực chất, Hội nghị San Francisco được tổ chức nhằm “hiện thực hóa” những thỏa thuận được quy định trong Tuyên cáo Cairo, Thỏa ước Yalta và Tuyên bố Potsdam.
(11)                     Nguyễn Nhã, Tlđd, tr. 110.
(12)                     “Sự thực thời tướng Hà Ứng Khâm (Trung Hoa Dân quốc) đã thừa lệnh Đại tướng Mac Arthur để tiếp nhận sự đầu hàng của Okamura Yasutsugu là Tổng tư lệnh quân đội Nhật Bản tại chiến trường Trung Quốc” – xem thêm bài của Lãng Hồ, Tlđd, tr.101-102.
(13)                     Tân Phong (1961), Vấn đề chủ quyền trên nhóm quần đảo Tây Sa và Trường Sa, Tạp chí Quê hương số ngày 27-9-1961 – dẫn theo Lãng Hồ, Tlđd, tr.102.
Về việc tiếp quản quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa từ tay Nhật Bản của lực lượng Trung Hoa Dân quốc, tác giả Lãng Hồ viết: “Sự thực thời đó đâu phải là một cuộc tiếp thu chính thức theo quốc tế công pháp (mà) chỉ là một hành động trong khuôn khổ Trung Hoa Dân quốc đã thừa lệnh Đồng Minh đến nhận sự đầu hàng của quân Nhật mà thôi” – Lãng Hồ, Tlđd, tr.101
(14)                     Ngày 29-6-1950, Pháp chính thức công nhận Quốc gia Việt Nam là thành viên của khối Liên hiệp Pháp.
(15)                     Tuyên cáo ngày 26-11-1943 của Hội nghị Cairo (tổ chức từ ngày 23 đến 27-11-1943 tại Cairo, Ai Cập), gồm đại diện của ba nước là Hoa Kỳ (Franklin D. Roosevelt), Anh (Winston Churchil) và Trung Hoa Dân quốc (Tưởng Giới Thạch).
(16)                     Hội nghị Potsdam được tổ chức ở Potsdam (Đức) từ ngày 17-7 đến ngày 2-8-1945 gồm đại diện 3 nước: Liên Xô (Joseph Stalin), Mỹ (Harry Truman) và Anh (Winston Churchil, sau đó được thay bởi Clement Attlee) . Ngày 26-7–1945, W. Churchil, H. Truman và Tưởng Giới Thạch đưa ra Tuyên bố Potsdam vạch ra những điều khoản đầu hàng đối với Nhật Bản.
(17)                     Chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa được thể hiện rõ trong Điều 12 – Tuyên bố cuối cùng của Hội nghĩ Geneve ngày 21-7-1954 mà Trung Quốc cũng đã tham dự, đó là “Trong quan hệ với Cao – Miên, Lào và Việt Nam, mỗi nước tham gia Hội nghị Geneve cam kết tôn trọng chủ quyền, độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của những nước trên và tuyệt đối không can thiệp vào nội trị của những nước đó” – Vụ biên soạn, Ban tuyên huấn Trung ương (1979), Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam – trích văn kiện Đảng, T.II: 1945-1954, Nxb SGK Mác-Leenin, Hà Nội. tr.360.
–
* Bài được đăng trên trang Ba Sàm từ 12/8/2010, nhưng bị tin tặc phá blog xóa mất, nay đăng lại.