Chủ Nhật, 13 tháng 5, 2012

Những bài học kinh nghiệm chưa học từ Việt Nam


Những bài học kinh nghiệm chưa học từ Việt Nam

Earl Tilford
Người dịch: Dương Lệ Chi
30-04-2012
Sau khi Sài Gòn sụp đổ ngày 29 tháng 4 năm 1975, các nhà chiến lược dân sự và quân sự tìm kiếm “những bài học kinh nghiệm”. Nhiều bài học về chiến thuật hay kỹ thuật, chẳng hạn như hiệu quả hoạt động của các loại vũ khí định vị chính xác và sự cần thiết tiếp tục dùng súng trên máy bay chiến đấu.
Ở cấp độ chiến lược, một chuyên gia khuyến cáo rằng, Hoa Kỳ không nên trở lại chiến đấu ở một thuộc địa cũ của Pháp, nằm phía bên kia thế giới, có biên giới tiếp giáp với các nguồn tiếp tế của kẻ thù, bị chi phối bởi một đồng minh không rõ ràng, không hợp pháp về mặt chính trị. Sau khi Sài Gòn sụp đổ 37 năm trước, Hoa Kỳ bắt tay vào một cuộc chiến không thỏa mãn khác, kết quả dường như giống nhau đến kỳ lạ. Điều gì còn thiếu sót trong các đánh giá thời hậu [chiến] Việt Nam, có thể đã cung cấp thông tin về cách tiếp cận chiến lược hiệu quả trong cuộc chiến chống khủng bố?
Trước tiên, cần tìm hiểu bối cảnh lịch sử. Sự can thiệp vào Việt Nam là kết quả của tư duy chiến tranh lạnh, cho rằng cuộc chiến ở miền Nam Việt Nam là một phần của một âm mưu lớn hơn: “âm mưu của cộng sản nhằm thống trị thế giới”. Điều đó càng làm cho Việt Nam quan trọng hơn. Kết quả của sự can thiệp vào cuộc tranh đấu nội bộ đã cột chặt uy tín của Hoa Kỳ vào một nguyên nhân không rõ ràng. Bài học: Hãy quan sát thật kỹ tình hình địa phương trước khi không thể đảo ngược chuyện mang quân đi đánh.
Thứ hai, nhiều nguy hiểm ngày càng gia tăng. Có một lời đồn đoán rằng, Hoa Kỳ “mắc phải sai lầm ngớ ngẩn” khi sa vào vũng lầy Việt Nam. Sự can thiệp của Mỹ đến từ một loạt các hành động nhỏ, ngày càng gia tăng, mỗi hành động dường như không rủi ro lắm. Đến cuối năm 1965, với hơn 100.000 quân nhân Mỹ cam kết đến Việt Nam, sự hiện diện của họ trở thành con tin của một chính sách sai lầm. Chi phí chính trị để rời khỏi Việt Nam dường như lớn hơn chi phí quân sự để ở họ lại nước này.
Thứ ba, sức mạnh quân sự có thể đạt được ở một giới hạn nhất định. Năm 1961, khi chính phủ Kennedy quyết định “vẽ một đường trên cát” ở Việt Nam, nhận định rằng toàn bộ quân đội là sức mạnh quân sự của Mỹ, đủ sức đánh bại Đức quốc xã, phát xít Ý, và đế quốc Nhật trong vòng chưa đầy bốn năm, nên dễ dàng nhấn chìm cuộc nổi dậy ở miền Nam Việt Nam, được sự hỗ trợ bằng khả năng quân sự cạn kiệt của miền Bắc. Chắc chắn một quốc gia đã từng vươn ra ngoài vũ trụ không phải lo sợ nhiều về một đất nước mà rất ít người biết lái ô tô.
Lịch sử chứng minh rằng các nước nhỏ và các phong trào yêu nước nồng nàn có thể đánh bại các cường quốc lớn. Như nước Anh đã đánh bại Đế chế Tây Ban Nha trong thế kỷ 16. Cuộc cách mạng Mỹ đã thành công trong việc chống lại Đế quốc Anh. Nhật Bản đánh bại Nga hồi năm 1905.
Tháng 3 năm 2003, với Chiến dịch Tự do cho I-rắc, dự định rằng lực lượng Hoa Kỳ sẽ có mặt ở Baghdad trong vòng một tháng, và đã mất ba tuần. Sau đó thì cuộc chiến thực sự bắt đầu và lực lượng Hoa Kỳ ngày càng suy yếu trong tám năm sau đó.
Huấn luyện viên bóng bầu dục ở bang Alabama, ông Paul “Bear” Bryant suy ra: “Đây không phải là kích thước của con chó trong trận đánh mà là quy mô của trận đánh mà con chó đó tham gia“.
Thứ tư, phải hiểu rõ kẻ thù. Từ khi bắt đầu cuộc chiến Việt Nam, giả định chết người là Hà Nội và Mặt trận Giải phóng Dân tộc – Việt Cộng – có thể bị buộc sử dụng vũ lực ngày càng gia tăng. Mục tiêu của họ không tuân theo hệ quy chiếu lôgic của chúng ta. Bắc Việt và Việt Cộng sẵn sàng trả một giá rất lớn để giành chiến thắng.
“Cuộc chiến chống khủng bố” bị thất bại trong việc xác định kẻ thù khi các chiến binh Hồi giáo chính thống kiên quyết đánh bại Hoa Kỳ, để cuối cùng dẹp nền văn minh Do Thái – Kitô giáo. Hiểu được mình cũng quan trọng như hiểu được kẻ thù.
Thứ năm, người Mỹ không kiên nhẫn. Vào năm 1946, tướng chỉ huy quân đội, ông George C. Marshall nói: “Mỹ không thể chiến đấu một cuộc chiến bảy năm”. Năm 1968, cuộc tấn công Tết Mậu Thân xảy ra gần như đúng bảy năm sau khi chính phủ Kennedy vẽ một đường trên cát tại Việt Nam. Các nỗi thất vọng lớn dần trong các chính phủ sau đó, chính phủ tổng thống Lyndon Johnson và Richard Nixon, làm suy yếu quyết tâm của công chúng.
Thứ sáu, hãy cẩn thận với các cam kết bỏ ngỏ đối với những chế độ mà tính hợp pháp của nó thiếu minh bạch. Ở Việt Nam, lúc đầu Hoa Kỳ cam kết quyền lực và uy tín, ủng hộ ông Ngô Đình Diệm, tự cho là “người Công giáo có nguồn gốc từ thời các nhà truyền giáo Tây Ban Nha thế kỷ 16″, người cai trị giống như một quan lại trong một đất nước có đông đảo người dân theo đạo Phật, đấu tranh để vứt bỏ quá khứ thuộc địa của mình. Cuối năm 1963, ông Diệm đã cho thấy [sự điều hành chính phủ] không hiệu quả, Hoa Kỳ đã mặc nhận cuộc đảo chính với kết quả là sự thành công của các nhà độc tài quân sự.
Lịch sử không được gọn gàng khi những sai lầm trong cuộc chiến chống khủng bố hoàn toàn tương tự như những gì đã xảy ra ở Việt Nam. Cuộc chiến hiện tại được tiến hành với một lực lượng tình nguyện, không phải với một lực lượng bị ép buộc nhập ngũ. Từ tháng 10 năm 2001 cho đến nay, lãnh đạo quân sự Mỹ, ở mọi cấp, đã xuất sắc hơn. Sai lầm lớn của chính phủ Bush là không xác định rõ kẻ thù. Sai lầm của chính phủ Obama là đã thiết lập thời hạn rút quân.
Trong chiến tranh thường không thể đoán trước sức lực của con người, đầy những sự kiện bất ngờ và khá thường xuyên, khi nhận thức sai lầm về mặt chiến lược, thì cuộc chiến sẽ kéo dài và tàn bạo hơn dự đoán. Đó là lý do mà hơn 2000 năm trước, Tôn Tử đã viết, “Chiến tranh là vấn đề có tầm quan trọng sống còn, quan hệ giữa sự sống và cái chết, sự tồn tại hoặc thất bại [của nhà nước]. Nên phải khảo sát nghiên cứu cho thật kỹ“.
Tác giảTiến sĩ Earl Tilford là một sử gia quân sự, là người nghiên cứu về Chủ nghĩa khủng bố và Trung Đông, thuộc The Center for Vision & Values, Trường Grove City College. Ông hiện sống ở Tuscaloosa, Alabama, nơi ông đang viết lịch sử trường Đại học Alabama, thập niên 1960. Ông còn là một sĩ quan tình báo không quân, tiến sĩ Tilford lấy bằng tiến sĩ về lịch sử quân sự Mỹ và châu Âu tại Đại học George Washington. Từ năm 1993 đến năm 2001, ông là Giám đốc Nghiên cứu tại Viện Nghiên cứu Chiến lược Quân sự Mỹ. Năm 2001, ông rời bỏ công việc chính phủ để làm giáo sư cho trường Grove City College, ở đó, ông đã dạy các khóa về lịch sử quân sự, an ninh quốc gia, và chủ nghĩa khủng bố quốc tế và quốc nội và chống khủng bố.
Bản tiếng Việt © Việt sử ký 2012

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét