Top 5 quốc gia nguy hiểm về giao thông nhất Đông Nam á, Việt nam xếp thứ mấy ?
Bí Ẩn Angkor Wat - Quá trình xây dựng một kỳ quan
Bí ẩn về Hội Tam Hoàng tại Việt Nam, một thời làm mưa gió
Top 10 vụ cướp Ngân hàng (nhà băng) kinh điển nhất Việt Nam | phim Mỹ còn thua
Top 10 xe tăng và pháo tự hành chống tăng mạnh nhất của Mỹ trong chiến tranh thế giới thứ 2
Top 10 trận đấu xe tăng kinh hoàng nhất trong lịch sử thế giới
Top 10 xe tăng và pháo tự hành chống tăng mạnh nhất của Đức trong Thế chiến 2
top 10 xe tăng nổi bật làm thay đổi chiến tranh thiết giáp
Việt nam đã bắn bao nhiêu viên đạn pháo trong chiến dịch Điện Biên Phủ 1954
Bí mật những trận đánh giữa Việt minh với quân đội Anh tại Sài gòn năm 1945
Bí ẩn việc tướng Giáp đã phân tích so sánh lực lương Pháp và quân ta như thế nào?
Chiến thắng Điện Biên Phủ và 10 cái nhất có thể bạn chưa biết
Boston.com [1]
Cách tiếp cận xét lại về Việt Nam
Bài của H.D.S Greemway
Ngày 19-2-2008
VÀO TUẦN NÀY cách đây 40 năm, khi ánh hoàng hôn bao trùm xuống chế độ Cộng hòa Nam Việt Nam, tôi đang nằm trên chiếc băng ca dưới trời mưa bên ngoài nhà thương thuộc một căn cứ quân sự gần Huế. Có quá nhiều tổn thất sinh mạng vào ngày đó làm chúng tôi phải chờ tới lượt để được các bác sĩ đang phải làm việc quá lâu và quá vất vả tới chăm sóc. Người nào có thể còn cứu được thì cứu trước, còn người nào khó quá thì tạm đặt qua một bên đã. Triage(cứu thương kiểu chọn lọc), họ gọi cái phương pháp đó như vậy. Tiếp đến là những vết thương nhẹ hơn, như trường hợp của tôi, phải đợi tới lượt.
Người bác sĩ phẩu thuật mà cuối cùng rồi cũng chữa cho tôi đã điên tiết lên – ông điên tiết vì được lệnh là phải cứu chữa cho người Mỹ trước đã, bỏ những đồng minh người Nam Việt Nam của chúng ta nằm ngoài trời mưa.
Đó là cuộc Tấn công Tết, một bước ngoặt của cuộc chiến. Do là Tết nên Hoa Kỳ đề nghị ngừng bắn, và Tổng thống Johnson chuyển giao công việc cho một nhiệm kỳ khác. Các cuộc đàm phán cứ kéo lê kéo lết đi, và bảy năm sau tất cả đã chấm dứt.
Ngày nay có một ngôi trường học cho những ý nghĩ rằng Tết là một sự thất bại khủng khiếp đối với những người Việt Nam Cộng sản, rằng nó sẽ không bao giờ làm cho chúng ta chùn bước, rằng cuộc chiến về cơ bản đã thắng vào năm 1972, và nếu chúng ta chỉ lưu lại trong cuộc thôi là sẽ chiến thắng. Henry Kissinger [3] đã nói như vậy khá nhiều, hết thảy các thế hệ binh sĩ đã nói vậy, và, nó có vẻ như, nhiều người thân cận với Tổng thống Bush rất tin vào điều đó.
Khi Iraq trở nên cái vũng lầy bởi chính nó, tôi đã từng lấy làm lạ về cái cách mà chúng ta lại có thể quá sớm phạm phải sai lầm tương tự một lần nữa. Nhưng rồi tôi nhận ra là Dick Cheney và Donald Rumsfeld [4] đã từng ở trong căn phòng Bầu dục cùng Tổng thống Ford khi Sài Gòn thất thủ. Có thể họ, và những kẻ sùng bái quyền lực Mỹ, đã nghĩ vậy, vào lúc này, chúng ta có thể thấy điều đó là đúng đắn.
Trong một ý nghĩ thuần tuý về quân sự, Tết là một thất bại cho những người cộng sản. Song theo chiến lược gia người Phổ, Karl von Clausewits nói rằng “Chiến tranh là một sự tiếp tục của chính sách bởi những phương tiện khác … một công cụ chính trị thực sự.” Và về mặt chính trị, [5] Tết đã cho thấy rằng không có ánh sáng ở cuối đường hầm, và tiếp tục chiến đấu trong một cuộc chiến bất tận không phải là điều mà dân chúng Mỹ sẽ ủng hộ. Việt Nam cho thấy rằng chúng ta có thể thắng trong mọi trận đánh song vẫn thất bại ở một cuộc chiến tranh. Và nếu như tôi đã không sai lầm, thì chúng ta đã chưa từng thua một trận đánh nào tại Iraq hay Afghanistan.
Cuốn sách của Lewis Sorley “Một cuộc chiến Tốt đẹp hơn” là một sự miêu tả thuyết phục nhất mà tôi có đọc đã biện hộ cho cái luận thuyết xét lại này. Nó đầy những số liệu thống kê để chứng minh cho trường hợp của mình. Nhưng hãy cho phép tôi đưa ra hai ví dụ về những trận đánh mà tôi đã quan sát. Năm 1971, chiến dịch Lam Sơn 719 là một cuộc tấn công của Nam Việt Nam, cùng với lực lượng không quân Mỹ, nhằm cắt đứt tuyến Đường mòn Hồ Chí Minh qua Lào. Những số liệu mà Sorley có làm bạn tin rằng trận đánh đã thắng lợi. Song những ai trong chúng ta ở đó, và được thấy người Nam Việt Nam từ Lào vượt thoát qua bị đánh cho phải cúp đuôi chạy dài, thì sẽ suy nghĩ khác. Các số liệu ít khi cho thấy toàn bộ câu chuyện.
Năm 1972, trong cuộc tấn công dịp Lễ Phục sinh, Sorley thuật lại cách mà người Nam Việt Nam đã giữ vững phòng tuyến trên Sông Mỹ Chánh, phía bắc Huế, với sự trợ giúp bằng sức mạnh hỏa lực của người Mỹ, nhưng không phải là các toán quân Mỹ đã hầu như không còn vào thời điểm đó.
Tôi nhớ lại là, với những tiếng gầm rú của xe tăng Bắc quân trong đêm tối, và cái giọng điềm tĩnh của viên cố vấn Mỹ nhẹ nhàng nói vào máy truyền tin của anh ta, là “Chúng tôi cần yểm trợ.” Nhờ có những đơn vị yểm trợ như các phi cơ ném bom từ Thái Lan, B-52 từ Guam, hoả lực của hải quân trên Biển Đông (Nam Trung Hoa), quân đội Việt Nam Cộng Hòa đã bám trụ thành công.
Nhưng Sorley đã rất chân thật khi không đề cập tới cái khía cạnh khác của câu chuyện. Người Bắc Việt Nam đã không tàn phá đất nước, song cuộc Tấn công Lễ Phục sinh đã kết thúc với những mảng khổng lồ lãnh thổ Nam Việt Nam bị mất. Và trong [thỏa thuận] ngừng bắn [6] đã không – không thể – đòi hỏi Bắc Việt Nam phải rút quân trở lại qua biên giới. Nam Việt Nam, thậm chí với cả hỏa lực không quân của chúng ta, cũng khó có thể đẩy bật họ trở lại. Theo đó Nam Việt Nam đã bị đánh chí tử vào mạng sườn, đợi cuộc tấn công kế tiếp. Và với người Bắc Việt Nam thì luôn có cuộc tấn công khác.
Rất nhiều điểm cho thấy thành công của những cố gắng bình định miền Nam. Nhưng khi tôi chạy xe dọc theo vùng Châu thổ Sông Mê kông, sau lệnh ngừng bắn buộc mỗi bên xung đột phải trú đóng tại chỗ, hết làng này tới làng khác coi như đã được bình định mà chúng tôi có trên bản đồ của mình đều thấy phấp phới cờ Việt Cộng. Tôi đã gặp một viên chỉ huy Việt Cộng trong rừng, anh ta nói với tôi rằng Nam Việt Nam chỉ là cái bức tường rỗng nên sẽ sớm sụp đổ dưới sức nặng của chính nó. Hóa ra là anh ta đã đúng.
Cuối cùng, giới chóp bu Nam Việt Nam đã không thể tạo nên niềm tin tưởng theo cái cách mà những người dân tộc chủ nghĩa cộng sản đã làm, có lẽ vì miền Nam dường như chiến đấu cho người nước ngoài. Với Hoa Kỳ, cũng như với Pháp trước đó, về căn bản đây là một cuộc chiến thuộc địa, không có ý nghĩa sống còn đối với những lợi ích dân tộc của chúng ta. Đối với Hà Nội, nó là tất cả.
Khi sự kết thúc đến vào năm 1975, và chiếc trực thăng của tôi bốc lên từ Tòa Đại sứ Mỹ ở Sài Gòn, cùng những tiếng đạn nổ vang trời trong một màn u ám đang tràn tới vây bọc, tôi cảm giác rằng chúng ta đã phản bội những người đồng minh – không phải vì chúng ta không muốn tiếp tục cuộc chiến, mà bởi chúng ta đã đi tới cuộc chiến ở đó bằng một vị thế trước hết không cần thiết và khờ dại, chẳng hiểu điều gì, chỉ gây ra nhiều chết chóc và tàn phá hơn cả những gì ta có thể làm bằng những lý do chính đáng.
Vấn đề là chẳng ăn thua mấy nếu chỉ nói điều này điều nọ. Thường xuyên chú mục vào các trận thắng của mình chưa bao giờ là đủ để giúp người Nam -VN chống đỡ đơn độc. Những người có quan điểm xét lại quên mất Clausewitz của họ (một chiến lược gia người Phổ).
Người dịch: Ba Sàm
Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2008
Ba Sàm chú thích:
* Bài được dịch, đăng trên trang Ba Sàm ngày 22/2/2008, nay đăng lại ở đây.
[1] Bài còn được đăng trên Times Union ngày 21-2-2008, với tựa đề “Vietnam‘s lessions still there to learn”
[2] Xét lại: theo Từ điển Tiếng Việt (2007-Trung tâm Từ điển học) – là theo/thuộc về chủ nghĩa xét lại; nhưng Ba Sàm tui hổng chịu lối giải thích nầy, nó quá hẹp.
[4] Đương kim phó Tổng thống và cựu Bộ trưởng Quốc phòng thời George W. Bush.
[5] Đọc thêm “Hoa Kỳ thua Việt Nam, nhưng chủ nghĩa tư bản đã thắng”.
[6] Hiệp định Paris.
———-
Boston.com
The revisionist approach to Vietnam
H.D.S. Greenway
February 19, 2008
FORTY YEARS ago this week, as twilight fell over the Republic of South Vietnam, I was lying on a stretcher in the rain outside a military hospital on a base near Hue. There were so many casualties that day that we had to wait our turn for overworked and overwhelmed doctors to attend to us. First came the wounded who could be saved, putting aside those who could not. Triage, they called it. Then came the lesser wounds, such as my own, which could wait their turn.
The surgeon who eventually operated on me was furious – furious that he had been told to treat Americans first, leaving our South Vietnamese allies out in the rain.
It was the Tet Offensive, the turning point in the war. For it was Tet that brought the United States to sue for peace, and President Johnson to give up running for another term. Negotiations dragged on and on, and seven years later it was all over.
Today there is a school of thought that says Tet was a terrible defeat for the Communist Vietnamese, that it should never have caused us to flinch, that the war was basically won by 1972, and that if we had only stayed the course we would have won it. Henry Kissinger has said as much, whole generations of soldiers were told that, and, it seems, that many around President Bush believe it as well.
When Iraq became the quagmire it is, I used to wonder how we could make the same mistake again so soon. But then I realized that Dick Cheney and Donald Rumsfeld were in the Oval office with President Ford when Saigon fell. Perhaps they, and the worshipers of American power, felt that, this time, we would get it right.
In a strictly military sense, Tet was a defeat for the communists. But as the Prussian military strategist, Karl von Clausewitz, said, “War is a continuation of policy by other means . . . a real political instrument.” And politically, Tet showed there was no light at the end of the tunnel, and that to fight on in an endless war was not something the American public was going to stand for. Vietnam showed that we could win every battle and still lose the war. And if I am not mistaken, we have never lost a battle in Iraq or Afghanistan.
Lewis Sorley’s book “A Better War” is the most persuasive account I’ve read advocating this revisionist theory. It is filled with statistics to prove its case. But let me cite two examples of battles that I observed. In 1971, operation Lam Son 719 was an attempt by the South Vietnamese, with American air power, to cut the Ho Chi Minh Trail in Laos. Sorley’s statistics would have you believe that it was a success. But those of us who were there, and saw the South Vietnamese coming out of Laos beaten with their tail between their legs, know differently. Statistics seldom tell the whole story.
In 1972, during the Easter Offensive, Sorley recounts how the South Vietnamese held the line on the My Chanh River, north of Hue, with the help of American fire power, but not American troops, who had mostly gone by then.
I remember that night, with the terrifying sound of North Vietnamese tanks in the dark, and the calm voice of an American adviser speaking softly into his radio, saying, “Lend me your assets.” And in the assets came, fighter bombers from Thailand, B-52s from Guam, naval gunfire from the South China Sea, and the South Vietnamese held.
But Sorley is too honest not to mention the other side of the story. The North Vietnamese failed to overrun the country, but the Easter Offensive ended with huge swaths of South Vietnamese territory lost. And the cease-fire that followed did not – could not – require the North Vietnamese to withdraw back across the border. South Vietnam, even with our air power, could hot hurl them back. Thus was South Vietnam fatally outflanked, awaiting the next offensive. And with the North Vietnamese there would always be another offensive.
Sorely points to the success of pacification efforts in the South. But when I drove through the Mekong River Delta, after the cease-fire that left opposing forces in place, village after village that we had on our maps as pacified had raised the Viet Cong flag. I met with a Viet Cong leader in the forest who told me that South Vietnam was a hollow shell that would soon collapse of its own weight. He turned out to be right.
In the end, the South Vietnamese leadership could not inspire the way the communist nationalists did, perhaps because the South seemed to be fighting for foreigners. For the United States, as for France before, it was basically a colonial war, not that vital to our national interests. For Hanoi, it was everything.
When the end came in 1975, and my helicopter lifted away from the American Embassy in Saigon, with the ammunition dumps blowing up in the gather ing dark, I felt that we had betrayed our allies – not because we were unwilling to continue the war, but because we had gone to war there in the first place, unnecessarily and foolishly, understanding nothing, only to cause more death and destruction than could ever be justified.
There is little to be gained in saying but if only this, or only that. Constant surges won all our battles, but it was never enough for the South Vietnamese to stand alone. The revisionists have forgotten their Clausewitz.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét