Thứ Tư, 21 tháng 12, 2011

SỰ TIẾP XÚC CỦA VĂN HOÁ VIỆT NAM VỚI PHÁP (Chương 7): Sự tiếp xúc ngôn ngữ giữa Việt Nam và Pháp


SỰ TIẾP XÚC CỦA VĂN HOÁ VIỆT NAM VỚI PHÁP

Phan Ngọc
 Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin & Viện Văn hóa, 2006
Chương 7: Sự tiếp xúc ngôn ngữ giữa Việt Nam và Pháp
0. Sự tiếp xúc văn hoá giữa tiếng Việt và tiếng Pháp, xét về mặt ngôn ngữ học, dẫn đến những kết quả khó tin là có thực. Trong khi vẫn giữ nguyên bản sắc của nó là tính bất biến của các đơn vị, và tính chất không đổi về vị trí ngữ pháp của từ, tiếng Việt trở thành ngôn ngữ Âu hoá nhất trong các ngôn ngữ đơn tiết và không biến tố đến mức chuyện dịch xuôi và dịch ngược giữa một ngôn ngữ phương Tây và tiếng Việt trở thành dễ dàng, và gần như máy móc đối với một dịch giả bình thường, điều mà con người dù giỏi nhất nước về tiếng Việt và tiếng Pháp cách đây 70 năm cũng không thể làm được.
Việc nghiên cứu quá trình diễn biến của tiếng Việt nhằm xích lại gần tiếng Pháp để có được diện mạo ngày nay, tuy hết sức thú vị, nhưng đòi hỏi những dẫn chứng chính xác và, do đó, nhiều thời gian. Trong phạm vi một chương bàn về tiếp xúc văn hoá, tôi thấy chỉ nên bó hẹp vào những kết quả của sự tiếp xúc ngôn ngữ.
1. Khi đơn vị tạo thành của ngôn ngữ là âm tiết, bất biến trong mọi hoàn cảnh, tách rời nhau, không có hiện tượng biến trong mọi hoàn cảnh, tách rời nhau, không có hiện tượng biến thanh trong sự kết hợp (trừ khoảng 15 trường hợp, như ông ấy thành ổngcó thế (lực) thành có thểchẳng thành chăng…), thì cách nó làm tóm lại là: a) Sử dụng yếu tố từ vụng để biến nó thành yếu tố ngữ pháp nhằm tạo nên, không phải những từ cá biệt mà những kết hợp từ; b) Biến các kết hợp từ ấy thành những cụm từ, thường gọi là từ phân tích tính. Hai việc này nó đã làm xong; c) Ngữ pháp hoá triệt để các yếu tố từ vựng này, biến chúng thành yếu tố ngữ pháp đơn thuần, mang chức năng ngữ pháp loại biệt, và rút số lượng này xuống tối thiểu. Điều này đã diễn ra mạnh mẽ, nhưng chưa hoàn thành.
Tự thân quá trình này là chung cho sự chuyển hoá từ một ngôn ngữ tổng hợp sang một ngôn ngữ phân tích. Trong sự chuyển hoá từ tiếng Latinh mang tính tổng hợp sang tiếng Pháp mang tính phân tích, tiếng Pháp đã thực hiện những điều mà tiếng Việt sẽ làm từ nửa cuối thế kỷ 19.
Trong tiếng Latinh, mọi phạm trù ngữ pháp đều nằm trong một từ duy nhất, và biểu hiện thành những biến tố được tổ chức thành những hệ dọc (paradigme). Thí dụ, danh từ có cách, số; động từ có thời, thức, dạng, thể… Không có giới từ. Khi chuyển sang tiếng Pháp, thì xuất hiện hai phạm trù ngữ pháp, phần nào độc lập là mạo từ (article) để chỉ số lượng, và chức năng ngữ pháp (xác định hay phiếm định), và giới từ (chỉ có chức năng ngữ pháp). Thí dụ:
libri   thành du livre “của quyển sách”, du là mạo từ xác định, giống đực, số đơn
librorum   thành des livres “của những quyển sách”, des là mạo từ không xác định, số nhiều
libris   thành par les livres bằng các quyển sách (par là giới từ chỉ công cụ, les là mạo từ xác định số nhiều) par des livres bằng những quyển sách (des là mạo từ phiếm định số nhiều)
Như vậy là tương ứng với cái từ tổng hợp tính trong tiếng Latinh, ta có cái từ phân tích tính trong tieents Pháp du livrepar les livres và ta có hai phạm trù ngữ pháp mới, khách  quan của tiếng Pháp, mà trước đây không có trong tiếng Latinh, là quán từ và giới từ.
Chỗ khác nhau trong sự kế thừa là các yếu tố thuần tuý ngữ pháp của Pháp chưa bao giờ là từ độc lập cả. Trái lại hầu hết mọi từ – ngữ pháp (người ta nay gọi là “hư từ”) của Việt Nam đều có một quá khứ thực từ khá rõ.
2. Các hư từ Việt Nam đều có một quá trình biến đổi như nhau. Sự biến đổi này là bắt nguồn từ một nhu cầu chung. Khi người Việt quen với người Pháp, dù muốn hay không, anh ta cũng có một thói quen phân tích (điều đã nói ở chương trên). Dù muốn hay không, anh ta vẫn thấy cái kết hợp anh em của anh ta mà trước đây anh ta cho là tự nhiên, bây giờ tỏ ra bất tiện vì nó chứa đựng nhiều nghĩa khác nhau dễ gây hiểu lầm: 1. Anh của em; 2. Anh và em; 3. Anh của mày; 4. Anh của tôi; 5. Chỗ quen biết, những người gắn bó với nhau; 6. Thân thiết. Anh ta thấy phải xoay xở để nói sao cho diễn đạt đúng ý muốn của mình. Đặc biệt, nếu anh ta làm nghề phiên dịch, thì dứt khoát anh ta phải dịch sao cho trong hoàn cảnh ngôn ngữ đã cho, kết hợp “anh em” chỉ có cái nghĩa mà anh thấy trong nguyên tác. Nói khác đi, anh ta phải tìm cách “sao phỏng” cái ngữ nghĩa ngữ pháp trong tiếng Pháp sang tiếng Việt cho kỳ được tìm mới an tâm. Kết quả, có một sự sao phỏng ngữ pháp. Lúc đầu, chỉ là một sự xoay sở ngẫu nhiên. Khi nó được mọi người dịch sử dụng, nó thành một mẹo dịch. Rồi từ mẹo dịch, nó nhập vào tiếng Việt, trở thành quen thuộc. Và cuối cùng, những mẹo ngẫu nhiên, linh tinh ấy, sau khi nhập vào ngữ pháp tiếng Việt, đã cấu trúc hoá lại ngôn ngữ này. Cũng như các nhà Nho trước đây nói và viết một tiếng Việt sao phỏng của cổ văn Hán, thì bây giờ thế hệ tân học viết một tiếng Việt sao phỏng của Pháp. Các yếu tố đều là Việt hết, nhưng quan hệ giữa các yếu tố lại khác hẳn trước. Cũng như cơm Việt Nam không phải là riz Pháp, cái sân gạchnông thôn không phải cái sân gạch thành phố, ở đây ta có một tiếng Việt mới, công cụ giúp đất nước phát triển và giữ bản sắc trong vận hội mới của loài người.
3. Một thí dụ về sự sao phỏng ngữ pháp: chữ các. Trong tiếng Hán cổ nó là một đại từ: “Các tân kỳ sở năng” ai cũng làm hết khả năng mình”, một định từ:Các nhân các kiến “người nào có ý kiến người ấy”. Trước tiếp xúc, nó được dùng với nghĩa tất cả, nhưng rất hiếm. Trong Truyện Kiều nó chỉ xuất hiện bốn lần: “Các tên tội ấy đáng tình còn sao?”.
Giờ đây, nó là yếu tố ngữ pháp sao phỏng của les Pháp. Sự sao phỏng này là hiển nhiên đến mức trong tiếng Việt chỉ có một mình chữ các là có một đặc điểm lạ, hệt như mạo từ les. Nó có thể đứng trước mọi danh từ và chỉ trước danh từ mà thôi. Nó đã thành một từ loại mới, và kéo theo nó một phạm trù ngữ pháp mới. Trong số nhiều, nó đối lập với những, trong số đơn, nó đối lập với mộtMột cũng như un của Pháp có biến thể mạo từ và biến thể số từ đều chỉ số đơn.
Kết quả là về mặt chỉ định danh từ, có sự cấu trúc hoá lại ngữ pháp truyền thống. Có những cách khác nhau để diễn đạt số lượng trong tiếng Việt với những biểu hiện như sau:
1. Số lượng chung, không kể nhiều hay một đơn vị xác định hay không được xác định: Danh từ: gà, bàn.
2. Số đơn chung: Loại từ: Con gà
3. Số nhiều tập thể phiếm định: Từ láy âm hay từ ghép: gà vịt, gà qué, chim chóc.
4. Số nhiều tuyệt đối, không có ngoại lệ: danh từ điệp: nhà nhà, người người.
5. Số nhiều xác định: các
6. Số nhiều phiếm định có cảm xúc: những
7. Số đơn thường có cảm xúc: một.
Như vậy là xảy ra hiện tượng sự sao phỏng ngữ pháp đã cấu trúc hoá lại ngữ pháp truyền thống, nhưng vẫn không thay đổi diện mạo ngữ pháp, một tình hình rất khác ngữ pháp các ngôn ngữ biến tố (flexionnel). Ở các ngôn ngữ biến tố, biến tố (flexion) biểu hiện ý nghĩa thuần tuý ngữ pháp, và gắn bó với ngôn ngữ đến mức nó mất đi thì không những ngữ pháp thay đổi mà thậm chí ngôn ngữ biến đổi sang một ngôn ngữ mới. Khi một số biến tố cuối từ gọi là vĩ tố (terminaison) mất đi trong tiếng Latinh và một số yếu tố thuần tuý ngữ pháp xuất hiện trước từ như le, la, les trước danh từ à, de, pour trước động từ và danh từ, tiếng Latinh đã chuyển thành tiếng Pháp. Còn trong tiếng Việt, sự xuất hiện của mạo từ chẳng rqua chỉ tạo nên một sự xê dịch, chính xác hoá của cấu trúc ngữ pháp mà thôi. Sự xê dịch này biểu hiện ở chỗ trước kia mọi ý nghĩa ngữ pháp đều thể hiện bằng con đường từ vựng: danh từ đơn nhất/ loại từ/ từ ghép/ từ điệp/ từ lấy âm. Tức là không có yếu tố nào chỉ là thuần tuý ngữ pháp. Khi xuất hiện mạo từ, với những ý nghĩa ngữ pháp khá rõ rệt (các, những, một) lập tức có sự lựa chọn. Một mặt, các từ này được dùng rất phổ biến (chúng thuộc vào số 5 từ được dùng với tần số cao nhất trong tiếng Việt) với những ngữ nghĩa ngữ pháp rõ ràng. Lập tức, chúng tác động đến những cách dụng cũ (từ 1 đến 4 trong danh sách trên) làm cho các cách dùng này mang một gánh nặng ngữ pháp mới, trong khi trước đây chúng chủ yếu là thiên về tu từ. Kết quả có: 1) Sự chính xác hoá về ngữ pháp tiếng Việt; 2) Sự xích gần lại về ngữ pháp Việt Nam với ngữ pháp Pháp; 3) Hiện tượng sao phỏng ngữ pháp vẫn duy trì tính liên tục của tiếng Việt.
4. Tình trạng này cũng xảy ra với các giới từ. Trước kia, ta có những danh từ (của, trong…) những động từ (ở, tại, bởi, bằng...). Khi tiếp xúc với tiếng Pháp, tất yếu người dịch dùng những từ này để dịch các giới từ Pháp, rồi dần dần xuất hiện trong tiếng Việt một loạt giới từ thực sự cũng máy móc như các giới từ Pháp. Điều này cũng tương tự như các giới từ Pháp xuất hiện để dịch các phó từ Latinh, và các vĩ tố chỉ cách của danh từ Latinh. Quá trình xuất hiện giới từ trong ngữ pháp Việt Nam diễn ra theo ba bước.
Trong bước một, ta có một thực từ thực sự: Của chỉ có nghĩa là của cải: Đồ tề nhuyễn của riêng tây (Kiều). Nghĩa này sau này có nghĩa bóng là sở hữu do cái lý do đơn giản là của cải c hính là vật sở hữu: Quyển sách của tôi. Cũng vậy, ở lúc đầu là động từ Tôi ở Hà Nội, nghĩa này vẫn còn mang nghĩa bóng trong Tôi ngồi ở bên anh, ở đây còn có thể giải thích: Tôi ngồi và tồn tại bên anh.
Sang bước hai, cái từ nằm ở một hoàn cảnh không thể nào giải thích bằng nghĩa thực từ, dù đen hay bóng: Cái bìa của quyển sách; Công việc ở đây.
Vì quyển sách là vật vô sinh không thể nào có sở hữu, và công việc không thể nào làm hành động được cho nên của mang ngữ nghĩa ngữ pháp chỉ sở hữu nói chung, và  mang ngữ nghĩa ngữ pháp chỉ vị trí nói chung.
Sang bước ba, do sự xuất hiện nhan nhản những  và của với ngữ nghĩa ngữ pháp không có tính chất từ vựng, nên  và của đứng ở những hoàn cảnh ngữ pháp bị ngữ pháp hoá, và tạo thành một từ loại mới là giới từ. Không cần phải nói mạo từ và giới từ là cực kỳ quan trọng để làm cho tiếng Việt thành chính xác.
5. Không cần phải nói, ngay trước khi tiếp xúc ngôn ngữ, cũng có mọt hai thí dụ gây ấn tượng về sự tồn tại của hai phạm trù này. Thí dụ chữ bằng có diện mạo giới từ trong Giết nhau bằng cái u sầu độc chưa? (Cung oán ngâm khúc), các có diện mạo mạo từ trong Các tên tội ấy đáng tình còn sao? (Kiều) nhưng vì số lượng quá thấp nên chỉ có thể xem là ngoại lệ.
6. Các từ mang nghĩa ngữ pháp sau khi dần dần xuất hiện đều gắn bó với thực từ (danh từ, động từ, tính từ) tạo thành những cụm từ có vị trí ít nhiều cố định. Ta có những từ phân tích tính. Lúc này cụm từ, chứ không phải từ, đảm nhiệm chức năng ngữ pháp trong câu. Đây là một hiện tượng mới của ngữ pháp Việt Nam hiện đại. Thí dụ cụm danh từ có 4 đơn vị:
Những, các
cái
con
người
1
2
3
4
Hai đơn vị 1, 2 có thể vắng mặt. Đơn vị 3 (loại từ) và 4 (danh từ) thì phải có một trong hai mới có cụm danh từ. Tình trnajg này rất khác tình trạng ngữ pháp Pháp. Không những các yếu tố 1, 2 mà ngay cả 3 đều mang thêm một gánh nặng ngữ nghĩa và phong cách bên cạnh gánh nặng ngữ pháp. Ở một ngôn ngữ không biến đổi, khi diện mạo các đơn vị là như nhau, thì một từ là danh từ, động từ, tính từ không phải vì diện mạo (vì diện mạo là như nhau nên không có diện mạo) mà vì ngữ nghĩa chúng là khác nhau. Một từ là danh từ vì nó chỉ sự vật, là động từ vì nó chỉ hành động hay trạng thái, là tính từ vì nó chỉ tính chất. Trong toàn bộ cụm danh từ chỉ có loại từ (con) và danh từ (người) là có nghĩa sự vật, cho nên chỉ cần một trong hai đơn vị có mặt là ta có cụm danh từ. (Cái)con người đã phổ biến từ xưa. Sau tiếp xúc, do áp lực của mạo từ Pháp, những, các, cái, một xuất hiện, ngữ nghĩa ngữ pháp dần dần trội hơn ngữ nghĩa phong cách.
Tình hình cũng như vậy đối với động từ. Trước khi tiếp xúc trước hay sau động từ, vẫn có những đơn vị có nghĩa thời gian (đã, sẽ, đang), sự kéo dài (còn, vẫn…), bị động (bị, được…), sự hoàn thành (mất, xong, hết…) nhưng chúng chỉ xuất hiện khi cần nhấn mạnh và, do đó, mang tính chất phong cách. Sau khi trong óc người Việt có động từ Pháp trong đó bao giờ thời, thức, dạng… cũng đều có mặt, vô hình chung người Việt có xu hướng cấp cho động từ Việt một diện mạo mới, trong đó động từ bị bao  quanh bởi những yếu tố chỉ thời, dạng, thức, sự hoàn thành… nên hình thành cụm động từ. Vị trí các đơn vị của cụm động từ Việt không có tính cố định như trong cụm danh từ vì thực tế các sắc thái cảm xúc của con người trong hành động và tâm trạng rất khí quy định cái nào quan trọng hơn.
Anh sẽ còn gặp, (nhấn mạnh về còn)
Anh còn sẽ gặp (nhấn mạnh sẽ)
7. Đặc điểm của tiếng Việt hiện đại là tính nhất dạng của đơn vị đảm nhiệm chức năng ngữ pháp (danh từ, động từ, tính từ, phó từ) dần dần được đa dạng hoá bởi những yếu tố bao quanh nó trước đây là ngẫu nhiên, giờ là quen thuộc.
Tính từ có rất, hết sức, hơi, vô cùng, lắm… để chỉ mức độ so sánh.
Phó từ có một cách.
Chính tính đa dạng và tính khu biệt này về hình thức đã tạo nên diện mạo mới của ngữ pháp Việt Nam, cũng như ưu thế của nó so với ngữ pháp cũ trong việc phục vụ tư duy duy lý, khoa học.
8. Một cái máy cần có những đinh vít để lắp các cấu kiện khác nhau có sẵn tạo thành cái máy. Các đinh vít không tạo nên máy, không là vật dành riêng cho một cái máy nào. Nó là vật có sẵn, và muôn hình muôn vẻ. Trước đây, trong sự tiếp xúc với tiếng Hàn, tiếng Việt đã có được một số ngữ liên kết kiểu đinh vít như vậy, hoặc bằng sao phỏng, hoặc bằng cách đưa nguyên khối vào (Gia dĩ, vạn nhất, vô hình chung, đại khái, tự thuỷ chí chung…) hoặc lấy ở kho tục ngữ (Cây nhà lá vườn, được voi đòi tiên, cầu được ước thấy...). Ngôn ngữ phương Tây mang tính kiến trúc ,tầng tầng lớp lớp, đòi hỏi một số lượng ngữ liên kết vô hạn, khu biệt nhau rõ ràng, để tạo nên các khớp xương của lý luận. Toàn bộ khối lượng này đến trên vạn đã được sao phỏng thành tiếng Việt: Đã thế… lại còn, một khi, không cần phải nói, hơn nữa, không chỉ… mà còn, trước khi, sau khi, như trên đã nói, ngoài ra, chưa hết, tương ứng với, nói khác đi, thực ra, thực vậy, quả tình, xét cho cùng, trước sau gì, nói trắng ra, hơn một lần, một phần nào, trên cơ sở, trong hoàn cảnh, dưới áp lực, v.v… Những hình thức sao phỏng này có xu hướng thay thế những ngữ liên kết cũ: phần nào đang thay thế muôn mộtthêm vào đấy đang thay thế gia dĩchưa chắc đang thay thế vị tất. Tóm lai, có sự sao phỏng ngữ pháp diễn ra ở mặt từ loại, ngữ liên kết dù có hiện tượng sao phỏng ngữ pháp rất ít được nói đến trong ngôn ngữ học châu Âu.
9. Hiện tượng sao phỏng từ vựng là điều quen thuộc trong các sách ngôn ngữ học bàn về tiếp xúc. Chemin de fer được sao phỏng thành đường sắt là một thí dụ. Chemin được dịch thành đườngfer được dịch thành sắt, và đường sắt trở thành từ kép mới có đủ sự khu biệt về nội dung và hình thức cho phép đường sắtthay thế chemin de fer trong mọi biểu hiện trong tiếng Pháp. Cũng vậy table de nuit thành bàn đêmpeinture à huile thành tranh sơn dầu. Tiếng Việt phong phú lên hàng vạn từ mới. Trước hết là những đồ vật mới lạ. Đối với những đồ vật, tiếng Việt theo cách cấu tạo danh từ kép quen thuộc. Danh từ đứng trước phân loại, từ thứ hai chỉ nét khu biệt. Bằng cách ấy tiếng Việt dịch được vô số đồ vật hiện tượng một cách dễ hiểu và Việt Nam. Về loại thể thao sử dụng bóng ta có: Bóng đá, bóng bàn, bóng ném, bóng chày, bóng bầu dục, bóng rổ,… Về máy ta có máy bay, máy tiện, máy phay, máy tính, máy xúc, máy gọt… Về tàu ta có tàu hoả, tàu thuỷ, tàu lăn, tàu cuốc, tàu ngầm… và cứ như thế, âm tiết đầu chỉ loại và xác định rõ loại, âm tiết thứ hai chỉ nét khu biệt, và nếu cần thêm âm tiết thứ ba: cột thu lôi, cột dây thép, phòng điện báo, viện âm nhạc. Bằng cách này vốn từ phong phú lên qua tiếp xúc mà chẳng gây khó khăn.
Điều được thực hiện trong danh từ cũng được thực hiện trong động từ. Bằng cách ấy, ta có những từ có ngữ nghĩa mới của châu Âu, nhưng vẫn giữ hình thức dân tộc. Thí dụ với động từ đi, có thể có những hành động mới: đi máy bay, đi tàu hoả.
10. Trước khi tiếp xúc với Pháp, Việt Nam đã tiếp xúc với chữ Hán và có một số lượng từ Hán – Việt đồ sộ trong đó một số lượng đáng kể là mới được tạo nên để dịch các thuật ngữ châu Âu. Nói chung, khối lượng to lớn các từ này đều được tiếng Việt chấp nhận có chọn lọc, và rất tiện cho cách diễn đạt mới: triết học, tư tưởng, kinh tế, chính trị. Điều này không gây nên sự đổi mới của cấu  trúc từ vựng.
Sự đổi mới của cấu trúc từ vựng tiếng Việt diễn ra do sự đối lập của cấu trúc từ vựng Pháp với cấu trúc từ vựng Việt. Tiếng Pháp với tính cách ngôn ngữ biến tố, cấu tạo các từ theo lối sau đây. Nó có một thân từ (radical), rồi cái thân từ ấy chắp thêm những hậu tố (suffixe) khác nhau để tạo thành các từ mới: danh từ, động từ, tính từ, phó từ. Bằng cách này, một thân từ có thể tạo nên hàng chục từ mới có nghĩa gốc như nhau, lại có thêm những nét nghĩa để có những từ mới nữa. Đây là biện pháp cực kỳ thuận tiện để tạo được một vốn từ phong phú nhất với một số lượng yếu tố ít nhất, đồng thời lại có hệ thống nhất, nên rất dễ hiểu.
Tiếng Việt không có tình trạng này vì không có âm tiết nào chỉ đứng sau, hay chỉ đứng trước cũng không tồn tại độc lập để đóng vai hậu tố hay tiền tố. Để có được ưu thế cấu tạo từ của tiếng Pháp, tiếng Việt dùng một số âm tiết làm bán tiền tố và bán hậu tố. Bằng cách này, chắp các bán tiền tố và bán hậu tố vào, nó có những kết hợp mới. Vài thí dụ về danh từ:
Bán tiền tố sự: sự đọc, sự học tập, sự nói năng.
Bán tiền tố cái: cái chết, cái đẹp, cái thiện.
Bán tiền tố cách: cách nói, cách viết, cách đọc v.v…
Vài bán tiền tố về tính từ:
Bán tiền tố dễ: dễ đọc, dễ xem, dễ quan sát.
Bán tiền tố đáng: đáng khen, đáng trách, đáng phạt
Bán tiền tố khá: khá giỏi, khá khen
Bán tiền tố hợp: hợp lý, hợp cách, hợp logic v.v…
Vài bán hậu tố:
Bán hậu tố chỉ động từ: hoá (tư sản hoá, cơ giới hoá…)
Bán hậu tố chỉ tính từ: được (ăn được, biết  được, đọc được)
Những sự sao phỏng từ vựng này là rất tiêu biểu cho tiếng Việt hiện đại. Trước kia các âm tiết sự, cách, hoá… đã được dùng như những thực từ. Trong văn cổ có khi ta thấy chúng có vẻ như là bán phụ tố, nhưng nhiều khi phải xem là thực từ. Thí dụ câu trong Kiều: “Hai tên tội ấy đáng tình còn sao?” thì nghĩa của nó là đúng đắn với tình thế, không phải của một bán phụ tố.
Quá trình tạo nên các bán phụ tố nào đã có từ quyển từ điển của A.de Rhodes và ngày càng trở nên quen thuộc.
11. Sự tiếp xúc ngữ âm ngày càng mạnh mẽ. Lúc đầu có sự dè dặt như ta thấy hiện tượng các danh từ riêng được đọc theo âm Hán Việt. Đồng thời ta thấy có sự rút gọn envelope thành lốp. Dần dần, các âm Hán Việt bị thay thế bằng các âm châu Âu: Ý-đại-lợi trở thành I-ta-lia và đã xuất hiện xu hướng viết nguyên tự dạng trên một số báo chí. Xu hướng phiên âm và giữ tự dạng là rất mạnh ở khoa học tự nhiên như hoá, địa chất cũng như trong dược học. Trong đà khoa học thế giới tiến như vũ bão, chưa chắc việc dịch, sao phỏng đã là cần thiết bằng viết nguyên thuật ngữ. Hệ ngữ âm tiếng Việt cũng vì vậy có sự xê dịch. Âm vị /p/ đã mất đi vào thế kỷ thứ X, đã được phục hồi các từ phiên âm trong đó các từ pip, pôpơlin , các kết hợp bl, tr,… đã mất đi vào thế kỷ XVII sẽ xuất hiện trong cách nói khoa học. Xu hướng Việt hoá đã phổ biến trong giai đoạn 1945-1985 đang tiếp tục với xu hướng Tây phương hoá, và thực khó lòng xác định sự diễn biến sắp đến về mặt từ vựng.
12. Sự tiếp xúc ngôn ngữ từ A. de Rhodes đến khi Pháp xâm lược Việt Nam chỉ mới diễn ra trong phạm vi giới Công giáo. Những cố gắng của giới Công giáo về mặt này là rất đáng quý. Những cố gắng ấy đã được tổng kết lại trong quyển Tự điển Pháp – Việt của Trương Vĩnh Ký, và trước đó trong các công trình của Philippe Bỉnh viết từ 1797 đến 1830 (chưa được xuất bản). Từ khi Pháp xâm lược đến 1945, đã diễn ra nhiều cố gắng liên tục làm cho ngôn ngữ ngày càng hiện đại. Tôi còn nhớ vào năm 1934 khi học ở tiểu học, thầy giáo tôi gạt bỏ tất cả những câu có các, những cho đó là Tây; năm 1940, một nhà phê bình chê Thạch Lam viết sai ngữ pháp vì nói một đau khổ mà không nói một nỗi đau khổ; năm 1948, trong quyển Le parler vietnamien, quyển ngữ pháp có giá trị thực sự đầu tiên của người Việt, Lê Văn Lý còn khẳng định tính không thấy có hiện tượng chủ nghĩa xã hội là danh từ đối lập với xã hội chủ nghĩa là tính từ; năm 1960, khi dịch Chiến tranh và hoà bình nhóm dịch gồm bốn người thảo luận mãi không biết có nên viết – Natasa nói – giữa hai ngang nối để chỉ kiến thức chêm; năm 1970, khi xây dựng Thuật ngữ ngôn ngữ học, tôi và nhà ngôn ngữ học Cao Xuân Hạo băn khoăn không biết có nên dịch libialisé là môi hoá không, và vân vân. Nhưng rồi xu hướng hiện đại hoá  cứ tiến lên, các kiến trúc bị xem là Tây đều phổ biến, và chẳng ai bàn đến chuyện bác bỏ nữa. Vào năm 1928, trên từ Đông Tây Hoàng Tích Chu viết những câu văn bị xem là ngô nghê, quá Tây, thì sau này nhiều nhà văn đàn anh mà tôi biết lại xem ông là người có cống hiến lớn vào văn xuôi hiện đại. Thơ Xuân Diệu vào khoảng 1938 bị chê là lố, là Tây. Hai năm sau ai cũng khen rất Việt Nam. Đây là những điều ai cũng thấy. Cũng như xã hội Việt Nam, tiếng Việt đổi mới rất nhanh, trong đó nhiều người làm khoa học, ngôn ngữ thấy mình là người đầu tiên đưa và một từ, một kiểu kết hợp nào đó rồi sau đó nó được thông dụng. Những vấn đề như xây dựng danh từ khoa học, cải cách chữ Quốc ngữ, cách phiên âm, thay thế một số từ Hán Việt bằng từ thuần Việt, cách viết hoa, cách chọn ngôn ngữ chuẩn được mọi người tham gia ,từ người cầm đầu Đảng và Chính phủ đến người dân thường. Ai cũng chủ trương làm trong sáng tiếng Việt. Nếu được phép nhắc đến hai người có công nhất đối với tiếng Việt thì, với tư cách một người làm ngôn ngữ học, và dịch giả chuyên nghiệp, tôi sẽ nói, đó là Đào Duy Anh và Hoàng Xuân Hãn. Hai người này có nhiều điểm giống nhau.
Chỗ giống nhau là tình yêu văn hoá Việt Nam suốt đời, lòng ham học không biết già, không biết mỏi, cách làm việc một mình, không trông đợi ở ai, và những tác phẩm cắm mốc trên đường phát triển của đất nước. Hai người đều là những người giỏi chữ Hán và am hiểu nhất nước về chữ Nôm. Chỗ khác nhau là Đào Duy Anh có một sự đào tạo Tây học tương đối bình thường (tốt nghiệp Cao đẳng tiểu học), còn Hoàng Xuân Hãn đỗ những bằng cao nhất mà học vấn của Pháp có thể cấp.
Điểm thống nhất của ba bộ từ điển bất tử là nó không được dựng lên để tìm kiếm quá khứ, cũng không bó hẹp vào hiện tại, mà để phục vụ tương lai. Nếu tìm trong Hán Việt từ điển những từ Hán Việt cổ, chỉ dành cho các nhà Hán học thì nói chung là không thấy. Nếu sử dụng nó để đọc bài phú Nôm thì chỉ hoài công. Tác giả, trái lại, sưu tập toàn bộ các từ Hán Việt của các tân thư, các từ Hán Việt liên quan tới văn hoá Việt nam, lịch sử Việt Nam ,đặc biệt toàn  bộ các từ Hán Việt liên quan đến chủ nghĩa Marx dù cho lúc bấy giờ chưa xuất hiện. Việc giải thích không dựa trên nghĩa của yếu tố mà dựa trên nội dung. Phần lớn nội dung này là dịch ở các quyển từ điển chuyên ngành của Pháp. Chính vì vậy mà cả một thế hệ dựa vào quyển từ điển này để hiểu các trào lưu hiện đại đang diễn ra. Quyển Pháp Việt từ điển dịch toàn bộ các từ Pháp, các nội dung của học thuật văn hoá Pháp vào những năm ba mươi. Không cần phải nói, vô số khái niệm, từ chưa hề được dùng. Đào Duy Anh không chờ đợi, đón trước khó khăn và đã dịch tất cả. Ông cũng thừa biết làm thế nào một người đơn độc làm được công việc này, cho nên bên cạnh cách dịch có tính chất thí nghiệm, có hàng loạt từ Hàn Việt lấy ở các từ điển của Trung Quốc, Nhật Bản để người sau tiện tham khảo. Do đó, quyển từ điển Pháp – Việt của ông có đầy đủ các từ Hán Việt và chữ Hán. Xu hướng “lo trước” này cũng là xu hướng của Hoàng Xuân Hãn trong Danh từ khoa học. Vì tác giả có được một sự đào luyện vững vàng về khoa học tự nhiên và Hán học, quyển từ điển bắt đầu bằng một bài nghiên cứu có giá trị ngôn ngữ học rất cao về cách dịch. Sau đó, đến các thuật ngữ ông dịch ra và sáng tạo. Ba công trình này làm thành cái nền đá hoa cương trên đó xây dựng ngôn ngữ khoa học Việt Nam ngày nay. Dù cho đánh giá của thế gian đối với thầy Đào, thầy Hoàng có khác nhau, trong óc tôi đó là hai vị học giả lớn, và tôi không giấu giếm là noi gương hai vị thầy, ít nhất là của tôi.
13. Con đường đổi mới tiếng Việt chắc chắn không phải con đường thuần tuý luận (purism). Nó chỉ có thể là con đường tiếp xúc. Do tiếp xúc, tiếng Việt đã Âu châu hoá về văn tự, trước kia một câu chỉ gồm những từ đơn tiết ngoài một số từ Hán Việt và từ láy âm. Giờ đây từ chủ đạo là từ song tiết, nằm trong một cụm từ, có diện mạo khu biệt là danh từ, động từ, tính từ do những đơn vị ngữ pháp (những, các, đã, đang, rất, hết sức,…) đánh dấu bước chuyển hoá. Cái từ chủ yếu là song tiết không chỉ là những từ kép liên hợp kiểu bàn ghế, cháu chắt như xưa mà còn là những cấu tạo có bán phụ tố với bán tiền tố (sự, dễ), bán hậu tố (hoá, chủ nghĩa,…). Yếu tố nối liền là hàng vạn kết hợp dịch từ tiếng Pháp. Từ cách chấm câu, viết hoa, phiên âm đều thiên hẳn về hướng phương Tây. Khó lòng xuất hiện một từ phiên âm kiểu Hán Việt như Nã-phá-luân, Ba-lê ngày trước. Nói bảo vệ sự trong sáng có thể gây cảm tưởng là những sự đổi mới làm tổn hại tới sự trong sáng, và phải duy trì cách diễn đạt cũ. Cần phải nói thúc đẩy tiếng Việt tiến tới sự trong sáng mới để trở thành ngôn ngữ phục vụ khoa học và kỹ thuật hiện đại. Muốn thế, tiếng Việt phải nhanh chóng tiếp thu các thành tựu của các ngôn ngữ biến tố để tìm ra các mẹo chuyển hoá chúng sang một tiếng Việt mới, đồng thời vẫn duy trì đầy đủ bản sắc dân tộc. Xin dẫn vài mẹo.
Một là tận dụng các bán phụ tố không đếm xỉa đến lịch sử.
Thí dụ, trước đây vẫn quen nói tư sản hoá, vô sản hoá. Vì hoá gốc Hán Việt cho nên người ta chỉ chấp nhận những kết hợp thuần Hán Việt. Nếu chấp nhận hoá kết hợp với mọi âm tiết, bất chấp nguồn gốc, thì vốn từ Việt sẽ tăng lên hàng vạn và ta có khả năng động từ hoá mọi sự vật, tính chất: môi hoá, ngói hoá, mềm hoá, axit hoá, Mác hoá v.v…
Siêu trước đây cũng có tình trạng như hoá và ta có siêu lợi nhuận, siêu giai cấp. Bây giờ đã xuất hiện siêu sao, siêu cầu thủ, siêu dẫn, siêu vi rút, siêu cứng
Thời đại lớn hơn ngôn ngữ. Vào thời đại này, mọi ngôn ngữ đều trải qua một sự chuyển biến. Vô số từ viết tắt xuất hiện. Những kiến trúc lai kiểu “Anh – Pháp”, “Anh – Nga” v.v… có mặt trong mọi ngôn ngữ tiến bộ. Khái niệm trong sáng cũng thay đổi. Khi ta có được những biện pháp để làm cho cách diễn đạt ngắn gọn, chính xác, hiểu ngay và Việt Nam thì tại sao lại ăn nói dài dòng, khó hiểu?
Cách thứ hai là soát lại các đơn vị có chức năng ngữ pháp khảo sát triệt để nội dung của chúng, rồi sử dụng chúng phổ biến thành những công cụ ngữ pháp chung.
Một thí dụ về các liên từ chỉ điều kiện. Cho đến nay, chữ nếu dùng quá phổ biến cho mọi điều kiện. Làm thế không diễn đạt được đúng các sắc thái của tư tưởng. Tiếng Việt có một loạt từ chỉ điều kiện đã bị bỏ quên làm cho cách diễn đạt bị nghèo nàn.
Giá là từ chỉ sự hối tiếc, vì điều kiện đã không được thi hành, dẫn tới một kết quả làm người nói ân hận.
Giá tôi nghe anh bây giờ tôi đã giàu có
Nhỡ là từ chỉ sự lo lắng sẽ có một điều kiện không may xảy ra nhưng điều này vẫn chưa xảy ra.
Tôi phải ghi tất cả nhỡ quên mất gì chăng.
Ví thử là từ chỉ một giả thiết có thể thực hiện, đã không thực hiện những hậu quả có thể không đáng tiếc.
Ví thử tôi biết, tôi đã bảo anh.
Thản hoặc chỉ một sự lựa chọn giữa nhiều điều kiện nhưng không có tính chất quyết định, có tính chất ngẫu nhiên.
Thản hoặc anh ấy đến đây nhưng không hề báo trước
v.v…
Cũng vậy các ngữ liên kết phải được phân biệt rõ ràng để cho tư duy thực sự chính xác. Thực vậy là để khẳng định điều đã nói, còn thực ra là để bác bỏ v.v…
Tôi chỉ đề cập sơ bộ đến hướng phát triển. Khó lòng hình dung sự phát triển tiếng Việt chỉ dựa vào nội bộ tiếng Việt, không có sự tiếp xúc với những ngôn ngữ đã làm chủ khoa học.
14. Bây giờ nói đến tác dụng đối với văn hoá của sự thay đổi về ngôn ngữ ở trong tư duy người Việt. Vấn đề này đã được Humboldt đặt ra về mặt ngôn ngữ học, Bergson và Heidegger nêu lên về mặt triết học. Nhưng dầu sao, các tác giả vẫn vấp phải một bức tường không thể vượt qua được là chính ngôn ngữ của họ. Ngôn ngữ này về căn bản là thống nhất do cái nguồn gốc biến tố của tiếng Ấn Âu, do quá trình diễn biến chung từ thời Hy Lạp đến giờ, đặc biệt từ thời Phục hưng. Kết quả là một kiến trúc mới, một từ mới xuất hiện ở Italia thì trong chốc lát ta thấy một kiến trúc sao phỏng ở Nga, ở Pháp, ở Đức, ở Anh, và nó nhập vào gia tài ngôn ngữ phương Tây. Chính đó là cơ sở cho phép một người Pháp chỉ cần hiểu ngữ pháp một tiếng châu Âu thì lập tức đọc được các từ chuyên môn của ngôn ngữ này mà không cần học toàn bộ văn hoá của nó. Nhưng cha ông ta muốn đọc sách Hán thì phải học thuộc một vốn sách khá lớn và thế hệ tôi cũng phải đọc nhiều sách Pháp mới hiểu được tiếng Pháp. Trái lại, thế hệ sinh sau 60 nói chung không phải vất vả như vậy vì tối đại đa số các cách diễn đạt của phương Tây đều đã được sao phỏng ra tiếng Việt rồi.
Mặt khác, ngôn ngữ không chỉ là cái vỏ của tư duy. Nó còn là một kiểu tư duy. Nếu cho nó là công cụ đi nữa thì bút sắt và bút lông đều là công cụ để viết. Những chữ viết bằng bút sắt có những ưu thế và những nhược điểm khác chữ viết bằng bút lông. Tiếng Việt xưa là viết bằng bút lông. Giờ đây nó về cơ bản là viết bằng bút sắt. Ta hãy xét những sự khác nhau.
Đây là hai câu của Lê Quý Đôn viết bằng bút lông trong bài “Mẹ khuyên con khi về nhà chồng”.
Con, con mẹ, mà dâu, dâu người vậy. Hoặc lời ăn tiếng nói chi ra tuồng ai còn bảo con chi còn nhỏ.
Dâu, dâu người, mà con, con mẹ vậy. Hoặc trong cửa trong nhà chi có chuyện, tức yêu nên tốt ghét nên xấu rồi ra trách mẹ chi không răn.
Hai câu này trừ mấy chữ chi là loại chữ đệm của một thể văn riêng, còn là rất tiêu biểu cho văn xuôi văn học cổ. Nó khác văn xuôi hiện đại ở những điểm sau:
1. Một là về chấm câu. Các dấu chấm câu là do tôi thêm vào cho dễ đọc chứ văn ngày xưa không có chấm câu, viết hoa gì hết. Trong văn để đi thi không được chấm câu. Còn trong sách thì, nói chung, chỉ có một dấu chấm thay thế mọi dấu chấm câu (dấu phẩu, dấu chấm, dấu hỏi).
2. Tất cả các đơn vị đều là từ đơn tiết, mỗi từ có một chức năng ngữ pháp độc lập, riêng biệt. Chưa xuất hiện ngữ danh từ, ngữ động từ, ngữ tính từ…
3. Các từ cứ dàn ra mặt mày như nhau, mọi quan hệ giữa chúng đều vắng mặt. Các quan hệ này người đọc phải tự mình phát hiện. Bằng cách nào? Bằng cách đối lập ở trục ngang trong cùng một câu. Thí dụ “con, con mẹ, mà dâu, dâu người vậy” là quan hệ tương phản do đó nghĩa nó là: Mặc dầu con là con của mẹ, nhưng giờ khi đã làm dâu thì con là dâu của người ta rồi”. Rồi đối lập giữa vế trước với vế sau để rút ra quan hệ. Khi một người tiếp xúc với văn hoá phương Tây thì anh ta phải chủ động quan hệ hoá tư tưởng của mình, để cho người đọc chỉ có thể hiểu một cách duy nhất mà thôi. Do đó, anh ta sẽ loại trừ sự cân đối, cơ sở quan trọng nhất ngày xưa để tạo nên quan hệ, đưa thêm những từ chỉ quan hệ (giới từ, liên từ, từ đưa đẩy), đặt từ vào ngữ để khu biệt rõ tính chất (danh từ, động từ, tính từ). Thí dụ, hai câu trên, diễn đạt bằng ngôn ngữ hiện đại sẽ là:
Mặc dầu con là đứa con của mẹ, nhưng giờ đây đã làm cô dâu, thì con là cô dâu của người ta rồi. Do đó, nếu như cách nói năng và cư xử của con có điều gì không hay thì điều hay, điều dở sẽ đồn đi xa. Làm gì có người nào bảo rằng con hãy còn nhỏ dại như xưa?

Mặt khác, tuy con đã là cô dâu của người ta, nhưng về mặt người con, con vẫn cứ là đứa con của mẹ. Cho nên một khi ở nhà chồng có chuyện không hay thì, thói đời vẫn thế, người ta thương ai sẽ khen người ấy, người ta ghét ai sẽ chê bai người đó. Thế rồi con sẽ trách mẹ là không răn dạy con trước.
Cách viết bút lông có ưu điểm là ngắn gọn, súc tích, thúc đẩy sự suy nghĩ của người đọc, tức là bóng bẩy, nhịp nhàng. Tóm lại, có một só ưu điểm nghệ thuật. Nhưng rõ ràng nó thiếu tính chính xác, tính một nghĩa, tính chặt chẽ của tư duy. Luận ngữ và Đạo đức Kinh là hai tác phẩm triết học lớn nhất của Trung Quốc, nhưng vì đều viết theo kiểu bút lông, cho nên ở từng câu một, có nhiều cách giải thích khác nhau đến mức trên hai ngàn năm nay chẳng cách nào xác định đúng sai được. Không thể nào dùng bút lông để làm nhà máy nguyên tử, để đưa khoa học kỹ thuật vào cuộc sống được. Ta phải dùng bút sắt thôi. Còn khi muốn tạo nên một bài thơ đa nghĩa, nhịp nhàng, bóng bẩy, hay che đậy ý định của mình thì bút lông còn đó. Có thiệt gì đâu?
Còn dưới đây là một đoạn văn của Nguyễn Trong Quản trong truyện “Truyện thầy Lazaro Phiền”. Tác giả đã học trường Trung học Pháp ở Alger tức là thông thạo tiếng Pháp, tác phẩm xuất bản năm 1887. Ở đây, bắt đầu có tiếp xúc với cách dùng liên từ và giới từ, nhưng vẫn chưa phải là tiếng Việt hiện đại: từ đơn tiết vẫn làm bá chủ.
“Chiếc Jean Dupuis đinh 10 giờ mới chạy, nên còn hai giờ chẳng biết làm gì? Muốn lên bờ đi dạo một hai vòng xem phố xá thành Sài Gòn chơi, mà trong mình có ý mệt cho nên không lên, vậy mới tính lên sàn tàu coi có cái ghế nào không, mà nằm nghỉ cùng xem trăng chơi, vì ngày ấy là nhằm ngày rằm tháng chạp Annam là 12 Janviet 1884”.
15. Bây giờ ta hãy khảo sát xem về mặt triết học có những gì xảy ra trong cách tư duy Việt Nam, khi ngôn ngữ thay đổi. Dĩ nhiên, người Việt thông thường không thể nhận thức được điều này, vì đây là chuyện hiển nhiên mà thông thường cái gì càng hiển nhiên – càng khách quan, thì càng khó giải thích về triết học.
1. Thứ nhất, là sự ra đời của khái niệm trừu tượng. Trước kia, khi cái từ chỉ là từ đơn tiết, mọi từ đơn tiết đều là cụ thể: trời, đất, bàn, ghế, sống, chết, giàu, nghèo… Dù có nói ông trời, đạo, lý,… thì đó là ông trời cụ thể, đường đi, lẽ phải v.v… Nó chỉ có nghĩa bóng là trừu tượng thôi. Mà sự trừu tượng hoá là cái thìa khoá để mở cửa vào lâu đài khoa học. Một khái niệm trừu tượng là một sự trừu xuất của lý trí từ một khái niệm cụ thể. Phải xuất phát từ khái niệm cụ thể, rồi thêm một yếu tố ngôn ngữ để khẳng định sự trừu xuất này, lúc đó ta mới có khái niệm trừu tượng. Những từ kiểu ghép đôi như sống chết, giàu nghèo, bàn ghếlà những từ tổng hợp, có một nội dung khái quát được cấu tạo riêng cho các ngôn ngữ đơn tiết như Thái Lan, Việt, Trung Hoa… mà không có tính chất trừu tượng. Bởi vì khi trừu xuất thì chỉ trừu xuất một đặc tính thôi và rõ ràng sống không phải là chếtgiàu không phải là nghèo.
Chỉ đến khi ra đời cái chết, sự sống, sắc đẹp, cái đẹp, v.v… lúc đó người Việt Nam mới thực sự có biểu thức trừu tượng. Trường hợp này, dù trước kia có xảy ra, nhưng vẫn hết sức cá biệt, trong óc người Việt Nam không có khái niệm rằng có thể tạo nên một biểu thức trừu tượng từ một động từ hay một tính từ. Nhưng khi tiếp xúc với tiếng Pháp, trong đó nói chung, một động từ như vivre (sống) có thể chuyển thành một danh từ là vie (sự sống), một tính từ như beau(đẹp) có thể chuyển thành một danh từ như le beau (cái đẹp), la beauté (sắc đẹp) thì trong óc người Việt mới có khái niệm rằng người ta có thể xây dựng từ bất kỳ động từ, tính từ nào những biểu thức trừu tượng tương ứng, có giá trị ngang những từ trừu tượng của châu Âu. Và đây là một tiến bộ cực kỳ quan trọng của tiếng Việt.
2. Thứ hai, là sự xây dựng những kết hợp có nghĩa tương đương với từ, nhưng thuộc những từ loại khác nhau, hệt như trong các ngôn ngữ biến tố: với xã hội(société) ta có thể tạo nên chủ nghĩa xã hội (socialisme) là danh từ, xã hội hoá (socialiser) là động từ, sự xã hội hoá (socialisation) là danh từ trừu tượng v.v… Và lúc đó, tiếng Việt thực sự có từ gốc ít nhất, tạo nên một số lượng từ vô hạn, đủ mọi từ loại cần thiết, với mọi sắc thái ngữ nghĩa cần thiết, để bổ sung cho vốn từ gốc nhằm thoả mãn mọi yêu cầu của tư duy khoa học và kỹ thuật. Chỉ đến lúc đó thôi, người Việt mới yên tâm về khả năng phục vụ khoa học của tiếng Việt. Sự tiến bộ và sự phong phú của một ngôn ngữ hoàn toàn không lệ thuộc vào vốn từ của nó nhiều hay ít, mà chỉ lệ thuộc vào khả năng xây dựng các biểu thức có tính chất từ đủ để ứng phó với mọi biện pháp cấu tạo từ của các ngôn ngữ châu Âu. Phải nói các biện pháp này đều do sự tiếp xúc của tiếng Việt với trước hết là tiếng Pháp, và sau đó là tiếng Nga: Sự cấu tạo tính nhân dân từ nhân dân là do ảnh hưởng tiếng Nga vào những năm 60, xuất phát từ sự đối lập giữa narod (nhân dân) với narodnost (tính nhân dân).
3. Thứ ba, là khả năng diễn đạt tư tưởng theo một kiểu mới trước đây không quen làm. Mỗi câu chỉ có thể có một vế chính, ngữ pháp thường gọi là mệnh đề chính. Rồi cái mệnh đề chính ấy có những yếu tố để ngoắc với những mệnh đề phụ bậc một tức là những mệnh đề chỉ lệ thuộc vào mệnh đề chính mà thôi. Sau đó các mệnh đề phụ bậc một này lại có những mệnh đề phụ của nó gọi là mệnh đề phụ bậc hai và các mệnh đề phụ bậc hai này chỉ lệ thuộc vào các mệnh đề phụ bậc một thôi, đồng thời có dấu hiệu ngôn ngữ cho thấy sự lệ thuộc này. Rồi cứ thế, có thể có những mệnh đề phụ bậc ba, bậc bốn, cũng theo kiểu như vậy. Đồng thời, để cho tư tưởng uyển chuyển, trong câu văn có nhiều kiến trúc chêm để đưa đẩy (theo kiểu không những thế, trái lại, nói khác đi, như trên đã nói, không cần phải nói v.v…). Tôi gọi nó là câu văn có dán nhãn, tức là có nhãn hiệu cho biết nó là chính hay là phụ, mà là phụ kiểu nào (kiểu thời gian, vị trí, điều kiện, nhượng bộ, cách thức v.v…), ở cấp độ nào (bậc một, bậc hai…). Chỉ đến lúc đó thôi, ta mới có ngôn ngữ của tư duy khoa học, tức là một ngôn ngữ kiểu mới, ngôn ngữ để cải tạo thế giới xã hội theo yêu cầu của con người.
Câu văn này là sản phẩm của Hy Lạp, bắt nguồn từ ven bờ Địa Trung Hải. Nó đã hình thành trọn vẹn trong câu văn của Platon (thế kỷ V trước Công nguyên), rồi truyền khắp phương Tây. Nó là sản phẩm của một kiểu tư duy riêng, tư duy suy lý (pensée  discursive). Không có ai tư duy ấy, thì không thể có câu văn ấy, và khi một ngôn ngữ (tiếng Việt chẳng hạn) đã quen với câu văn ấy, thì tư duy suy lý sẽ chiếm lĩnh cách tư duy của dân tộc này ở trong tiềm thức. Rồi dân tộc tiếp nhận cách tư duy ấy sẽ vượt các kiểu tư duy khác, đến mức nó nhìn một câu văn tổ chức kiểu trái ngược, chống lại cách tổ chức của nó như là một sự lỏng lẻo về ngữ pháp. Kiểu câu này không thể ra đời một sớm một chiều, mà phải trải qua một quá trình thai nghén lâu dài. Theo tôi, ở Việt Nam  quá trình này phải đến những năm 50 mới hoàn tất. Người tiêu biểu nhất cho câu văn này ở Việt Nam là Trường Chinh.
Một thí dụ để chứng tỏ cái vất vả của quá trình chuyển hoá này. Người Việt Nam am hiểu nhiều ngoại ngữ nhất là Trương Vĩnh Ký. Cho đến nay, vẫn chưa có ai sánh ngang vị học giả lỗi lạc này về mặt am hiểu các ngôn ngữ phương Tây, cổ và kim, nơi đã hình thành câu văn suy lý. Nhưng dù ông có giỏi ngoại ngữ đến đâu, đặc biệt là giỏi tiếng Hy Lạp, Latinh đến đâu – ở đấy câu văn suy lý chiếm ưu thế đến mức là một ám ảnh nhức nhối dưới hình thức những trường cú(période) nguy nga – ông vẫn chưa viết được câu văn suy lý Việt Nam. Đây là một câu của ông:
“Nay vì bởi không có vốn cho đủ in luôn sách Thông loại Khoá trình nữa, nên cực chẳng đã phải đình in cho đên khi các nơi, các xứ có người chịu mua trước cho đủ số ít là 2000, 2500 thì mới có lẽ mà in lại nữa được là có tiền mà trả tiền in, cho ít nữa là 2/3 thì mới dám lĩnh luôn”
Trong câu văn này của vị học giả uyên bác nhất về ngoại ngữ đã có những bằng chứng của sự sao phỏng do tiếp xúc. Một là các kiến trúc chêm (cực chẳng đã, ít là, có lẽ, cho ít nữa), hai là những liên từ, giới từ đưa vào để tổ chức câu văn (vì bởi, cho đến khi, mới) tất cả đều là sản phẩm dịch. Nhưng tất cả đều dàn ra hàng ngang chưa lập thành tôn ty, mà chưa có tôn ty thì cách nào xác lập tư duy suy lý được? Nếu viết theo ngôn ngữ hiện đại, đại khái có thể đổi như sau:
Hiện nay, do chỗ không có đủ vốn để in tiếp sách Thông loại khoá trình cho nên, cực chẳng đã, phải tạm đình việc in tiếp. Phải chờ cho đến khi ở các nơi ,các xứ, số sách bán trước được là 2000, 2500 bản, lúc đó mới có khả năng in tiếp, bởi vì chỉ có như thế, mới có thể có tiền trả tiền in, ít nhất là trả được 2/3 tiền in, nhà in mới chịu đảm nhận việc in tiếp.
Câu văn hiện đại là câu văn có tôn ty. Để tránh bàn chuyện ngôn ngữ học, tôi sẽ không nói đến mệnh đề, mà nói đến ý.
Câu thứ nhất có tôn ty như sau:
a) Ý chính: tôi phải đình chỉ việc in tiếp
b) Ý phụ bậc một chỉ lý do: do chỗ không có đủ vốn
c) Ý phụ bậc hai: để in tiếp
Câu thứ hia có tôn ty như sau:
a) Ý chính: Phải chờ… bản.
b) Ý phụ bậc một chỉ thời gian: Lúc đó…
c) Ý phụ bậc hai chỉ lý do: Bởi vì… tiền in.
d) Ý phụ bậc ba chỉa điều kiện: nhà in… in tiếp.
Một người am hiểu tiếng Latinh như Ký thừa biết sự tồn tại của những trường cú (période) Latinh thường dàn ra đến ba trăm chữ với mọi ý phụ, cách nối, tôn ty làm người đọc kiệt sức. Tôi nhớ có một nhà ngôn ngữ học nói lẽ ra người La Mã đã chiếm cả thế giới rồi. Nhưng câu trường cú của họ khiến họ quá vất vả, nên chỉ chiếm được một nửa thế giới mà thôi. Không phải Trương Vĩnh Ký không muốn viết theo kiểu thứ hai. Nhưng ông chưa có một truyền thống sao phỏng phong phú, để có thể viết được câu văn suy lý. Một nhà ngôn ngữ học để phục vụ tiếng Việt không bàn chuyện đạo đức, mà bàn các thao tác thúc đẩy tiếng Việt tiến tới ngôn ngữ suy lý, để thoát khỏi nghéo khổ. Ngay khi dịch Hán cổ, nếu ta dịch theo lối cổ thì chẳng cách nào làm người đọc tiếp thu được nó. Cách sách Hán cổ nếu không đổi mới về hình thức, thì sẽ không tác dụng đến người Việt Nam hôm nay, bởi vì người Việt hôm nay đã đi theo con đường tư duy suy lý của phương Tây. Sự thay đổi này, theo tôi là sự thay đổi lớn nhất trong ngôn ngữ của thế kỷ này, nhưng vì nó quá hiển nhiên nên không ai chú ý đến nó.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét