Thứ Tư, 25 tháng 4, 2012

ĐƯỜNG LÂM LÀ ĐƯỜNG LÂM NÀO?


TẠP CHÍ XƯA & NAY

ĐƯỜNG LÂM LÀ ĐƯỜNG LÂM NÀO?

SỐ 400 (3-2012)
Trần Ngọc Vương-Trần Trọng Dương-Nguyễn Tô Lan
SAU KHI XƯA NAY SỐ 391 (11/2011) ĐĂNG BÀI “ĐƯỜNG LÂM – SƠN TÂY PHẢI CHĂNG LÀ MỘT HUYỀN SỬ CỦA THẾ KỶ XX”, CHÚNG TÔI ĐÃ NHẬN ĐƯỢC MỘT SỐ Ý KIẾN TRANH LUẬN CỦA CÁC NHÀ NGHIÊN CỨU VỀ VẤN ĐỀ NÀY. ĐỂ TIẾP TỤC CUỘC TRAO ĐỔI, CHÚNG TÔI XIN ĐĂNG GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU CỦA NHÓM TÁC GIẢ TRẦN NGỌC VƯƠNG.
“ĐƯỜNG LÂM Ở SƠN TÂY” LÀ KẾT LUẬN CUỐI CÙNG ĐƯỢC TRẦN QUỐC VƯỢNG(1) ĐƯA RA NĂM 1967, KẾT LUẬN NÀY CHẤM DỨT GIẢ THUYẾT CỦA ĐÀO DUY ANH VỀ MỘT CHÂU ĐƯỜNG LÂM CŨ VÀO CÁC THẾ KỶ VII-X ĐƯỢC GHI CHÉP TRONG CÁC CỔ THƯ TRUNG HOA. TỪ BẤY ĐẾN NAY, ĐỊA DANH ĐƯỜNG LÂM-SƠN TÂY ĐÃ NỔI TIẾNG NHƯ MỘT VÙNG ĐẤT THIÊNG, MỘT ẤP HAI VUA: PHÙNG HƯNG-BỐ CÁI ĐẠI VƯƠNG VÀ NGÔ QUYỀN -“VỊ TỔ TRUNG HƯNG THỨ NHẤT CỦA DÂN TỘC” (CHỮ DÙNG CỦA PHAN BỘI CHÂU). ĐƯỜNG LÂM LÀ QUẦN THỂ DI TÍCH CẤP QUỐC GIA, ĐƯỢC NHÀ NƯỚC ĐẦU TƯ TRỌNG ĐIỂM VỀ VĂN HÓA VÀ DU LỊCH, RỒI TỪNG ĐƯỢC ĐỀ CỬ TRƯỚC UNESCO CÔNG NHẬN LÀ DI SẢN VĂN HÓA THẾ GIỚI. ĐƯỜNG LÂM-SƠN TÂY TRẢI QUA GẦN 50 NĂM, GIỜ ĐÃ TRỞ THÀNH CHÂN LÝ KHÔNG CẦN BÀN CÃI. GIẢ THUYẾT CỦA CÁC BẬC CỰU HỌC THUỞ NÀO ĐÃ ĐI VÀO QUÊN LÃNG. BÀI VIẾT NÀY MUỐN ĐƯA ĐỘC GIẢ QUAY TRỞ LẠI VỚI NHỮNG GIẢ THUYẾT XƯA.
Trong lập luận của Trần Quốc Vượng năm xưa, điểm cốt tử nhất không hẳn nằm ở chỗ ông đã dùng phải một văn bia có khả năng là bia ngụy tạo, mà ở chỗ ông đã dùng các cứ liệu “cấp hai”, “cấp ba”… để phủ định lại các cứ liệu cấp một của những học giả đi trước. Trong bài này, chúng tôi tiếp tục đi theo hướng mà Đào Duy Anh đã sử dụng khi viết cuốn chuyên luận bất hủ Đất nước Việt Nam qua các đời, đó là hướng đi tìm và khảo cứu về quê quán châu Đường Lâm của Phùng Hưng và Ngô Quyền qua những tư liệu được viết trong chính thời đại hoặc gần nhất với thời đại của hai vị vua này. Một điều lạ, mà trước khi khảo cứu chúng tôi không thể tưởng tượng, là tất cả các cổ thư từ đời Trần đổ về trước đều trùng khít với nhau, và tạo thành một thế lôgic liên hoàn sáng rõ. Để tiện theo dõi, chúng tôi trước tiên sẽ khảo cứu về địa danh Đường Lâm qua các thư tịch thường dùng hiện nay – mà ở đây tạm gọi là “hậu sử’.

Đường Lâm – từ những ghi chép của sử gia triều Lê

Đại Việt sử ký toàn thư (ĐVSKTT) trước nay vẫn được coi là bộ sử chính thống, quan phương, cổ nhất, có giá trị nhất may mắn còn giữ lại được. Bộ sử này là sự lũy tích văn hiến qua nhiều triều vua Lê, khởi từ các vua Lê Thái Tông, Lê Thánh Tông, mà văn bản chúng ta may còn lại được đến nay là bản in vào cuối thế kỷ XVII (1697). Bộ sử ấy có ghi mấy dòng đề cập đến địa danh Đường Lâm như sau: “Họ Ngô, tên húy là Quyền, người Đường Lâm, đời đời là nhà quý tộc. Cha là Mân làm chức châu mục ở bản châu”(2).
Thiên Nam ngữ lục(3) - trường ca về lịch sử Việt Nam ra đời khoảng cuối thế kỷ XVII, ghi lịch sử từ thời Hồng Bàng tới thời Lê Trung Hưng. Đây là một tác phẩm được nhiều nhà nghiên cứu dùng làm tư liệu cơ sở để đối chiếu với các sách sử cổ khác. Sách này cũng biên chép một cách khá chừng mực như sau: “Quyền cũng Đường Lâm con dòng, cha làm Thái thú(4) lĩnh trong Nam thành (c.3141); Đường Lâm sinh có anh hùng, bấy chừ một đạo quân hùng trội hơn, Thằng Nguyễn Chí Bình Lam Sơn(5), ở ra những nết đa đoan hại người. Bèn bảo em là Phùng Cai, anh hùng ta cũng chí trai tang bồng (Phùng kỷ, c3041); Cùng Dương Tam Kha toan rằng: Đường Lâm trở lại thuở chưng trong đời (c.3254).”
ĐVSKTT cũng như Thiên Nam ngữ lục khi dẫn địa danh Đường Lâm không chú rõ Đường Lâm là ở đâu đã gây lúng túng cho sử gia đời sau khi tìm hiểu quê hương của Ngô Quyền. Mặt khác, điều này cũng thể hiện sự cẩn trọng của sử gia Việt Nam đối với những thông tin họ chưa thể kiểm chứng, đối chiếu, nhất là ở thời kì Việt Nam còn chưa có nhà nước, chưa có biên chép sử, những thông tin về thời kì này, phần lớn dựa vào thư tịch cổ Trung Quốc. Điểm quan trọng nhất ở đây không phải bản thân địa danh Đường Lâm mà là thông tin cha Ngô Quyền là người Đường Lâm và làm chức châu mục ở bản châu. Như thế, Đường Lâm có thể là tên một châu, mà Ngô Mân làm châu mục. Vậy, câu hỏi đặt ra là châu Đường Lâm này là châu Đường Lâm nào(6)? Nó khác gì không so với xã Đường Lâm Sơn Tây (ngày nay)?

Đường Lâm ở Sơn Tây: kết luận của các sử gia nhà Nguyễn thế kỷ XIX

Từ những thông tin cẩn trọng trong các bộ sử của triều Lê, các sử gia đời Nguyễn thế kỷ XIX đã tiến hành khảo cứu sâu hơn về địa danh này. Sự khảo cứu ấy được trình bày như dưới đây.
Nguyễn Văn Siêu (1795-1872) trong Đại Việt địa dư toàn biên, Địa chí loại, quyển 5, tỉnh Sơn Tây, phủ Quảng Oai, huyện Phúc Thọ, tr.402 có viết: “Xét huyện Phúc Thọ là đất Phúc Lộc đời xưa. Cựu sử chép răng: Đường Lâm ở huyện Phúc Lộc. (Mà) Xét Đường địa lý chép rằng: châu Phúc Lộc có ba huyện Nhu Viên, Phúc Lộc và Đường Lâm. Từ Hoan Châu đi về phía đông hai ngày đến huyện Ninh Viễn (tức Nhu Viên) châu Đường Lâm. Đi về phía nam qua sông cổ La hai ngày đến nước Hoàn Vương… Lịch triều hiến chương lại chép rằng:… ‘Nhu Viễn bây giờ là huyện Gia Viễn. Đường Lâm nay là đất huyện Hoài An, huyện Mỹ Lương…’ Nay xét sử cũ chép: Bố Cái Đại Vương là Phùng Hưng. Tiền Ngô Vương Quyền đều là người Đường Lâm. Nay xã Cam Lâm, tổng Cam Giá, huyện Phúc Thọ (xã Cam Lâm trước là xã Cam Tuyền) có hai đền thờ Bố Cái Đại Vương và Tiền Ngô Vương. Còn có một bia khắc rằng: Bận xã đất ở rừng rậm, đời xưa gọi là Đường Lâm, đời đời có anh hào. Đời nhà Đường có Phùng Vương tên húy Hưng, đời Ngũ Đại có Ngô Vương tên húy Quyền. Hai vương cùng một làng, từ xưa không có. Uy đức còn mãi, miếu mạo như cũ. Niên hiệu đề là Quang Thái năm thứ 3 (Trần Thuận Tông-1390) mùa xuân tháng 2, ngày 18 làm bia này. Thì Đường Lâm là Phúc Thọ ngày nay, nên lấy sử cũ cũng như văn bia là đúng (văn bia thời Trần ở Sơn Tây). Xét lời chú trên này (của Đường địa lý) là thuyết sai lầm, xem Đường thư có một câu: ‘Phúc Lộc tiếp Hoan Châu’ có thể biết là lầm. Trí Châu có sông Trí, tức là xã Phúc Lộc đất Hà Thanh, cầu Dinh ngày nay(7). Nay tự đầu cõi huyện Hương Sơn đi thẳng đến thượng đạo Quảng Bình tức là châu Phúc Lộc cũ(8).
Đại Nam  nhất thống chí được Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn từ 1865 đến 1882 ghi huyện Phúc Thọ: “Đời Hán là đất huyện Mê Linh, quận Giao Chỉ; đời Lê Quang Thuận gọi là Phúc Lộc, trước lệ phủ Quốc Oai; đời Cảnh Hưng đổi lệ phủ Quảng Oai; đời Tây Sơn đổi là Phú Lộc; bản triều, đầu đời Gia Long lại đổi là Phúc Lộc; năm Minh Mệnh thứ 3 đổi tên hiện nay, thuộc phủ Quảng Oai thống hạt”. Và “Xét sử chép: ‘Đường Lâm ở huyện Phúc Lộc. Bố Cái Đại vương Phùng Hưng và Tiền Ngô Vương Quyền đều là người Đường Lâm’. Nay là xã Cam Lâm, huyện Phúc Thọ có đền thờ Bố Cái Đại vương và đền thờ Ngô vương, có văn bia đại lược nói: ‘bản xã đất ở rừng rú, xưa gọi là Đường Lâm, thời thuộc Đường có Phùng húy là Hưng, đến thời Ngũ đại có Ngô Vương húy là Quyền, hai vương cùng ở một ấp, việc ấy từ trước chưa có bao giờ… Cuối bài bia chép: ‘Phụng mệnh làm văn bia năm Quang Thái thứ 3”. Như thế thì huyện Phúc Thọ xưa kia có Đường Lâm, Đường Lâm là tên xã không phải tên châu. Ngô Thì Sĩ nói: “Đường Lâm ở vào quãng huyện Hoài An và huyện Mỹ Lương”. Dư địa chí của Phan Huy Chú (1782-1840) nói: “Nha Viễn nay là Gia Viễn, Đường Lâm nay là đất hai huyện Hoài An và Mỹ Lương”(9).
Đặng Xuân Bảng (1828 -1910) trong Việt sử cương mục tiết yếu ghi: “Tân Mùi, [791] (Đường Đức Tông, Trinh Nguyên năm thứ bảy). Mùa hạ, Phùng Hưng ở Đường Lâm, Phong Châu (Đường Lâm là tên xã; nay là xã Cam Lâm, huyện Phúc Thọ, Sơn Tây, không phải là huyện Đường Lâm, châu Phúc Lộc [chú của dịchgiả: nay là xã Cam Lâm, huyện Ba Vì, tỉnh Hà Tây])”(10).
Có thể thấy dường như Nguyễn Văn Siêu là học giả đầu tiên(11) nhận định địa danh Đường Lâm thuộc về Sơn Tây, sau đó thông tin này đã được chính sử nhà Nguyễn công nhận (1882). Kể từ đây, Sơn Tây đã tồn tại như một mảnh đất hai vua. Đặng Xuân Bảng tiếp thu thành tựu của người đi trước, khi viết cuốn Việt sử cương mục tiết yếu ông đã chưa thêm hai chữ Phong Châu vào sau địa danh Đường Lâm. Tư liệu đáng chú ý nhất là văn bia đời Trần được Nguyễn Văn Siêu dẫn lại. Tiếc rằng, đây là một văn bia ngụy tạo như chúng tôi chứng minh trong bài viết này(12). Thứ hai, Nguyễn Văn Siêu đã không đặt sách mà ông gọi là Đường địa lý(13) (sic) đó trong hệ thống tư liệu đồng đại hữu quan quan trọng khác như Tân Đường thư, Cựu Dường thư, Việt điện u linh, An Nam chí lược… (cụ thể xin xem mục 5 của bài này). Từ kết luận ban đầu của Nguyễn Văn Siêu tiến tới sự đồng thuận của các sử gia của triều Nguyễn, Đường Lâm-Sơn Tây đất hai vua, trải qua gần 150 nay đã trở thành chân lý, hơn nữa là tín niệm.
Người đầu tiên tỏ ỷ nghi ngờ về kết luận trên là học giả Đào Duy Anh trong cuốn Đất nước Việt Nam qua các đời, ông viết: “Chúng tôi rất nghi ngờ những ghi chú ấy và nghĩ rằng rất có thể người ta đã lầm Đường Lâm là tên huyện đời Đường thuộc châu Phúc Lộc (Phúc Lộc châu có huyện Đường Lâm) thành tên xã Đường Lâm ở huyện Phúc Thọ”(14). Sự nghi ngờ của Đào Duy Anh là khá thận trọng và tính nhạy về cảm giác của một người lão thực trong lĩnh vực cổ sử Việt. Dưới đây, chúng tôi tiến hành khảo cứu diên cách xã Đường Lâm (huyện Phúc Lộc, Sơn Tây), để phần nào vén dần bức màn của lịch sử.

Đường Lâm – Sơn Tây: lịch sử diên cách

Xét về địa lí, xã Đường Lâm ngày nay thuộc thành phố Hà Nội, trước đó thuộc Sơn Tây, tỉnh Hà Tây. Một dải các tỉnh Hà Tây, Phú Thọ, Vĩnh Phúc ngày nay thuộc các huyện Tây Vu, Mi Linh, Chu Diên của quận Giao Chỉ thời Tây Hán. Thời Đông Hán, chia huyện Tây Vu làm hai huyện Phong Khê, Vọng Hải. Thời Tần, các huyện Tây Vu, Mi Linh, Chu Diên đều thuộc các quận Vũ Bình, Tân Xương(15). Đến đời Lý thuộc phủ Đại Thông(16). Đời Minh là huyện Long Bạt châu Đà Giang lộ Tam Giang(17). Đào Duy Anh cũng cho một lịch trình diên cách hơi khác như sau: “Trấn Sơn Tây: Cương mục (Chb, q.21) chú rằng: đời Đinh Lê Lý là đạo Đà Giang; đời Trần chia làm các lộ Tam Giang, Tam Đới, Quảng Oai, Quốc Oai; năm Quang Thái thứ 10 (1397) đổi lộ làm trấn; thời Lê Sơ làm các lộ Quốc Oai thượng, trung, hạ, thuộc Tây đạo; năm Quang Thuận thứ 7 (1466) đổi làm Thừa tuyên Quốc Oai; năm thứ 10 (1468) đặt làm thừa tuyên Sơn Tây; năm Hồng Đức thứ 21 (1490) đổi làm xứ, trong đời Hồng Thuận làm trấn; đời Nguyễn đầu đời Gia Long lệ vào Bắc Thành; năm Minh Mệnh thứ 12 (1831) đổi làm tỉnh Sơn Tây, trích huyện Từ Liêm lệ vào tỉnh Hà Nội, huyện Tam Nông lệ vào tỉnh Hưng Hóa… Huyện Phúc Lộc: Nhất thống chí (Sơn Tây) chép rằng đời Cảnh Hưng đổi lệ vào phủ Quốc Oai; đời Tây Sơn đổi làm Phú Lộc, đầu đời Gia Long đổi làm Phúc Lộc; năm Minh Mệnh thứ 3 (1822) đổi làm Phúc Thọ. Hiện nay là Phúc Thọ tỉnh Hà Tây(18). Ngay từ đời Lý, đã có ghi chép về việc người ở Cam Giá dâng hươu đen cho vua Lý Nhân Tông(19). Cho tới tận đầu thế kỉ XIX, đất Cam Lâm hiện nay còn có tên là Cam Tuyền (theo Các trấn tổng xã danh bị lãm)(20), nhưng 60 năm sau đã thấy tên Cam Lâm xuất hiện trong Đại Nam nhất thống chí. Thế nhưng Cam Lâm này chữ Hán là ([]), chứ không phải là lâm ([]) (rừng) trong Đường lâm ([]).
Theo Thông điển(21) thì một dải từ Hà Nội, Bắc Ninh về phía tây đến Hà Tây, Phú Thọ khá ổn định nội thuộc Phong Châu thời Đường. Không có châu Đường Lâm nào trong vùng đó. Còn huyện Phúc Lộc của Sơn Tây chỉ là địa danh được lập vào đời Lê Thái Tông, cuối Lê đổi là Phú Lộc, đến đời Nguyễn địa danh này chỉ tồn tại từ năm 1803-1821, khác hoàn toàn với châu Phúc Lộc/ hay châu Đường Lâm (có các huyện dưới cấp là huyện Nhu Viễn, huyện Phúc Lộc và huyện Đường Lâm) thế kỷ VII-VIII.IX.
(Xem tiếp kì sau)
 
CHÚ THÍCH:
1. Trần Quốc Vượng, về quê hương Ngô Quyền, Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 101, 8/1967, tr. 60-62.
2. Đại Việt sử ký toàn thư, T.l, Nxb KHXH, Hà Nội, 1998, tr. 204.
3. Thiên Nam ngữ lục, Nguyễn Thị Lâm phiên âm và chú giải. Nguyễn Ngọc San hiệu đính, Nxb. Văn Hóa, Hà Nội, 2001.
4. Thái thú: Ý nói Ngô Mân làm chức “châu mục bản châu”.
5. Nguyễn Chính Bình: một số sách sử khác như Tân Đường thư, Cựa Đường thư ghi là Cao Chính Bình.
6. Quan điểm Ngô Quyền là người châu Đường Lâm được cổ súy bởi nội chứng lịch sử Việt Nam ấy chính là vào thời Thập nhị sứ quân, một người bà con cùng họ của Ngô Quyền là Ngô Nhật Khánh (người mà Việt sử lược chép lầm là Trần Nhật Khánh) đã nổi dậy chiếm cứ Đường Lâm. Thuận lẽ là người có thế lực ở đâu mới có thể nổi dậy tiếm quyền tại đó. Dòng họ Ngô đời đời làm chức mục bản châu thì những người họ hàng ắt ít nhiều có thế lực. Cha Ngô Quyền linh chức mục châu Đường Lâm là cơ sở để Ngô Nhật Khanh sau này xưng hùng tại địa phương. Hơn nữa, Dương Đình Nghệ lĩnh Ái Châu đã gả con gái cho Ngô Quyền, dụng Ngô Quyền làm tâm phúc. Theo chúng tôi, giai đoạn này việc thông hôn đồng thời cũng là một hình thức củng cố thế lực, liên kết các tù trưởng/ hào trưởng địa phương. Không còn cớ gì một châu mục lớn như châu mục Ái Châu lại gả con gái và dựa vào một người không tên tuổi, không thế lực ở mãi Sơn Tây (lúc bấy giờ thuộc địa giới Phong Châu). Quan điểm quê hương Ngô Quyền ở đâu đó gần châu Ái có lẽ là có cơ sở sử liệu của nó.
7. Chỉ thời Nguyễn.
8. Phương Đình Nguyễn Văn Siêu, Đại Việt địa dư toàn biên, Tổ phiên dịch Viện Sử học, Nxb Văn hóa Thông tin, H., 1997 tr.402. Nguyên bản ký hiệu VHv.1709/1-3, bản khắc in năm 1900.
9. Quốc sử quán triều Nguyễn (1882), Đại Nam nhất thống chí (tập 4) Phạm Trọng Điềm dịch, Đào Duy Anh hiệu đính, Nxb. Thuận Hóa, Huế, 1997, tr. 188-189.
10. Đặng Xuân Bảng, Việt s cương mục tiết yếu, Hoàng Văn Lâu dịch chú giới thiệu, Nxb. KHXH, H. 2000. tr. 48.
11. Sở dĩ nói ông là học giả đầu tiên vì lấy điểm mút cuối cùng là năm ông mất (1872) so với năm hoàn thành của Đại Nam nhất thống chí là 1882.
12. Tập quán dùng văn bia hay cứ liệu khảo cổ học như một bằng chứng “không thể chối cãi” cho bất kỳ luận điểm lịch sử nào (ngay cả khi văn bia đó dựng hàng mấy trăm năm sau) là một phương pháp phổ dựng trong những năm qua. Hiện tượng này có thể thấy qua rất nhiều nghiên cứu lịch sử hiện nay. Ví dụ như, gần đây có một số nhà nghiên cứu căn cứ vào viên gạch đào được ở Hoa Lư có ghi mấy chữ “Đại Việt thành chuyên” để khẳng định nước ta vào đời Đinh chưa từng có tên nước là Đại Cồ Việt. Trong khi phương pháp C14 không thể cho biết chính xác khoảng thời gian trong vòng một hai trăm năm. Liệu đó có nhất thiết phải là gạch đời Đinh, Lê, tiền Lý hay là của các triều đại sau này trong rất nhiều lần trùng tu di tích?
13. Chúng tôi tìm khắp trong Tứ khố toàn thư không tìm thấy quyển nào có tên là Đường địa lý. Có lẽ đây chỉ là cách gọi chung của Nguyễn Văn Siêu về những sách cố biên chép về địa lý đời Đường. Hoặc giả có sách đó thật nhưng tại Trung Quốc từ lâu đã bị mất. Hoặc giả, kiến văn của chúng tôi còn quá nhỏ hẹp với biển học.
14. Đào Duy Anh, Đất nước Việt Nam qua các đời, Nxb Văn hóa Thông tin, H. 2005 (tối bản), tr. 110.
15. Tân Đường thư chép: “Phong Châu có các huyện Gia Ninh, Tân Xương. Gia Ninh có núi Tản Viên. Tân Xương có Kim Khê”. Đặng Xuân Bảng sau khi dẫn đoạn trên đã chua: “Nay (thế kỷ XIX) các đất phủ Lâm Thao, Quảng Oai của Sơn Tây cùng phủ Yên Bình của Tuyên Quang, phủ Tòng Hóa của Thái Nguyên đều là đất Phong Châu xưa”, Đặng Xuân Bảng, Sđd, tr. 46.
16. H. Maspéro, La Géographie Politique de 1’Annam sous les Lý, les Trần et les H (Nghiên cứu về địa lý lịch sử thời , Trần, Hồ). BEFEO. XVI, chuyển dẫn theo Đào Duy Anh, Sđd, tr. 120. Theo H. Maspéro, phủ Đại Thông bao gồm miền Sơn Tây, Hưng Hóa, ở phía Tây sông Hồng.
17. Đào Duy Anh, Sđd, tr.138 – 139. “Huyện Long Bạt: Nhất thống chí (Sơn Tây) chép rằng huyện Bất Bạt vốn là đất lộ Tam Giang, đời Trần về trước là huyện Lũng Bạt, nhà Minh vẫn theo. Nhưng Thiên hạ quận quốc chép rằng chính nhà Minh đổi Long Bạt làm Lũng Bạt”.
18. Đào Duy Anh, Sđd, tr. 180-181. Những khảo sát trên đây cho thấy những ghi chép diên cách địa lý về Sơn Tầy cần phải hiệu chỉnh lại khá nhiều. Ví như: Sơn Tây quận huyện bị khảo ghi: “Huyện Phúc Thọ xưa là Đường Lâm, các triều Lý Trần cũng theo như thế”. Chuyển dẫn theo Huyện Phúc Thọ - làng xã và những di sản văn hóa (T1: Di sản Hán Nôm), Nguyễn Xuân Diện chủ biên, Nxb. Hà Nội, H., 2010, tr. 34. Hay Sơn Tây tnh chí ghi: “Đền Bố Cái Đại Vương: ở địa phận xã Cam Lâm huyện Phúc Thọ, thời cổ gọi là Đường Lâm”. Chuyển dẫn theo Nguyễn Xuân Diện, Sđd, tr.31.
19. ([]) Đinh Dậu, /Hội Tường Đại Khánh/ năm thứ 8 [1117], (Tổng Chính Hòa năm thứ 7)… người giáp Cam Giá dâng hươu đen.” [ĐVSKTT, tr.17a]
20. Xin xem nguyên bản ký hiệu A.570/1-2. (Viện NC Hán Nôm). Xin xem thêm Tên làng xã Việt Nam đầụ thế kỷ XIX (Các trấn tổng, xã danh bị lãm), Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Dương Thị The, Phạm Thị Thoa dịch và biên soạn, Nxb KHXH, Hà Nội, 1981.
21. Văn Uyên các Tứ khố toàn thư, Thông điển, quyển 184, Đài Bắc Đài Loan Thương vụ  Ấn thư quán, 1983, chép “An Nam Đô hộ phủ, phía đông đến cảnh giới huyện Chu Diên đường thủy đi 500 dặm. Phía nam đến cửa sông A Lao thuộc cảnh giới huyện Chu Diên đường thủy đi 149 dặm. Phía tây đến cảnh giới quận Cửu Chân đường thủy đi 415 dặm. Phía bắc đến nguồn sông của cảnh giới huyện Vũ Bình 250 dặm. Phía đông nam đến cảnh giới huyện Chu Diên 500 dặm. Phía tây nam đến cảnh giới quận Văn Dương đường thủy đi 150 dặm. Phía tây bắc đến Giang Trân huyện Gia Ninh thuộc quận Thừa Hóa 150 dặm. Phía đông bắc đến huyện Giao Chỉ 10 dặm. Cách Tây Kinh 7.253 dặm, cách Đông Kinh 7.225 dặm. Hộ: 24.730, khẩu: 99.650. Phủ An Nam, nay trị ở huyện Tống Bình. Thời Tần thuộc Tượng Quận. Thời Hán là cảnh giới hai quận Giao Chỉ, Nhật Nam, nay là đất của người Di phương nam, chân của họ đại khái mở rộng ra, nếu đem chân đứng dậy, ngón chân liền giao nhau, cho nên tên là Giao Chỉ. Nhà Hậu Hán theo đó, đặt ra Giao Châu. Lĩnh 7 quận, trị ở đó. Nhà Tấn, Tống, Tề đều theo đó. Thời Tấn lĩnh 7 quận, thời Tống lĩnh 8 quận, thời Tề lĩnh 9 quận, đều trị ở đó. Nhà Tống lại đặt quận Tống Bình, nhà Tề theo đó, cũng là đất quận Giao Chỉ. Nhà Lương, Trần theo đó. Nhà Tùy dẹp nhà Trần, quận bỏ, đặt ra Giao Châu. Đầu thời Dương Đế, châu bỏ, đặt ra quận Giao Chỉ. Nhà Đại Đường là Giao Châu, sau đổi là An Nam Đô hộ phủ. Lĩnh 7 huyện: Tống Bình. Nhà Tống đặt quận Tống Bình tại đấy. Chu Diên. Thời Ngô là huyện Quân Bình. Trước đặt ra quận Vũ Bình. Diên, dĩ truyền phiên. Long Biên. Huyện cũ thời Hán. Thái Bình. Giao Chỉ. Thời Hán thuộc đất huyện Long Biên Vũ Bình. Huyện cũ thời Ngô. Bình Đạo. Nhà Tề đặt ra huyện Xương Quốc.
___________________________________________________________
 
TẠP CHÍ XƯA & NAY

ĐƯỜNG LÂM LÀ ĐƯỜNG LÂM NÀO ?

Trần Ngọc Vương-Trần Trọng Dương-Nguyễn Tố Lan
SỐ 401 (4-2012)
(Tiếp theo số 400)

Châu Đường Lâm (Phúc Lộc) qua tư liệu cổ sử

Tuy nhiên, đối với người làm công tác nghiên cứu lịch sử và nhất là nghiên cứu văn bản học chuyên sâu, những nghi ngờ đã le lói đâu đó trong các chuyên luận (như của GS Đào Duy Anh, Văn Tân hay Bùi Văn Nguyên, Nguyễn Huệ Chi chẳng hạn), đã để lại nhiều gợi mở cho người đi sau tiếp tục tìm hiểu và giải mã. Với việc công nhận thông tin Khuông Việt Ngô Chân Lưu là hậu duệ của Ngô Thuận Đế (Ngô Quyền), thì đương nhiên quê hương Đại sư ắt là quê hương của tổ tiên ông, gần thì ông nội Ngô Quyền, xa hơn chút là cụ nội Ngô Mân là ở châu Đường Lâm. Dưới đây, chúng tôi tiến hành khảo sát sơ bộ các tài liệu cổ sử Việt Nam và Trung Quốc về địa danh này với tư cách một đơn vị hành chính là châu.
Cựu đường thư quyển 41.

Châu Đường Lâm qua cổ sử Việt Nam

Sử Trung Hoa không chép “trực tiếp” về quê hương của Ngô Quyền cũng như các cụ tổ nhà Ngô Chân Lưu. Khảo xét thư tịch cổ Việt Nam thì tài liệu đáng lưu ý nhất là An Nam chí lược(1) của Lê Tắc soạn năm 1335 có ghi như sau: “Qua đời Ngũ-Đại (907-959), người đất Ái Châu là Ngô Quyền, chiếm giữ quận Giao Chỉ”. Sách này một đoạn khác ghi: “Ngô Quyền: người Châu Ái, nha tướng của Đình Nghệ, giết Công Tiễn, tự lập làm vua, con là Xương Ngập với em Xương Tuấn kế nói ông”. Đến đây, thiết nghĩ cũng nên điểm qua vài nhân vật lịch sử có quê ở châu Đường Lâm. 
Sách An Nam chí lược ghi: “Kịp thời Ngũ Đại, các người thổ hào ở các châu Giao, Ái là Khúc Hạo, Dương Đình Nghệ, Kiều Công Tiễn… thay nhau dùng võ lực cướp quyền”(2). Sách này cũng ghi: “Dương Đình Nghệ: người châu Ái”(3). Lại chép: “Niên hiệu Thiên Phúc nhà Tấn năm thứ 2 (Ngụy Hán, Đại Hữu thứ 10) (937), Ngô Quyền cử binh Ái Châu vây Công Tiễn”(4), lại chép: “Ngô Quyền, người Châu Ái, nha tướng của Đình Nghệ, giết Công Tiễn, tự lập làm vua”(5). Cũng ghi “Lê Hoàn người Ái châu, có chí lược,  được Đinh Liễn giao binh quyền, nhân soán ngôi họ Đinh, tự xưng Giao châu Tam sứ”.
An Nam chí lược, quyển 1 mục Cổ châu danh có ghi nhận châu Đường Lâm: “Tên các châu cổ: Phong châu (đời Ngô là Tân Xương), Trường châu, Vũ Nga châu, Đường Lâm  châu”(6). Nhiều ý kiến cho rằng có lẽ ghi chép này đúng bởi soạn giả Lê Tắc sống vào thế kỉ XIII, lại là người cùng quê(7), khả năng chính xác là khá cao(8).
Sách Việt điện u linh tập do Lý Tế Xuyên soạn năm 1329(9): “Xét sách Giao châu ký của Triệu công, Vương họ Phùng tên Hưng, đời đời làm di trưởng châu Đường Lâm, hiệu là Quan lang. Vương giàu có, lại có dũng lực, có thể đánh hổ… Vương dùng kế của người châu Đường Lâm là Đỗ Anh Hàn, đem quân ngô đi đánh châu Đường Lâm”.  
Như vậy, các ghi chép về châu Đường Lâm qua hai thư tịch được coi là cổ nhất còn lại do người Việt biên soạn là An Nam chí lược và Việt điện u linh tập, chúng ta bước đầu có một sự mường tượng như sau về mảnh đất này. Châu Đường Lâm (xuất nhập  hoặc cận kề với Châu Ái) vào thế kỷ VIII-IX là nguyên quán của hàng loạt các thủ lĩnh như Phùng Hưng, Khúc Hạo Dương Đình Nghệ (con là Dương Tam Kha), Kiều Công Tiễn, Ngô Quyền (con: Ngô Xương Văn, Ngô Xương Ngập; cháu: Ngô Chân Lưu, Ngô Xương Xí, Ngô Nhật Khánh). Ngoài ra, còn có Đinh Bộ Lĩnh đóng đô ở Hoa Lư (thuộc  Thanh Hoa ngoại trấn sau này). Trần Công Lãm một sứ quân từng chiếm cứ Đường  Lâm(10). Thêm nữa, Lê Hoàn là người Trường Châu (cũng thuộc Thanh Hóa). Điểm diện để “cắm cờ” cho các quân doanh và địa bàn hoạt động thì có thể thấy những mối liên hệ  về gia tộc, hôn nhân, quyền lực, tôn giáo của các thế lực này, từ đó có thể vạch ra một sơ  đồ tổng quan hệ của các nhân vật lịch sử. Cho nên, vùng Ái châu, Trường châu, Hoan châu và châu Đường Lâm xưa có thể coi là trung tâm chính trị của nước ta vào giai đoạn đó. Vấn đề này đến nay dường như chưa được quan tâm đúng mức, cần có những khảo sát sâu hơn,  rộng  hơn  và  nhiều chiều hơn nữa(11).

Châu Đường Lâm qua cổ sử Trung Hoa

Khảo thư tịch cổ Trung Quốc đồng đại và hậu đại, có một số thông tin về châu Đường Lâm – Phúc Lộc như sau(12):
1. Thông điển do Đỗ Hữu (735 – 812) đời Đường soạn xong năm 801, quyển 184 ghi:  “Quận Phúc Lộc, phía đông… phía nam… phía tây… phía bắc… phía đông nam… phía tây bắc… phía đông bắc… cách Tây Kinh(13)… cách Đông Kinh(14)… hộ… người. Châu Phúc Lộc, sở trị ở huyện An Viễn. Đất đai giống với quận Cửu Chân. Nhà Đại Đường đặt ra châu Phúc Lộc, hoặc là quận Phúc Lộc. Lĩnh hai huyện: Nhu Viễn. Đường Lâm. Quận Văn Dương, phía đông… phía nam… phía  tây…  phía bắc… phía đông nam… phía tây  nam… phía tây bắc… phía đông bắc… Cách Đông Kinh… cách Tây Kinh… Sáu trăm mười  ba hộ, ba nghìn bốn mươi người. Trường Châu, sở trị ở huyện Văn Dương. Đất đai giống với quận Cửu Chân. Nhà Đại Đường đặt ra Trường Châu, hoặc là quận Văn Dương. Lĩnh  bốn huyện: Đồng Thái, Trường Sơn, Kì Thường, Văn Dương. Quận NhậtNam, phía đông  đến địa giới quận Phúc Lộc một trăm dặm. Phía nam đến địa giới quận La Phục một trăm năm mươi dặm. Phía tây đến địa giới nước Hoàn Vương tám trăm dặm. Phía bắc đến địa giới quận Cửu Chân sáu trăm dặm. Phía đông nam đến biển một trăm năm mươi dặm. Phía tây nam đến địa giới quận Đương bốn trăm dặm. Phía Tây bắc đến sông Linh Bạt bốn trăm bảy mươi dặm. Phía đông bắc đến quận Lăng Thủy năm trăm dặm. Đi Tây Kinh  theo đường bộ một vạn hai nghìn bốn trăm năm mươi dặm, đường thủy một vạn bảy nghìn dặm. Cách Đông Kinh đường bộ một vạn năm trăm chín mươi lăm dặm, đường thủy một vạn bảy nghìn hai trăm hai mươi dặm. Chín nghìn sáu trăm mười chín hộ, năm vạn ba nghìn tám trăm mười tám người”.
2. Cựu Đường thư do người thời Hậu Tấn là Lưu Hú (887- 946) khởi soạn vào năm 945, quyển 41 ghi: “Đạo Lĩnh Nam, châu Phúc Lộc: Đất đai phong tục giống với đất quận Cửu Chân, sau bị người Sinh Liêu chiếm. Năm thứ ba niên hiệu Long Sóc (663)(15), Trí  Châu Thứ sử Tạ Pháp Thành chiêu dụ bảy nghìn lạc(16)dân thổ Côn Minh, Bắc Lâu(17). Năm Tổng Chương thứ hai (669)(18), đặt ra châu Phúc Lộc để cai trị họ. Năm đầu niên  hiệu Thiên Bảo đầu tiên (742)(19), đổi làm quận Phúc Lộc. Năm thứ hai niên hiệu Chí  Đức (757), đổi làm quận Đường Lâm. Năm đầu tiên niên hiệu Càn Nguyên (758), đặt lại làm châu Phúc Lộc. Lĩnh hai huyện, không tính số hộ, người và số dặm đường đến  hai kinh đô(20), bốn phía đến châu quận. Nhu Viễn: sở trị của châu, cùng lập ra với châu, vốn tên là An Viễn, năm thứ hai niên hiệu Chí Đức, đổi tên là Nhu Viễn vậy. Đường Lâm”. Cựu Đường thư, Quyển tứ thập nhất khảo chứng: “Châu Phúc Lộc lĩnh một huyện Nhu Viễn. Nay mới chép thêm hai huyện Đường Lâm, Phúc Lộc”. 
3. Thái Bình hoàn vũ kí (quyển 171) soạn vào đời Tống Thái Tông trong những năm Thái Bình Hưng Quốc (976-983) ghi: “Phúc Lộc châu (Phúc Lộc quận): nay sở lị ở huyện An Viễn, đất đai và phong tục gần với quận Cửu Chân, sau bị dân Sinh Liêu chiếm cứ. Đời  Đường, năm Long Sóc thứ hai (662), Trí châu Thứ sử Tạ Pháp Thành chiêu dụ vỗ về được dân miền núi là Côn Minh, Tỉ Lâu(21)  hơn bảy ngàn lạc. Năm Tổng Chương thứ 3 (670), đặt châu Phúc Lộc để cai quản dân này. Năm Thiên Bảo thứ nhất, cải làm quận Phúc Lộc. Năm Chí Đức thứ 2 (757), cải làm quận Đường Lâm. Năm Càn Nguyên thứ  nhất (758), cải lại làm châu Phúc Lộc. Châu này vốn lĩnh ba huyện là Nhu Viễn, Đường Lâm, Phúc Lộc. Thổ sản: cống bạch lạp (sáp trắng), tử phi(22), sừng tê, và nhiều thứ lạ không biết tên. Huyện Nhu Viễn một hương: vốn tên là An Viễn, đời Đường năm Chí Đức thứ 2 (757) cải làm Nhu Viễn. Đường Lâm huyện một hương. Phúc Lộc huyện một  hương. Trở lên là ba huyện được đặt ra cùng với châu”.
4. Tân Đường thư do Âu Dương Tu và Tống Kì biên soạn năm 1060, quyển 43 thượng ghi: “Quận Đường Lâm của châu Phúc Lộc, vốn là quận Phúc Lộc, năm thứ hai niên hiệu Tổng Chương (669), Trí Châu Thứ sử là Tạ Pháp Thành chiêu dụ hơn bảy nghìn lạc người thổ Côn Minh, Bắc Lâu, cho nên đất Đường Lâm đặt ra. Năm đầu tiên niên hiệu  Đại Túc đầu tiên(23) đổi tên là châu An Vũ, năm thứ hai niên hiệu Chí Đức(24) đổi thành  quận đặt tên là Đường Lâm, năm đầu tiên niên hiệu Càn Nguyên(25), đặt lại tên châu như cũ. Đồ cống nạp của đất này: bạch lạp, tử cốc(26). Ba trăm mười bảy hộ. Ba huyện: Nhu Viễn, vốn là huyện An Viễn, năm Chí Đức thứ hai đổi tên; Đường Lâm, đầu thời Đường lấy hai huyện Đường Lâm, An Viễn đặt ra châu Đường Lâm, sau châu, huyện đều bỏ, đổi đặt lại, Phúc Lộc”. Tân Đường thư, quyển 43 hạ: “Đạo Lĩnh Nam: Một đường từ phía đông Hoan Châu (27)  đi hai ngày, đến huyện An Viễn của châu Đường Lâm, đi về phía nam qua sông Cổ La,  đi hai ngày đến sông Đàn Động của nước Hoàn Vương(28). Lại đi bốn ngày đến Chu  Nhai(29). Lại đi qua Đan Bổ Trấn, đi hai ngày đến thành nước Hoàn Vương, thời Hán xưa  gọi là đất quận NhậtNam vậy”. 
5. Dư địa quảng  kí, do Âu Dương Văn soạn vào đời Tống Huy Tông trong những năm    Chính Hòa  (1111-1117), quyển 38 có đoạn: …châu Phúc Lộc từ đời Tùy về trước, địa lý  cùng như quận Phúc Lộc, sau bị dân thổ chiếm. Đời Đường, năm Long Sóc thứ 3, Trí châu Thứ sử Tạ Pháp Thành úy lạo hơn bảy ngàn lạc dân thổ Côn Minh, Bắc Lâu. Năm  Tổng Chương thứ 2 đặt châu Phúc Lộc để quản dân ấy. Năm Thiên Bảo thứ nhất, đổi làm  quận Phúc Lộc. Năm Chí Đức thứ 2 đổi làm Đường Lâm quận. Năm Kiền Nguyên thứ nhất lại đổi thành Phúc Lộc quận.
6. Đại sự ký do Lã Tổ Khiêm (1137-1181) đời Tống soạn, quyển 12: “Giao Chỉ, nay là  nước An Nam: Giao châu, Phong châu là đất Lục châu xưa. Quận Cửu Chân  nay vốn là đất của châu Ái, châu Hoan, châu Trường, châu Diễn, châu Sơn, châu Phúc  Lộc xưa. của châu Lâm, Cảnh. Quận Chu Nhai nay vốn là đất của Chu Nhai, Vạn An, Quân, Quỳnh châu xưa”.
7. Quý Châu thông chí, do Trần Quân (?  -  ?) người đời Minh biên tập, quyển 3 ghi: “Năm Tổng Chương thứ 2, Trí châu thử sử Tạ Pháp Thành úy lạo dân thổ, cho nên  châu  Đường Lâm được đặt ra… châu Cổ và châu Phúc Lộc đều thuộc Lĩnh Nam, tìm trong sử thấy cuối đời Đường đều mất về tay người man”(30).
8. Độc sử phương dư kỉ yếu do người đời Thanh là Cố Tổ Vũ soạn trong 30 năm, hoàn tất năm 1692, quyển 112 ghi:  “Thành Phúc Lộc tại phía tây nam phủ. Giữa năm Vũ Đức thời Đường đặt ra châu Đường Lâm ki mi vậy. Đầu năm Trinh Quán bỏ. Năm thứ hai niên hiệu Tổng Chương, Trí Châu Thứ sử Tạ Pháp Thành chiêu dụ hơn bảy nghìn lạc dân  thổ Côn Minh, Bắc Lâu, cho nên đất châu Đường Lâm đặt ra châu Phúc Lộc. Năm đầu tiên niên hiệu Đại Túc, đổi tên là châu An Vũ. Đầu năm Thần Long, đặt lại như cũ. Đầu  năm Thiên Bảo, gọi là quận Phúc Lộc. Năm thứ hai niên hiệu Chí Đức, đổi tên là quận  Đường Lâm. Đầu năm Càn Nguyên, vẫn đặt ra châu Phúc Lộc. Sau đó bỏ. Lại bỏ huyện Tang Viễn, là sở trị của châu Phúc Lộc thời Đường vậy, vốn tên là An Viễn, năm thứ  hai  niên hiệu Chí Đức, đổi tên là Tang Viễn; kiêm lĩnh hai huyện Đường Lâm, Phúc Lộc. Bỏ Trường Châu, gần với châu Phúc Lộc, lĩnh bốn huyện Văn Dương, Đồng Thái, Trường  Sơn, Kì Thường, cũng gọi là quận Văn Dương, sau bị người Man bỏ”. Còn khá nhiều sử liệu đời sau khác cũng biên chép về châu Đường Lâm – Phúc Lộc nhưng phần lớn dẫn dụng các tài liệu cổ sử như đã nêu trên, vì vậy chúng tôi không trình bày tiếp ở đây. Tổng hợp sử liệu đã nêu, có thể tạm thời nhận xét rằng: Đường Lâm/Phúc Lộc là tên một đơn vị hành chính là châu (trong đó gồm ba huyện Nhu Viễn, Đường Lâm và Phúc Lộc,  lại có thêm thành Phúc Lộc), được thành lập trong khoảng những năm Vũ Đức (từ 619-627 nhà Đường), đến sau đời Đường địa danh này bị bỏ. Nguyên do là Đường Lâm nằm gần Trường Châu(31), hai vùng này sau bị người miền núi chiếm cứ không thuộc sự quản  lý của nhà Đường. Sau này không thấy khôi phục lại nữa. Theo Độc sử phương dư kỉ yếu thì Đường Lâm thuộc tây nam châu Ái (vào đời Đường không thuộc châu Ái nhưng phong tục thì tương đồng). Dân cư châu Đường Lâm/Phúc  Lộc tuyệt đại đa số là người bản địa gồm các dân Côn Minh, Bắc Lâu/Tỉ Lâu (32), do các tù trưởng nắm giữ(33), khu vực này cũng có dân Bắc(34), có hộ khẩu(35), nhưng đóng thuế rất ít chủ yếu là lâm thổ sản. Có vẻ như Đại Việt sử kí toàn thư cũng căn cứ vào cổ sử Trung Quốc để liên kết hai địa danh Phúc Lộc và Đường Lâm khi chú giải cho sự kiện Phùng Hưng nổi dậy: “Tân Mùi  [791],  (Đường Trinh Nguyên năm thứ 7). Mùa xuân, An Nam đô hộ phủ là Cao Chính Bình làm việc quan bắt dân đóng góp nặng. Mùa hạ, tháng 4, người ở Đường Lâm thuộc  Giao Châu (Đường Lâm thuộc huyện Phúc Lộc)(36) là Phùng Hưng dấy binh vây phủ. Chính Bình lo sợ mà chết. Trước đây Phùng Hưng vốn là nhà hào phú, có sức khỏe, có  thể vật trâu, đánh hổ. Khoảng niên hiệu Đại Lịch (766-780) đời Đường Đại Tông, nhân  Giao Châu có loạn, cùng với em là Hãi hàng phục được các ấp bên cạnh, Hưng xưng là Đô Quân, Hãi xưng là Đô Bảo, đánh nhau với Chính Bình, lâu ngày không thắng được”(37). Ghi chép trên của Đại Việt sử kí toàn thư nói một cách chính xác quê Phùng Hưng là ở huyện Đường Lâm châu Phúc Lộc(38). Tuy vậy, Cựu Đường thưTân Đường thư  ghi: “Nhu Viễn huyện nhất hương… Đường Lâm huyện nhất hương, Phúc Lộc huyện nhất hương, dĩ thượng tam huyện”. Rắc rối là ở các chữ “ huyện nhất hương”. “Nhất hương” ở đây là một cụm danh từ có kết cấu “số từ  + lượng từ”, lượng từ “hương” không phải là một đơn vị hành chính, mà trỏ một vùng đất chung chung. Đơn vị hành chính trong cụm “Đường Lâm huyện nhất hương” đã nằm trong chữ huyện rồi. Các sử  gia đời sau vì một lẽ nào đó chỉ ghi là “Đường Lâm nhất hương”, khiến cho nhiều thế hệ dịch giả dịch thành “Đường Lâm, một làng”. Có lẽ câu chuyện đi tìm ‘làng’ Đường Lâm từ đây mà ra. Dù thế nào thì Đường Lâm và Phúc Lộc gần như luôn đi kèm với nhau, nếu biết Đường Lâm chính xác ở đâu thì xác định được vị trí tương đối của Phúc Lộc và ngược lại. Xét  sử kí Trung Hoa ghi chép các địa danh Phúc Lộc, có thể định vị được Phúc Lộc có thể  nằm ở vị  trí nào ngày nay(39). Tổng hợp những tư liệu về châu Phúc Lộc cho thấy: Phúc Lộc vừa là tên châu vừa là tên một huyện. Địa danh Phúc Lộc luôn có sự xuất nhập với Đường Lâm trong khi Nhu Viễn (sau đổi là An Viễn, hay An Vũ) ổn định lệ thuộc một trong châu này. Phúc Lộc cũng như Đường Lâm gần với quận Cửu Chân, thổ tục giống như vậy. Với những sử liệu và  lập luận được sử dụng, bước đầu có thể tin rằng Phùng Hưng, Ngô Quyền, cũng như Ngô Chân Lưu là người châu Đường Lâm/ Phúc Lộc. Đường Lâm này xuất nhập với châu Ái cho nên Lê Tắc mới cho rằng Ngô Quyền là người châu Ái. Vị trí chính xác của Đường Lâm này nằm ở đâu chúng tôi xin được đề cập đến trong bài viết khác, nhưng khả năng  cao là châu Đường Lâm này khó có thể nằm ở Sơn Tây ngày nay, như chúng tôi đã chứng minh ở trên.
Qua những cứ liệu đã trình bày,  chúng tôi tạm có một vài kết luận sơ bộ như sau:
Châu  Đường Lâm – quê của Phùng Hưng, Ngô Quyền vốn từng có tên châu Phúc Lộc (gồm ba huyện Nhu Viễn, Đường Lâm và Phúc Lộc), châu này nằm phía  tây nam Ái Châu, gần gũi Trường Châu, về sau đã có lúc quy về Ái Châu.
Vị trí chính xác của châu Đường Lâm còn phải khảo chứng thực địa, bổ sung các cứ liệu  về họ tộc, cư dân, phong tục, sản vật, ngôn ngữ bản địa, cũng như sự thờ cúng và tư liệu điền dã tại địa bàn Thanh Hóa ngày nay và các khu vực lân cận. Dù vậy, có thể khẳng định rằng quê Ngô Quyền nằm loanh quanh giữa vùng Thanh Hóa – Nghệ An(40) ngày nay mà khó có thể ở vị trí Sơn Tây (khi đó là huyện Gia Ninh của Phong Châu) được.
Trong suốt lịch sử từ đời Hán cho đến năm 1964, khu vực Sơn Tây không hề có châu  hay huyện hay làng nào tên là Đường Lâm. Tên ‘xã Đường Lâm’ tại Sơn Tây ngày  nay  mới xuất hiện từ năm 1964 (ngày 21 tháng 11).  
Bài viết là một hành trình từ cổ sử Tàu qua cổ sử ta kết hợp với các tài liệu liên quan để có cái nhìn đồng đại và lịch đại nhằm soi tỏ vấn đề tưởng như đã không còn gì cần bàn cãi. Ở đây, chúng tôi chỉ muốn nhận định rằng, dù quê Đại sư Khuông Việt ở đâu thì đó  cũng không phải là ở Sơn Tây (ngày nay). Bài viết được hoàn thành một phần dựa trên  những gợi mở chúng tôi có được từ các học giả trong và ngoài nước chính thức phát  biểu  qua những tham luận khoa học hay nhiều khi chỉ là câu chuyện lúc trà dư tửu hậu. Chúng tôi hi vọng trong thời gian sắp tới sẽ có dịp trở lại với chủ đề này.
 
CHÚ THÍCH:
1. Văn uyên các Tứ khố toàn thư, An Nam chí lược, Đài Bắc, Đài Loan, Thương vụ Ấn thư quán, 1983.
2. Lê Tắc, Sđd, tr.53.
3. Lê Tắc, Sđd, tr.225.
4. Lê Tắc, Sđd, tr.225.
5. Lê Tắc, Sđd, tr.226.
6. Lê Tắc, Sđd, tr.65.
7. “Tắc người An Nam, dòng dõi của Nguyễn Phu, Thứ sử Giao châu đời Đông Tấn. Đã nhiều đời ở Ái Châu, tằng tổ tên Khôn,… ông nội trên Trưng, cha tên Viễn Vọng…” Lê Tắc, An Nam chí lược, Tự tự, Nxb Thuận Hóa, Huế., 2002. tr.348; “Ông Lê Tắc, người Đông Sơn” Hứa Thiện Thắng (1307), An Nam chí lược tự, An Nam chí lược, Sđd, tr.41;  “Lê Cảnh Cao ở Đông Sơn, là người bản xứ” Hứa Hữu Nhâm (1339). An Nam chí lược tự, An Nam chí lược, Sđd, tr.42; “Cuối đời Nguyên có ông Lê Tắc, hiệu Cảnh Cao, người đất Ái Châu nước Nam Việt đã soạn bộ An Nam chí lược” Kishi Ginko (Ngạn Ngâm Hương), An Nam chí lược tự (1884), An Nam chí lược, Sđd, tr.49; “Cẩn án bộ An nam chí lược, 19 quyển, do Lê Tắc đời Nguyên soạn. Tắc tự là Cảnh Cao, hiệu Đông Sơn, vốn người An Nam, con cháu của Nguyễn Phu làm chức Thứ sử An Nam hồi Đông Tấn, đời đời ở Ái Châu (tức tỉnh Thanh Hóa)” Tứ khố toàn thư tổng mục đề yếu, An Nam chí lược, Sđd, tr.49 ; “Chỉ biết ông vốn người họ Nguyễn, dòng dõi của Nguyễn Phu (người  Đông Tấn, Trung Quốc), các đời cụ, ông, cha đều ở Ái Châu…” Chương Thâu, Lời nói đầu, An Nam chí lược, Sđd, tr.9.
8. Về luận điểm này, chúng tôi xin bàn thêm ở phần sau.
粵甸幽靈集。布蓋孚祐彰信崇義 大王. A.47. (Viện  NC  Hán  Nôm),  tr. 4b-5a. Bản dịch đã công bố ghi hơi khác: “Theo sách Giao Châu ký của Triệu Vương, thì Vương họ Phùng tên là Hưng. Đời đời cha truyền con nối làm Tù trưởng Biên khố ở châu Đường Lâm gọi là Quan lang… Theo kế của Đỗ Anh Luân (còn viết là Hàn), người đất Đường Lâm, họ Tuần đem quân đi tuần hành ở các châu Đường Lâm, Trường Phong, các nơi ai nấy đều theo.” [Lý Tế Xuyên, Việt điện u linh tập 粵甸幽靈, Đinh Gia Khánh - Trịnh Đình Rư dịch chú, Trần Nghĩa giới thiệu, Tổng tập tiểu thuyết chữ Hán Việt Nam (T1: dịch từ bản A. 751), Nxb Thế giới, H., 1997, tr.60.]
10. ,  quyển thượng, Văn Uyên các Tứ khố toàn thư, Đài Bắc Đài Loan Thương vụ Ấn thư quán, 1983, ghi: “Mười hai sứ quân: Kiểu Tam Chế, tên là Công Can, chiếm lấy Phong Châu. Nguyễn Thái Bình, tên là Khoan, một tên nữa là Kí, chiếm  lấy Nguyễn Gia. Trần Công Lãm, tên là Nhật Khánh, chiếm lấy Đường Lâm”.
11. Điều này ít nhiều có thể “điểm danh chỉ mặt” qua các tư liệu văn hiến cổ nhất của Việt Nam còn lại đến nay đều thuộc về các hiện vật của Thanh Hóa, như văn bia Đại Tùy  Cửu Chân đạo tràng, bia Thanh Mai, 40 kinh tràng trong số 200 kinh tràng do Đinh Liễn  lập và Khuông Việt Ngô Chân Lưu làm chủ tế. Về bối cảnh văn hóa của một giai đoạn này xin xem thêm Trần Trọng Dương, Khảo về Đại Cồ Việt- nước Việt- nước Phật giáo,  Tạp chí Hán Nôm, số 02 năm 2009.
12. Khi  viết phần này chúng tôi tham khảo khá nhiều ở cuộc trao đổi của hai ông Lê Hải Namvà Tích Dã trên mạng Việt học về vấn đề quê hương Ngô Quyền, những chỉ dẫn của các ông đã giúp chúng tôi rất nhiều trong quá trình tư duy và khảo xét tài liệu. Nhân đây xin chân trọng cám ơn. Toàn bộ các sách trình bày ở dưới chúng tôi sử dụng bản in Văn Uyên các Tứ khố toàn thư, Sđd.
13. Trường An.
14. Lạc Dương.
15. Niên hiệu của Đường Cao Tông.
16. Tân Đường thư và Cựu đường thưThái Bình hoàn vũ ký đều ghi là lạc 落 Lê Hải Nam dịch là “bộ lạc”. Theo ngữ âm Nam Choang (tiếng Choang chia làm hai loại là Bắc Choang và Nam Choang, Nam Choang gần với tiếng Nùng, Tày, Mường của Việt Nam, tiếng Thái hơn là Bắc Choang) thì chữ  “lạc” này tương thông  với  chữ  lạc viết là 雒 hoặc 洛, đều là cách dùng âm chữ Hán để ghi cổ âm Nam Choang, nếu  đọc theo phiên âm quốc tế hiện giờ đọc là (luk) chỉ một tập hợp người sinh sống trong một thung lũng nơi có dòng nước chảy qua, quy mô tương đương với một thôn hoặc chưa đến một thôn bây giờ, khoảng năm bảy hộ mà thôi. Nếu hiểu như vậy thì có nghĩa 7.000 lạc ở đây là 7.000 nhóm dân cư thuộc về các bộ lạc như Côn Minh, Bắc Lâu. Theo chúng tôi con số này đáng tin hơn là có 7.000 bộ lạc tại thời điểm bấy giờ vì trong hoàn cảnh một khu vực biên viễn xa xôi nơi thổ dân sinh sống, không lẽ trong một sớm một chiều mà Hán nhân có thể thu phục tới 7.000 bộ lạc, không kể đến việc con số 7.000 bộ lạc (dù bộ lạc theo quy mô nhỏ thời sơ sử đi nữa) là rất khó tin tại thời điểm dân số dân tộc thiểu số miền núi bấy giờ. Riêng về chữ Sinh Lão 生獠, theo nghiên cứu của chúng tôi đây không phải là tên danh xưng của bộ lạc, theo ngữ âm Nam Choang và tập quán dân tộc này cho đến ngày nay thì chữ  “lão 獠” trong “sinh lão” 生獠 là cách ghi âm bằng Hán ngữ âm [rau] có nghĩa là người, Sinh Lão không phải tên bộ lạc mà là những người thổ chưa gia phập hộ tịch. Như vậy câu trên có lẽ phải được dịch là “Trí Châu Thứ sử Tạ Pháp Thành chiêu dụ bảy nghìn lạc dân thổ (tức dân miền núi) Côn Minh, Bắc Lâu”.
Phần luận giải liên quan đến ngữ âm Nam Choang chúng tôi căn cứ trên những  thành tựu  nghiên  cứu  của  học giả Trung Quốc tại Khu tự trị dân tộc Choang, đặc biệt là qua nhiều trao đổi với Th.S Hứa Hiểu Minh, chủ nhiệm trung tâm Nghiên cứu dân tộc Choang, Viện Văn hóa Nghệ thuật tỉnh Quảng Tây và Giáo sư Phan Kỳ Húc, nhà Choang học,  Viện Khoa học Xã hội Quảng Tây. Tiếc là đến nay, chưa có bộ từ điển Choang – Hán nào được thực hiện dựa trên tiếng Nam Choang nên chúng tôi không có căn cứ văn hiến để  khảo xét mà chỉ kết hợp tri thức từ các học giả và kết quả nghiên cứu điền dã tại tỉnh  Quảng Tây để đưa ra giả thuyết. Rất mong được các học giả ngôn ngữ học chỉ chính. 
17. Câu này ông Tích Dã và nhiều học giả trước đó thống nhất dịch là: “…chiêu dụ hơn bảy nghìn bộ lạc Sinh Liêu, Côn Minh, Bắc/Tỉ Lâu”. Xin xem thêm các cứ liệu trình bày ở dưới. 
18. Niên hiệu của Đường Huyền Tông.
19. Niên hiệu của Đường Huyền Tông.
20.Tức Thành Trường An và Lạc Dương.
21. Tân Đường thư và Cựu đường thư đều ghi là Bắc Lâu. Hai chữ này tự dạng dễ lẫn với nhau. 
22. Tân Đường thư chép là “tử cốc”.
23. Năm 701 (Niên hiệu của Võ Tắc Thiên – Đường Võ Hậu).
24. Năm 757 (Niên hiệu của Đường Túc Tông).
25. Năm 758 (Niên hiệu của Đường Túc Tông).
26. Tử cốc: có hai cách dịch là gạo đỏ, hoặc nhựa cánh kiến (theo Nguyễn Văn Siêu). Hiện tại chúng tôi chưa tìm được thêm cứ liệu khẳng định cách dịch nào là đúng nên tạm dùng nguyên tên phiên âm chữ Hán. 
27. Phía nam Nghĩa An (tức Nghệ An ngày nay).
28. Hậu thân của nước Lâm Ấp ngày trước.
29. Thuộc khu vực đảo HảiNam.
30.  Người  man cũng như người thổ đều chỉ dân miền núi, chưa nhập hộ tịch.
31. Trường Châu nằm gần Ái Châu, có thổ tục giống Ái Châu nhưng ở gần phủ thành  An  Nam Đô hộ phủ hơn, dân cư chủ yếu là người man. Vào thời Đường thì đất đai Trường Châu và Đường Lâm nhập vào Ái Châu. Chính vì vậy nên Đại Việt sử kí toàn thư chép Lê Hoàn là người Ái Châu, còn Đại Việt sử lược lại chép Lê Hoàn là người Trường Châu. Chúng tôi đồng ý với lập luận của ông Lê HảiNam (trong phần trao đổi về chủ để  Quê hương Ngô Quyền thực sự ở đâu? Với ông Tích Dã trên mạng Việt học như đã nêu  trên) thì qua Độc sử phương dư kỉ yếu, tài liệu đã dẫn có thể cho ta biết vị trí Phúc Lộc sau khi bị phế là huyện Nga Lạc (thời Minh, Thanh), là nơi “quan tuần kiểm Nga Lạc là Lê Lợi làm phản”. Vậy huyện Nga Lạc này nằm ngay trên vị trí của cả Phúc Lộc và Trường Châu, quê của Lê Lợi tức bao gồm huyện Ngọc Lạc và Thọ Xuân hiện nay, vào thời Đường thì Nga Lạc phần bắc thuộc Trường Châu, phần nam thuộc Phúc Lộc (chú theo  Lê Hải Nam). 
Đặng Xuân Bảng thì xác định Trường Châu chính là phủ Yên Khánh và Nho Quan tỉnh Ninh Bình vào cuối thế  kỷ XIX, Đặng Xuân Bảng, Sđd, tr.46. Tuy nhiên, thông tin này  cần phải khảo lại một cách cụ thể.
32. Đây có lẽ đều là tên do người Hán đặt để gọi các dân tộc bản địa này. Cụ thể là chỉ  những dân tộc nào trong tương ứng với cách gọi hiện nay, thì cần phải tiếp tục nghiên cứu trong thời gian tới.
33. Bản thân Đỗ Anh Hàn (có bản chép là Luân), thủ hạ của Phùng Hưng cũng là một  dạng tù trưởng như vậy. Xin xem Tân Đường thư, quyển 170. 
34. Chỉ chung cho những tộc người từ phương Bắc (tức Trung Quốc) di cư  xuống đây, không nhất thiết chỉ có dân tộc Hán.
35. Có bản Tân Đường thư ghi các lạc ở đây là hộ, vùng này chỉ có 317 hộ, khoảng 1.500 khẩu. Điều này cổ vũ thêm cho lập luận về chữ “lạc” của chúng tôi ở trên.
36. Thực ra chỗ này nên là “huyện Đường Lâm thuộc châu Phúc Lộc”. So sánh với các sử liệu đã dẫn ở trên.
37.  Đại Việt sử ký toàn  thư, Sđd, tr.6a.
38. So sánh với sử liệu Trung Hoa như Cựu Đường thưTân Đường thư mà chúng tôi dẫn  ở trên, thì thông tin này khá trùng khít. Các sách ấy đều ghi châu Phúc Lộc (có khi được đổi thành châu Đường Lâm) bao gồm ba huyện Nhu Viễn, Đường Lâm và Phúc Lộc.
39. Học giả Đào Duy Anh cho rằng Đường Lâm thuộc Nghệ An ngày nay. Lập luận chủ  yếu của ông như  sau: “Theo Giã Đam ký (sic) thì từ Hoan Châu đi về phía Đông, hai ngày đến huyện Nhu Viễn châu Đường Lâm. Địa thế huyện Nhu Viễn và châu Đường  Lâm như thế là ở miền Hoành Sơn. Châu Phúc Lộc phải ở về miền thượng du, phía Tây Hà Tĩnh. Thái Bình hoàn vũ ký nói từ Hoan Châu đi về phía đông theo dọc biển đến châu Phúc Lộc là 102 dặm. Có thể là châu Phúc Lộc gồm cả miền Nam Hà Tĩnh và miền Quy  Hợp Ngọc Ma ở phía tây Hoành Sơn.” Xem Đào Duy Anh, Sđd, tr.102.  “Giã Đam Ký” mà Đào Duy Anh trích có lẽ là sách Trinh Nguyên thập đạo lục của Giả Đam và La Chấn  Ngọc, sách in năm Dân Quốc thứ 2 (1913).
Hơn nữa, ngay trong Đại Việt sử kí toàn thư  có kể chuyện Ngô Nhật Khánh sau chạy sang Chiêm Thành, tới cửa Nam Giới  (Hà  Tĩnh) đã đuổi vợ về (vợ Khánh là con gái Đinh Tiên Hoàng), điều này chứng minh Đường Lâm phải không xa Hà Tĩnh (và Chiêm Thành). Nếu Đường Lâm ở Sơn Tây thì  tính theo địa lý, không lẽ lại chạy xa và tới một nơi hoàn toàn xa lạ như thế. Cũng theo Tân Đường thư thì châu Đường Lâm phía tây nam giáp hai nước là Đường Minh và Chiêm Thành. Như vậy, ở đây xuất hiện hai châu Đường Lâm. Một châu ở tây nam Ái Châu, thổ tục giống Ái Châu, có thời gian xuất nhập với Ái Châu và một châu ở phía nam Hoan Châu, giáp với Đường Minh và Chiêm Thành. Trong một khoảng thời gian ngắn như vậy, khó có thể xuất hiện cùng lúc hai địa danh giống nhau với quy mô tương đương nhau như vậy. Rõ ràng, một trong hai sử liệu là có  vấn đề. Vấn đề sẽ được giải quyết khi xác định vị trí của Đường Lâm và Phúc Lộc (chua theo Lê Hải Nam). Ở đây, vì không gian của một bài viết là khá hạn hẹp, chúng tôi xin không trích lại những tài liệu chỉ liệt kê châu Phúc Lộc như một trong số các châu của  vùng Lĩnh Nam xưa như sách: Nguyên Phong cửu vực chí, quyển 10, Quảng Nam lộ; Văn hiến thông khảo, quyển 323 chỉ chép Phúc Lộc châu tam huyện (châu Phúc Lộc có 3 huyện); Khâm định tục Văn hiến thông khảo, quyển 333; Thái Bình ngự lãm; Mục lục nhị, Thái Bình ngự lãm, quyển 172, An Nam đô hộ phủ v.v…Tạm nêu ra ở đây để các bậc thức giả tìm đọc được dễ dàng.
40. Ngoài ra, cũng phải tham khảo ý kiến của Đào Duy Anh, từ đó mở ra một hướng  khác là đi tìm dấu vết Đường Lâm ở nơi có dòng dõi nhà Ngô ở Trảo Nha (nay  là  thị  trấn Nghèn, Can Lộc, Hà Tĩnh), nằm ở phía nam Hoan Châu, giáp với Đường Minh và 
Chiêm Thành (nên mới có ý kiến cho Đường Lâm ở vị trí Hà Tĩnh ngày nay). Xin tham khảo thêm bài viết nói về Ngô Quyền sinh ra và quê quán ở Can Lộc, Hà Tĩnh đăng trên  báo Văn Nghệ,  số 33 ra ngày 16-8 năm 1997. Tư liệu cổ: Ngô tướng công đường kí do  Nguyễn Thuần Phu và Vũ Quang Đại soạn, niên đại Khánh Đức 3 (1651) ở nhà thờ họ Ngô, Trảo Nha, Can Lộc,  Hà Tĩnh.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét