Hiển thị các bài đăng có nhãn Việt Minh. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Việt Minh. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 13 tháng 1, 2012

Những bài học ở Việt Nam mà Hoa Kỳ có lẽ đã học được từ Điện Biên Phủ


Mối quan hệ với người Pháp

Những bài học ở Việt Nam mà Hoa Kỳ

có lẽ đã học được từ Điện Biên Phủ

TOM NAGORSIK
Ngày 20-2-2010
Các toán lính dù Pháp đang đáp xuống Điện Biên Phủ tháng 11 năm 1953. Ảnh: AFP.
Tháng 11-1953, nước Pháp đã ở vào năm thứ tám của cuộc chiến tranh nhằm dành quyền kiểm soát Đông Dương. Diễn biến tình hình đang xấu đi – du kích Việt Nam, hay còn gọi là Việt Minh, đang thắng thế – và tại một phiên họp mang tính chiến lược ở Sài Gòn, viên chỉ huy người Pháp, Tướng Henri Navarre, đã phác thảo kế hoạch mới nhất của mình. “Tôi đang nghĩ đến việc chiếm lĩnh vùng lòng chảo Điện Biên Phủ,” ông ta mào đầu. “Mục tiêu của cuộc hành quân mạo hiểm này là để bảo vệ Lào”. Ông ta tiếp tục biện luận rằng hành động này sẽ đưa Việt Minh vào một trận chiến mà họ không thể thắng nổi. Pháp có lợi thế về sức mạnh trên không. Một căn cứ tại Điện Biên Phủ – nằm ở góc tây bắc Việt Nam, gần biên giới với Lào – có thể được cung cấp hậu cần bằng đường không, trong khi lực lượng nòng cốt của Hồ Chí Minh, lãnh đạo du kích quân, thì buộc phải di chuyển một lực lượng lớn về người và trang thiết bị đi qua hàng dặm đường rừng núi. Kết thúc phần trình bày của mình, Tướng Navarre hướng xuống cử tọa. “Các vị nghĩ sao?”
Các chính trị gia sẵn sàng – song các sĩ quan lại ngăn cản. Các quân nhân đã “đồng lòng phản đối”, một sĩ quan cao cấp đã lưu ý. Họ nói với tướng Navarre, xây dựng một căn cứ ở một thung lũng trên núi sẽ gặp phải những khó khăn ghê gớm. Thả lính dù xuống sẽ gặp nguy hiểm, cung cấp thêm trang thiết bị cho căn cứ sẽ gặp khó khăn, và Điện Biên Phủ sẽ làm kiệt quệ nhân lực ở các mặt trận quan trọng hơn – mọi lợi thế quân sự đều đáng nghi ngờ. Tuy nhiên, Tướng Navarre vẫn bắt tay vào công việc của mình. Trong vòng mấy tháng – chính xác là vào ngày 7-5-1954 – Điện Biên Phủ đã bị Việt Minh nắm quyền kiểm soát. Hai năm sau Tướng Navarre ngồi viết lại lịch sử từ ký ức của mình về cuộc chiến. “Không có ý kiến phản đối được nêu ra trước trận đánh”, ông viết.
Sử biên niên của cuộc chiến tất nhiên đã bị chôn chặt với quyết định quân sự gây tranh cãi và những điều dối trá sau trận đánh, song với thái độ ngạo mạn và trình độ kém cỏi, thật khó để đối chọi được với những gì đã xảy ra trước và trong trận đánh kéo dài 56 ngày ở Điện Biên Phủ. Cuốn sách ‘Thung lũng Chết’ của Ted Morgan là một bản mô tả có căn cứ xác đáng về những ngày ấy – song nó cũng là một trang sử về sự tham gia của Hoa Kỳ vào Đông Dương từ lúc đầu. “Mấy chữ Điện Biên Phủ không còn là cái tên khôi hài được bàn bạc qua loa tại những cuộc chuyện trò trong bữa điểm tâm nữa, bởi vì chúng ta không biết nó ở đâu”. Tổng thống Dwight Eisenhower đã nói như thế trong một hội nghị với các nhà phát hành báo chí. Thực vậy, lúc đó Điện Biên Phủ đang chứng tỏ là một thảm họa cho người Pháp – một trong những dấu hiệu cảnh báo Hoa Kỳ.
Gần như mọi giả định của người Pháp đều bị đổ vỡ vào cái mùa xuân ấy. Không có điều gì cho thấy tai họa thảm khốc hơn là đức tin về sức mạnh không lực tối cao của Tướng Navarre. Người Việt Nam, được lãnh đạo bởi tướng Võ Nguyên Giáp lỗi lạc (nhân vật mà Mỹ phải đối mặt trong một thập kỷ sau đó), đã vận chuyển một lượng người và đạn dược dường như là vô hạn băng qua rừng núi tới Điện Biên Phủ. Đó là một thắng lợi không thể tin được, và nó đã đưa Việt Minh lên vị trí cao hơn căn cứ của người Pháp. Trong một bản phân tích đáng nhớ, Hồ Chí Minh đã lật ngửa chiếc mũ cát rồi chỉ vào đáy mũ và nói: “Người Pháp sẽ ở tại đây”. Sờ vào rìa quanh chiếc mũ, ông nói thêm, “Chúng ta sẽ ở vị trí này. Họ sẽ không bao giờ ra khỏi nơi đó được”.
Ông Hồ đã đúng – và các đoàn quân của ông đã nắm giữ những lợi thế khác. Trung Quốc đã gửi lương thực, thực phẩm, thuốc men và vũ khí hạng nặng cho Việt Minh. Là một lực lượng du kích quân, Việt Minh có được lợi thế trong mục tiêu hành động và hiểu biết về địa hình. Như ông Morgan đã viết: “Người Pháp đã có một lực lượng không quân. Việt Minh có lợi thế sân nhà và sự ủng hộ của dân chúng ở nông thôn’.
Các phiến quân Việt Minh chiến thắng phất cao lá cờ của họ trên căn hầm chỉ huy của Pháp tháng 5 năm 1954.  Nước Pháp đã phải chịu tổn thất trên 2.000 người chết hoặc bị cho là đã chết; hơn 10.000 bị bắt làm tù binh.
Trong lúc chờ đợi, những sai lầm của người Pháp đã được nhân lên gấp bội. Viên toàn quyền Đông Dương của Pháp thì “biết nhiều về những bữa ăn tối với rượu champagne của mình ở Sài Gòn hơn là kiến thức về quân sự”. Trong lúc các bính lính đã chết vì phải chờ đợi được cung cấp ngay thực phẩm và thuốc men, thì các toán lính dù lại bị chậm do thiếu sự huấn luyện. Cùng lúc đó, những nỗi kinh hoàng chồng chất trên khắp chiến trường. Các binh lính bị thương mòn mỏi chờ đợi trong các khu đông nghẹt; những rãnh hào đầy xác chết; những cơn mưa theo gió mùa làm ngập lụt doanh trại lính Pháp. Khi tình thế đã trở nên xấu hơn, di tản gần như là không thể thực hiện được. Ông Morgan đã vẽ nên một bức tranh xúc động về vị bác sĩ người Pháp Paul Grauwin, người đã làm việc trong những căn lều ướt sũng, nhung nhúc dòi trong lúc phải lo cho “một đoàn người bất tận bị mù mắt, bị gãy quai hàm, lồng ngực bị vỡ ra và chân bị gãy”. Lòng can đảm chắc chắn là không thiếu ở Điện Biên Phủ.
Trong nhiều năm, Đông Dương là một nơi sân chơi thứ yếu về địa chính trị đối với Hoa Kỳ. Sau Đệ nhị Thế chiến, Washington liên kết với các phong trào giải phóng trong khu vực – và vì vậy, như một cử chỉ hữu nghị, một đạo quân nho nhỏ lính nhảy dù Mỹ đã được thả xuống căn cứ tiền phương của Hồ Chí Minh tháng 7-1945. Ông Morgan đã đưa ra một bản mô tả hấp dẫn về cuộc gặp gỡ: “Những người lính dù được chào đón bằng một khẩu hiệu thu hút sự chú ý “những người bạn Mỹ của chúng ta”, và một bác sĩ Mỹ đã cứu chữa cho ông Hồ khi ông bị sốt cao nguy hiểm. Theo lời ông Morgan: “Hoàn toàn có thể nói rằng sự sống của vị chủ tịch tương lai của Bắc Việt Nam đã được cứu bởi một bác sĩ Mỹ”.
Tất nhiên tình hữu nghị ban đầu đã bị phai nhòa khi chủ nghĩa chống cộng đã cuốn hút Washington trong thập niên 1950. Không dưới bảy thổng thống và những người có thể thành tổng thống Hoa Kỳ đã xuất hiện trong cuốn sách của ông Morgan, và những lời nói của họ đã làm cho việc đọc cuốn sách trở nên hấp dẫn hơn, cho thấy những gì sắp xảy ra. Khi Điện Biên Phủ gần như thất thủ , Eisenhower đã lo lắng về sự sụp đổ của những quân bài domino tại Đông Nam Á song ông vẫn kiên định chống lại sự can thiệp nhân danh nước Pháp. “Không ai có thể phản đối một cách cay đắng hơn tôi trong việc để cho Hoa Kỳ dính líu vào một cuộc chiến nóng bỏng tại khu vực đó”. John F. Kennedy, một thượng nghị sĩ thuộc bang Masschusetts vào thời điểm đó, tỏ ra cứng rắn: “Đổ tiền của, trang thiết bị và binh lính vào trong những khu rừng nhiệt đới Đông Dương mà không có được ít nhất một triển vọng chiến thắng xa xôi thì thật là phù phiếm nguy hiểm và tự hủy diệt mình”. Trong số các tổng tư lệnh tương lai, chỉ có Richard Nixon là đồng ý một cách thẳng thừng cho hành động can thiệp.
Tuy nhiên, khi hoàn cảnh khó khăn của Pháp trở nên tồi tệ hơn, các nhà ngoại giao Mỹ đã tìm cách trợ giúp. Ngoại trưởng John Foster Dulles đã thúc giục Quốc hội và người Anh để có một phản ứng mạnh mẽ, song Dulles chỉ có được ít người nhập cuộc. “Đừng có thêm những người Hàn Quốc với việc Hoa Kỳ cung cấp 90% nhân lực khác nữa”, lãnh đạo phe đa số ở Thượng viện William Knowland, một đảng viên Cộng hòa thuộc bang California tuyên bố. Trong lúc những đợt gió mùa thổi tới làm cho Điện Biên Phủ trở nên nhớp nhúa, hoạt động ngoại giao bị sa lầy theo cách của riêng nó. Không có thêm quân tiếp viện nào sắp được gửi tới. Cuối cùng, Việt Minh đã bao vây Pháp, tràn vào thung lũng và bắt sống hàng ngàn tù binh. Đối với Pháp, sự kết thúc bi thảm đó có nghĩa là chấm dứt một kỷ nguyên, mất đi một báu vật trong lĩnh vực thuộc địa của mình. Đối với Việt Nam, nó mang ý nghĩa chia cắt hai miền Nam Bắc. Và đối với Hoa Kỳ – mặc dù lúc đó chẳng ai biết – song nó có nghĩa là những hạt giống đã được gieo vào cuộc chiến tranh khác ở Đông Dương.
“Thung lũng chết” đã ghi lại một cách sâu sắc các chứng cứ tài liệu từ tất cả các bên – người Pháp, người Việt, người Mỹ, người Anh, người Nga và người Trung Quốc. Cuốn sử biên niên của ông Morgan là thấu đáo – đôi khi còn hơn thế nữa. Có gần 200 trang được viết trước khi Điện Biên Phủ được đề cập đến. Trên mặt trận ngoại giao, mặc dù có ai đó ngạc nhiên về tài năng của ông Morgan đã đưa người đọc vào những căn phòng diễn ra các cuộc đàm phán, nhưng sau một lúc ai đó lại nhận ra là chính mình lại muốn rời khỏi những căn phòng ấy.
Nhiều điều đã được rút ra từ những bài học về Điện Biên Phủ – những bài học mà có lẽ Hoa Kỳ nên chú ý tới Việt Nam: ý chí ngoan cường của các lực lượng quân sự bản địa ở đất nước này, niềm đam mê và cách tổ chức của họ, và những khó khăn đặt ra bởi khí hậu và địa thế. Song việc mô tả trận đánh ở “Thung lũng Chết” là bài học cho bất kỳ nỗ lực quân sự nào. Điểm hay nhất, cuốn sách là một bản cáo trạng nghiêm khắc dành cho các tướng lĩnh đã mắc phải sai lầm và tính ngạo mạn buộc những người lính trẻ phải chịu đựng số phận khủng khiếp. Ông Morgan đã kể một câu chuyện ám ảnh về một đại tá người Pháp đã tự sát sau khi vị trí chủ chốt bị thất thủ. Ít ngày sau, một sĩ quan trẻ lên tiếng chê trách: “Nếu như tất cả mọi người ở đây đều phải chịu trách nhiệm về những gì đang xảy ra lại quyết định tự sát, thì một đám đông ở Paris cũng giống như ở Điện Biên Phủ”.
Ông Nagorski, chủ nhiệm kỳ cựu chương trình ABC News và là tác giả của cuốn “Miracles on the Water: The Heroic Survivors of a World War II U-Boat Attack.”
Người dịch: Ba Sàm
Hiệu đính: Ngọc Mai

Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2010

Bài được đăng trên trang Ba Sàm ngày 21/2/2010, nhưng bị tin tặc phá blog xóa mất, nay đăng lại.
Một số tư liệu bổ sung của người hiệu đính:
- Còn tài liệu này nói 8.000 lính Việt Minh và 1.500 lính Pháp chết trong trận ĐBP: At 5:30 p.m., 10,000 French soldiers surrender at Dien Bien Phu. By now, an estimated 8000 Viet Minh and 1500 French have died. The French survivors are marched for up to 60 days to prison camps 500 hundred miles away. Nearly half die during the march or in captivity
- Tài liệu này cũng nói con số 8.000 lính VM bị giết: The Viet Minh lost 8,000 killed with 12,000 wounded:
- Tài liệu này cũng nói con số 8.000: In order to take Dien Bien Phu the Viet Minh committed the 304th, 308th, 312th, 316th and 351st divisions, representing the 33 battalions engaged as of March 13, 1954.  Counting reinforcements and coolies (porters, bicycle transport personnel and trench digging personnel) it can be assumed that Gen. Giap used far more than 100,000 men in the battle.
The French General Staff never learned the exact number of Viet Minh losses at Dien Bien Phu.  They can reasonably be estimated to number: 8,000 KIA (some works estimate 12,000 KIA and 20 to 30,000 WIA) 15,000 to 20,000 WIA of whom a great  number certainly must have died from the results of poor medical care. These are not official figures but rather estimates by the French General Staff.
8000 người bị giết, 15.000-20.000 bị thương (có nơi đưa ra con số 12.000 người bị giết, 20.000-30.000 bị thương).

Thứ Tư, 11 tháng 1, 2012

Những sự kiện dẫn tới sự dính líu của Mỹ ở Việt Nam


Những sự kiện dẫn tới

Sự dính líu của Mỹ ở Việt Nam

Rufus Phillips
Ngày 30-10-2008
Các tù binh Pháp bị Việt Minh áp giải ra khỏi Điện Biên Phủ, ngày 7 tháng Bảy năm 1954
Hoa Kỳ đã tung các điệp viên OSS nhảy dù xuống miền bắc Việt Nam từ năm 1945, trước khi kết thúc cuộc Đệ nhị Thế chiến ở châu Á. Sự trợ giúp đã được giành cho phong trào kháng chiến của Việt Nam để chống lại Nhật Bản, chủ yếu cho hoạt động của mặt trận dân tộc chủ nghĩa của Hồ Chí Minh, Việt Nam Độc lập Đồng minh Hội (Việt Minh). Tuy nhiên, sự tham dự đáng kể của Hoa Kỳ đã không bắt đầu liền lúc ấy mà cho mãi về sau đó.
Năm 1949, Trung Quốc rơi vào tay những người Cộng sản. Cuộc Chiến tranh Lạnh đã lên tới đỉnh điểm của nó tại Âu châu, với cuộc Không Vận Berlin * đang được thực kiện và Hoa Kỳ đang cố gắng hết sức để hàn gắn Tây Âu vào một hiệp ước phòng thủ chung. Nằm trong số các mối quan tâm chủ yếu là Pháp và Ý, hai nước có các đảng Cộng sản hoạt động mạnh mẽ ở bên trong. Pháp đã quay lại Đông Dương năm 1945 để xác nhận lại quyền kiểm soát thuộc địa và bị sa lầy vào một cuộc chiến quân sự thu hút số lượng binh lính gia tăng chưa từng thấy để chống lại phong trào Việt Minh đang bị Cộng sản kiểm soát. Để giúp đỡ cho đồng minh Pháp của mình chống lại những người Cộng sản ở Âu châu, Tổng thống Truman đã chịu áp lực ngày càng tăng để cung cấp sự trợ giúp quân sự cho Pháp ở Đông Dương. Hơn nữa, sự sụp đổ của Trung Hoa Quốc Gia năm 1949 làm cho tình hình có vẻ như toàn bộ Đông nam Á có thể sẽ đi theo con đường tương tự, bắt đầu với những quốc gia Đông Dương: Việt Nam, Cambodia và Lào. Kết quả là vào tháng Ba năm 1950, Tổng thống Truman đã phê chuẩn một chương trình viện trợ quân sự đầu tiên mười lăm triệu đô la cho Đông Dương và Thái Lan, với hầu hết số viện trợ được gửi tới trực tiếp cho quân đội Pháp ở Đông Dương. Sự dính líu của người Mỹ chúng ta đã có một bước tiến quan trọng.
Vào đầu năm 1954, sau chín năm chiến đấu, tương lai của Đông Dương đã ở trong tình cảnh nguy kịch. Cuộc chiến của Pháp chống lại Việt Minh đang diễn ra không thuận lợi. Một kế hoạch để ngăn chặn Việt Minh chiếm lấy Lào bằng cách tạo ra một vị trí cố thủ trong thung lũng Điện Biên Phủ phía bắc Việt Nam, để khóa tuyến đường xâm chiếm chính của quân đội Việt Minh và nhử họ vào một cuộc đối đầu có tính quyết định với hỏa lực vượt trội của người Pháp, đã chứng tỏ một thất bại thê thảm.
Mùa Xuân năm 1954, xuất hiện khả năng người Pháp có thể thất bại tại trận địa Điện Biên Phủ, làm cho việc trợ giúp Pháp trong cuộc chiến tranh cũng chấm dứt. Các giới chức bên trong Chính phủ của Eisenhower đã trở nên mất bình tĩnh. Câu hỏi vào lúc ấy là liệu Hoa Kỳ có nên trực tiếp can thiệp giúp bằng quân sự để tránh một cuộc thất bại của Pháp hay không? Tuy nhiên, Tổng thống Eisenhower đã mạnh mẽ chống lại ý niệm can thiệp trực tiếp bằng binh lính hoặc các oanh tạc cơ Hoa Kỳ.
Thậm chí trước khi tai hoạ lờ mờ hiện ra ở Điện Biên Phủ, sức ép công luận Pháp đã gia tăng đòi kết thúc cuộc chiến, đưa đến kết quả người Pháp hoan nghênh một hội nghị quốc tế về Đông Dương để tìm kiếm một sự kết thúc xung đột qua đàm phán. Hội nghị Geneva bắt đầu vào ngày 26 tháng Tư năm 1954, với Pháp, Anh, Liên Xô, Trung Quốc và Hoa Kỳ trong tư cách là những các Cường Quốc tham gia cùng với Việt Minh và Chính phủ Việt Nam (do ông Bảo Đại đứng đầu) cũng như các quốc gia Lào và Cambodia. Vào ngày 7 tháng Năm, 11 ngày sau đó, Điện Biên Phủ rơi vào tay lực lượng Việt Minh của Tướng Võ Nguyên Giáp, giật khỏi tay người Pháp bất cứ điều kiện nhượng bộ nào mà họ có thể đòi hỏi.
Sau khi tờ nhật báo Le Journal d’Extreme Orient ở Sài Gòn, ngày 4 tháng Năm năm 1954, đăng một lời tuyên bố của Tổng ủy Pháp, Maurice Dejean, rằng không có “ý định” chia cắt Việt Nam, tách Việt Nam ra làm hai vùng lãnh thổ vào tháng Sáu, tâm điểm của những cuộc thảo luận bí mật giữa người Pháp và Việt Minh. Trong lúc thành phần chủ yếu của các lực lượng Việt Minh chính quy đang ở miền Bắc, thì các lực lượng hỗn hợp Pháp Việt thực ra đã kiểm soát nhiều vùng lãnh thổ cả ở phía Bắc cũng như phía Nam. Hơn nữa, một phần quan trọng dân cư ở miền Bắc là người Thiên chúa giáo, đã kiên quyết chống lại Việt Minh và chắc chắn là mục tiêu cho một cuộc trả thù.
Trong lúc người Pháp bí mật thương lượng với Việt Minh, những người Việt Nam không phải cộng sản bị bỏ rơi trong bóng tối cho tới khi thỏa thuận được thi hành. Khi hội nghị diễn ra đều đều tẻ nhạt trong tháng Sáu thì một khuôn khổ thỏa thuận không chính thức đã đạt được ở hậu trường. Việt Nam sẽ bị chia cắt từ vĩ tuyến 17, các lực lượng của Pháp và đồng minh Việt Nam của họ sẽ tản cư khỏi miền Bắc rồi tập hợp tại miền Nam, và các lực lượng Việt Minh sẽ tản cư từ miền Nam ra miền Bắc, tất cả hoạt động này được hoàn tất vào tháng Năm năm 1955. Một Uỷ ban Kiểm soát Quốc tế, gồm có Ba Lan, Ấn Độ và Canada, giám sát việc thực hiện những điều khoản của Hiệp định Ngừng bắn tại ba Nước Liên hiệp Đông Dương. Trong một nghị định thư không được ký kết tại Geneva, các cuộc bầu cử quốc gia, diễn ra trên toàn lãnh thổ Việt Nam, dự định được tổ chức trong vòng hai năm sau khi kết thúc hội nghị. Chính phủ Eisenhower có quan điểm bên trong nội bộ coi [hiệp định] Geneva như là một tai hoạ. Đặc biệt làm trầm trọng thêm là sự thất bại của người Pháp trong việc huấn luyện nhiều hơn cho những binh lính người Việt và sớm tạo sự độc lập thực sự cho những người Việt Nam không cộng sản. Trong khi ông Bảo Đại trị vì với tư cách Hoàng đế từ tận vùng Riviera (nước Pháp), thì hệ thống cai trị của ông như là một thành viên của Liên hiệp Pháp vẫn không có được điều kiện độc lập thực sự. Quân đội Việt Nam chưa bao giờ hoàn toàn tự mình hành quân tác chiến và đã phải phụ thuộc hết vào sự hỗ trợ hậu cần của người Pháp.
Người Việt Nam không theo cộng sản đã rơi vào tình trạng cực kỳ choáng váng, chán nản và giận dữ. Căn cứ vào môi trường chính trị ở miền Nam, một cuộc tiếp quản của Cộng sản trên toàn lãnh thổ Việt Nam trong vòng hai năm, hoặc thậm chí ít hơn, có vẻ như không thể nào tránh khỏi. Ngoài những khái niệm mập mờ là bằng cách nào đó tập hợp được người Việt Nam ở miền Nam và những kế hoạch không rõ ràng cho việc cài cắm các nhân viên đặc vụ ngầm ở lại ngoài Bắc để hướng dẫn cuộc chiến tranh du kích chống lại Việt Minh, Hoa Kỳ đã có chút ít kế hoạch là làm thế nào để tránh một cuộc tiếp quản hoàn toàn của Cộng sản.
Như một giải pháp tuyệt vọng, Đại tá Edward G. Lansdale, khi đó đã được chỉ định làm cho Cơ quan Tình báo Trung ương (CIA), được gọi trở lại vào tháng Một năm 1954, khi sự bất hòa đối với người Pháp đã kéo dài thêm, nếu như ông ta đến Việt Nam chỉ để làm cái trò “ảo thuật” giống như ông đã từng làm ở Philippines. Ở đó, trong vai trò một cố vấn, ông đã giúp người Philippines đánh bại những người Huk ** cộng sản và bầu Ramon Magsaysay với tư cách là Tổng thống trong một cuộc bầu cử không có gian lận. Quyết định cử ông tới Việt Nam là một hành động kết hợp bởi Ngoại trưởng John Foster Duller, anh trai ông ta là Allen Dulles, Giám đốc CIA, và Tổng trưởng Quốc phòng. Tướng John “Iron Mike” O’ Daniel, đứng đầu nhóm cố vấn quân sự Mỹ tại Sài Gòn (MAG) và Đại sứ Donald Heath, cũng đề cử ông.
Khi Ngoại trưởng Dulles nói cho Lansdale biết rằng Tổng thống Eisenhower muốn ông nhận nhiệm vụ này, Lansdale đã trả lời là ông sẽ đi, song chỉ là để giúp cho người Việt Nam thôi, chứ không phải cho người Pháp. Đó là kế hoạch hành động, ông được truyền đạt như vậy. Điều này đã trở thành một nền tảng quan trọng cho nhiệm vụ của ông, thứ đã chi phối, trong một thời gian ngắn, đối với tiến trình lịch sử. Nó cũng làm thay đổi đường đời của tôi và đến cả những người khác nữa. Lansdale đã không nhận những chỉ thị để tới Việt Nam cho đến hết tháng Năm khi kết quả của hiệp định Geneva đã rõ ràng. Những chỉ thị này đã chấm dứt với một câu viết mang tính riêng tư khác thường là “Chúa trời ban phúc cho anh” từ Allen Dulles. Lansdale đã tới Sài Gòn vào ngày 1 tháng Sáu năm 1954. Sau khi đặt chân xuống đất, Lansdale đã yêu cầu có một nhóm để trợ giúp mình, được biết tới như là Phái bộ Quân sự Sài Gòn (Saigon Military Mission). Cơ quan này có hai mục đích đáng chú ý: ngăn chặn người Bắc Việt Nam xâm chiếm miền Nam và chuẩn bị trụ lại kháng chiến ở miền Bắc và tại miền Nam trong trường hợp các lực lượng ở đây sụp đổ.
Trước khi người Pháp đặt chân tới vào nửa cuối Thế kỷ 19, toàn bộ Việt Nam là một quốc gia có chủ quyền với một ngôn ngữ chung và một lịch sử tự giải phóng mình khỏi ách thống trị của Trung Hoa trong Thế kỷ 14. Sau các cuộc chiến qua nhiều triều đại giữa các vùng lãnh thổ, Hoàng đế Gia Long của Triều Nguyễn đã thống nhất đất nước vào năm 1802. Hoàng đế Bảo Đại đại diện cho thế hệ thứ 13 của triều đại này.
Sau khi Pháp hứa nhưng không bao giờ chịu trao quyền độc lập cho Việt Nam, trong một chuỗi những thỏa thuận liên tiếp bắt đầu vào năm 1948, họ đã bỏ lại nửa phía bắc của nước này cho Việt Minh trong khi vẫn kiểm soát một cách hiệu quả nửa phần còn lại. Họ đã phát hành đồng tiền Việt Nam và điều hành ngân hàng quốc gia của mình, quản lý những ngành dịch vụ công cộng như điện nước, hướng dẫn trên thực tế quân đội và cảnh sát quốc gia, chỉ có nguồn xăng dầu cho xe cộ và các máy bay là thuộc về Liên Đoàn Công Binh của người Pháp. Giới lãnh đạo nước Pháp thì bị tiêm nhiễm với huyền thoại tự cho là đúng rằng người Việt Nam sẽ không chịu chiến đấu và Việt Nam chưa bao giờ là một quốc gia nên Ngoại trưởng Pháp Bidault đã long trọng tuyên bố với Ngoại trưởng Dulles vào tháng Tư năm 1954, rằng “Sự độc lập không phải là yếu tố then chốt để đưa tới lòng can đảm. Việt Nam đã là một quốc gia, là nước, mà trong 1.500 năm qua, chưa bao giờ có bất cứ chủ quyền nào.”
Với thái độ miễn cưỡng đầy giận dữ, Cao ủy Pháp đã không dọn đi khỏi Dinh Norodom ở Sài Gòn cho tới tháng Chín năm 1954 để nhường chỗ cho kẻ chiếm đóng mới, Thủ tướng Ngô Đình Diệm, người đã tới đây từ tháng Bảy. Được Bảo Đại bổ nhiệm như là một hy vọng cuối cùng cho Nam Việt Nam, ông Diệm được nhiều quan chức Mỹ xem như là một nhân vật tầm thường với ít cơ may để tạo nên sự ủng hộ của dân chúng. Đi tới những phạm vi quanh quan điểm của người Mỹ là những cách nhìn nhận của Tòa đại sứ Mỹ tại Paris rằng ông Diệm là “một nhân vật thần bí như đạo sĩ Yoga … ông xuất hiện quá thanh tao và chất phác để có khả năng đương đầu với những vấn đề nghiêm trọng và những kẻ vô liểm sỉ mà ông sẽ bắt gặp ở Sài Gòn.” Ông Diệm đã nhận thấy bản thân mình chẳng khác gì một tù nhân trong Dinh Gia Long, nơi ông được đưa vào chức vụ lúc ban đầu. Lúc đó, lực lượng canh gác dinh thự của ông được cung cấp bởi Cảnh sát Quốc gia là cơ quan lần lượt bị kiểm soát bởi Bình Xuyên, một nhóm giang hồ với quân đội riêng được người Pháp chu cấp và hoạt động bằng cách tống tiền.
Một thuật ngữ Pháp được ưa chuộng để miêu tả Nam Việt Nam sau hiệp định Geneva là một “panier de crabes” (cái giỏ cua). Người Pháp và người Mỹ đã bất hòa là do sự cạnh tranh các quyền lợi. Người Việt Nam bị chia rẽ giữa Thủ tướng Ngô Đình Diệm, Hoàng đế Bảo Đại, các giáo phái gồm Cao Đài và Hòa Hảo, nhóm giang hồ Bình Xuyên và Quân đội Việt Nam, cũng như nhiều đảng phái chính trị bị hất cẳng từ miền Bắc (Việt Nam Quốc dân Đảng và Đại Việt) và số người tị nạn chạy trốn từ miền Bắc. Trong nhiều năm, người Pháp đã chơi trò chia để trị nhằm làm cho nhiều nhóm phái người Việt ít tin tưởng lẫn nhau. Câu hỏi trong tâm trí người Mỹ là làm sao có một quốc gia nào hoặc một chính phủ đoàn kết nào bị xiết chặt như vậy mà có thể vặn mình thoát khỏi tình trạng hỗn loạn này?
Bài trên trích từ đoạn Mở đầu của cuốn “Why Vietnam Matters” với sự cho phép của nhà xuất bản Naval Institute Press. 
Người dịch: Ba Sàm
Hiệu đính: Blogger Trần Hoàng

Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2008

* The Berlin Air Lift (Cuộc Không Vận Berlin): bắt đầu bằng Cuộc Phong tỏa Berlin (The Berlin Blockage), từ ngày 24-6 đến ngày 11-5-1949, là một trong những khủng hoảng nghiêm trọng đầu tiên của cuộc Chiến tranh Lạnh lúc mới nổ ra. Nó bắt đầu khi những Liên Xô phông tỏa tuyến đường sắt và đường bộ từ ba cường quốc phương Tây là Mỹ, Anh và Pháp tới phần phía Tây của thành phố Berlin do phương Tây chiếm đóng… Sau đó Mỹ và đồng minh phương Tây phải lập cầu hàng không để tiếp vận cho Tây Berlin … (answer.com).
** Huk: hoạt động du kích do Cộng sản cầm đầu ở Philippines, được triển khai trong thời gian diễn ra cuộc Đệ nhị Thế chiến khi du kích quân có vũ trang chống lại người Nhật … (answer.com)
-
Bài được đăng trên trang Ba Sàm ngày 25/11/2008, nhưng đã bị tin tặc xóa, nay đăng lại.