Top 5 quốc gia nguy hiểm về giao thông nhất Đông Nam á, Việt nam xếp thứ mấy ?
Bí Ẩn Angkor Wat - Quá trình xây dựng một kỳ quan
Bí ẩn về Hội Tam Hoàng tại Việt Nam, một thời làm mưa gió
Top 10 vụ cướp Ngân hàng (nhà băng) kinh điển nhất Việt Nam | phim Mỹ còn thua
Top 10 xe tăng và pháo tự hành chống tăng mạnh nhất của Mỹ trong chiến tranh thế giới thứ 2
Top 10 trận đấu xe tăng kinh hoàng nhất trong lịch sử thế giới
Top 10 xe tăng và pháo tự hành chống tăng mạnh nhất của Đức trong Thế chiến 2
top 10 xe tăng nổi bật làm thay đổi chiến tranh thiết giáp
Việt nam đã bắn bao nhiêu viên đạn pháo trong chiến dịch Điện Biên Phủ 1954
Bí mật những trận đánh giữa Việt minh với quân đội Anh tại Sài gòn năm 1945
Bí ẩn việc tướng Giáp đã phân tích so sánh lực lương Pháp và quân ta như thế nào?
Chiến thắng Điện Biên Phủ và 10 cái nhất có thể bạn chưa biết
TẠP CHÍ XƯA&NAY
NGUYỄN HUY TƯỞNG NGƯỜI VIẾT SỬ
Số 401 (4 – 2012)
Nguyễn Huy Thắng
Nguyễn Huy Tưởng là nhà văn chuyên khai thác đề tài lịch sử. Từ các tác phẩm trước Cách mạng như Đêm hội Long Trì, An Tư, Vũ Như Tô… đến những trang viết cuối đời cho thiếu nhi của ông, như Kể truyện Quang Trung, Lá cờ thêu sáu chữ vàng… thì đều là những tiểu thuyết, kịch, truyện lịch sử. Các tác phẩm khác, về đề tài cách mạng và kháng chiến, như Bắc Sơn, Ký sự Cao Lạng, Sống mãi với Thủ đô, Lũy hoa… cũng đều đậm chất sử thi và được triển khai trên cơ sở các sự kiện lịch sử, như khởi nghĩa Bắc Sơn, chiến dịch Biên giới, cuộc chiến “Hà Nội sáu mươi ngày khói lửa”. Nhà sử học Dương Trung Quốc quả đã có lý khi gọi ông là “người viết sử bằng văn chương”. Gần đây hơn, trong một bài viết mới về ông, Dương Trung Quốc lại tiếp tục khẳng định: “Nguyễn Huy Tưởng cùng văn nghiệp của ông mang cốt cách của một người viết sử”.
Nguyễn Huy Tưởng. Ký họa của
Nguyễn Tư Nghiêm năm 1947.
Nguyễn Tư Nghiêm năm 1947.
Ở bài viết này, tôi muốn nói đến một tư cách khác nữa của Nguyễn Huy Tưởng – đó là tư cách của một người viết sử theo nghĩa đen của từ này. Thật vậy, trong cuộc đời cầm bút không dài của mình, Nguyễn Huy Tưởng đã không chỉ một lần làm công việc của một người viết sử, khi ông viết những tiểu luận, lược sử, thậm chí có thể cả sách nữa, về các sự kiện lịch sử hay giai đoạn lịch sử quan trọng của dân tộc.
Xin bắt đầu bằng hai tiểu luận ông viết trên tạp chí Tri Tân – một tạp chí chuyên về khảo cứu lịch sử trong những năm trước Cách mạng: bài Hội nghị Diên Hồng và Ý nghĩa việc thiên đô của Lý Thái Tổ trong lịch sử Việt Nam. Ở đây chúng tôi sẽ không đi sâu vào nội dung bài viết mà chỉ nêu những gì cho thấy ngòi bút “sử quan” của Nguyễn Huy Tưởng. Trong bài Hội nghị Diên Hồng, sau khi điểm lại khá chi tiết các tình tiết, sự kiện đã diễn ra trong bối cảnh cuộc hội nghị cũng như cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông nói chung, tác giả đi đến một nhận xét thật độc đáo với một bản lĩnh riêng của người làm sử: “Người ta chỉ biết ca tụng cái chiến công oanh liệt là Bạch Đằng(1) nhưng không ai biết rằng trận Bạch Đằng không lạ; mà hội nghị Diên Hồng mới lạ. Bạch Đằng chỉ là cái kết quả tất nhiên của cuộc hội nghị có tính cách hoàn toàn dân chủ kia”(2).
Ở bài Ý nghĩa việc thiên đô của Lý Thái Tổ trong lịch sử Việt Nam, ta cũng có thể nhận thấy lối viết chặt chẽ, chính xác của Nguyễn Huy Tưởng khi bình luận về sự kiện lịch sử này: “Từ khi các đế vương ta đóng đô ở thành “Rồng hiện” trong khoảng bảy trăm năm lịch sử đã hiến cho ta không biết bao nhiêu trang oanh liệt vẻ vang… Thành Thăng Long, với cái tên tuyệt đẹp, không phụ giống nòi ta. Cũng có nhiều phen nó phải qua những thời kỳ nguy hiểm, tối đen, nhưng nó có thể tự hào rằng nó như một trang trung thần, một bậc nghĩa sĩ. Cho nên khi Thăng Long thành đất đế đô tức là lúc dân ta bắt đầu phú cường, và khi ta bỏ nó, cũng tức là ngày ta bắt đầu qua một thời kỳ suy nhược”. Tại sao lại bảy trăm năm chứ không phải một nghìn năm như sau này ta hay nói? Bởi vì, Thăng Long thực sự có tư cách là kinh đô của Nhà nước Đại Việt chỉ có thể tính từ khi Lý Công Uẩn dời đô, đến cuối thời Hậu Lê (cuối thế kỷ XVIII), còn sau đó cả nhà Nguyễn Tây Sơn và Nguyễn Ánh đều lập kinh đô ở dải đất miền Trung, và Thăng Long bị hạ cấp xuống chỉ còn là thủ phủ của một trấn, rồi một tỉnh. Kể từ đó cho đến thời điểm của bài viết (1941), đất nước ta hết nội chiến lại bị nạn ngoại xâm và cứ thế trải qua một “thời kỳ suy nhược” kéo dài, như lời nhận xét của tác giả…
Cách mạng tháng Tám thành công, Nguyễn Huy Tưởng đảm nhận nhiều trọng trách, trong đó có tờ Tiên Phong, cơ quan của Hội Văn hóa Cứu quốc mà ông là một trong những người lãnh đạo. Đây là thời điểm ông viết kịch năm hồi Bắc Sơn, công diễn trên sân khấu Nhà hát lớn đầu tháng 4-1946, và hàng loạt ký sự, bút ký, truyện ngắn, kịch ngắn trên các số báo suốt từ cuối 1945 cho đến sát ngày Toàn quốc kháng chiến (cuối 1946). Giữa bộn bề công việc quản lý và sáng tác, Nguyễn Huy Tưởng đã viết liên tiếp hai bài trên tạp chí Tiên Phong thuộc dạng thuần túy sử liệu: Phác qua lịch sử cách mạng Việt Nam từ ngày thuộc Pháp đến ngày nay (số 4 – 5, in gộp) và Nhân ngày kỷ niệm Yên Bái (số 6, với bút danh Chính Tâm). Ở bài đầu, tác giả phác họa lịch sử 80 năm Pháp thuộc, kể từ thời nhà Nguyễn để mất nước vào tay xâm lược Pháp, đến Cách mạng tháng Tám 1945. Bên dưới tiêu đề Phác qua lịch sử cách mạng Việt Nam từ ngày thuộc Pháp đến ngày nay, có ghi chú: “Trích trong cuốn Lịch sử cách mạng Việt Nam của tác giả, sắp xuất bản” – không rõ là chú thích của tòa soạn hay tác giả. Ở bài sau, tác giả viết vào đêm 9-2- 1946, đúng 16 năm sau ngày cuộc khởi nghĩa Yên Bái của Việt Nam Quốc dân đảng nổ ra và bị đàn áp, để ôn lại sự kiện lịch sử hào hùng này. Bấy giờ Nguyễn Huy Tưởng đã là một đảng viên cộng sản, nhưng ông luôn giữ thái độ khách quan khi nhận xét, đánh giá về các phong trào cách mạng và yêu nước do các chính đảng khác tiến hành. Chẳng hạn, ở bài Phác qua lịch sử…, trong 12 trang tạp chí ông dành ra gần trọn một trang để nói về cuộc khởi nghĩa Yên Bái do các vị Nguyễn Thái Học, Nguyễn Khắc Nhu lãnh đạo… Sau khi nêu những hạn chế đã dẫn đến thất bại, ông khẳng định tầm ảnh hưởng rộng lớn của cuộc khởi nghĩa: “Việt Nam Quốc dân đảng đã làm một cuộc cách mạng táo bạo và lớn lao, khiến cho quần chúng sôi nổi, giặc Pháp phải lo sợ, và thế giới phải chú ý đến dân tộc Việt Nam. Những bài báo nói về cuộc Khởi nghĩa xuất hiện trên những cơ quan ngôn luận quốc tế, trong nghị viện Pháp, nổi lên những cuộc chất vấn kịch liệt về vấn đề Đông Dương. Người Việt Nam đã ca một bản anh hùng ca đầy tráng khí, và, trên trường tranh đấu, đã dịch một phần nào về phía độc lập xa vời”. Còn ở bài báo sau, ông lại một lần nữa bày tỏ sự trân trọng đối với cuộc khởi nghĩa cùng các lãnh tụ của nó: “16 năm đã qua. Nay ta mới được công nhiên kỷ niệm những anh hùng đã đổ máu cho nền độc lập Việt Nam. Chúng ta có thể đọc to tên các vị mà không bị tội. Chúng ta đã có thể ngửng đầu trông lên những bài vị, những hình tượng của các vị mà không hổ thẹn”. Ta có thể thấy ở đây sự nhất quán của một ngòi bút sử quan, và sự nồng nhiệt của một nhà văn giàu cảm xúc lịch sử.
Trở lại với bài Phác qua lịch sử cách mạng Việt Nam từ ngày thuộc Pháp đến ngày nay, đăng trên Tiên Phong số ra đầu tháng 2-1946. Như trên đã nói, ở dưới tiêu đề của bài này có ghi chú: “Trích trong cuốn Lịch sử cách mạng Việt Nam của tác giả, sắp xuất bản”. Điều này có nghĩa, đây là một đoạn trích, hoặc tóm lược, từ một cuốn sử của tác giả sẽ ra nay mai. Tuy nhiên, trên các số tạp chí Tiên Phong tiếp sau đó không hề có đăng quảng cáo về việc xuất bản một cuốn sách nào như thế của Nguyễn Huy Tưởng, hoặc có thêm bất kỳ thông tin nào về nó. Phải chăng, cuốn sách mới là một ý tưởng, dự kiến sẽ được phát triển từ các trang phác thảo nói trên, nhưng trong thực tế tác giả đã không có điều kiện viết ra? Tôi đã nghĩ thế và tin là như thế, cho đến gần đây, khi đọc lại một trang nhật ký của cha mình. Đêm 15-2-1949, cha tôi sau một tháng đi với pháo binh về, có gặp nhà sử học Trần Văn Giàu ở chiến khu Việt Bắc. Và ông đã ghi lại trong nhật ký một thông tin đáng chú ý: “Trần Văn Giàu nói ở Xiêm người ta in Lịch sử cách mạng Việt Nam của mình”.
Bút tích của Nguyễn Huy Tưởng.
Nhưng cũng phải xin thú thực, thoạt tiên, tôi chỉ quan tâm đến ý nghĩa của sự việc được nói tới, mà không mấy nghĩ đến vấn đề tác giả, vì chữ “của mình” dễ khiến ta nghĩ đến là “của Việt Nam” nói chung. Bấy giờ, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã ra đời được bốn năm (1945 – 1949), nhưng chưa được thế giới công nhận; cuộc kháng chiến chống Pháp của ta hoàn toàn đơn thương độc mã. Để đối ngoại, ta chỉ mở duy nhất một phòng đại diện ngoại giao và Thông tấn xã Việt Nam ở Vọng Các, tên gọi thủ đô Bangkok của Thái Lan khi ấy. Thái Lan cũng là nơi có nhiều Việt kiều làm ăn, sinh sống. Dễ hiểu nếu như ở đó có xuất bản một cuốn lịch sử cách mạng Việt Nam để phục vụ nhu cầu tìm hiểu về Việt Nam nói chung và lịch sử cuộc đấu tranh chống Pháp của nhân dân ta nói riêng. Nhưng tại sao lại có sự trùng hợp hoàn toàn giữa tên cuốn sách được nêu trong ghi chú ở bài đăng trên Tiên Phong, và tên cuốn sách mà Trần Văn Giàu nói đến trong nhật ký của cha tôi? Phải chăng giữa hai thời điểm ấy (tháng 2-1946 đến tháng 9-1949), cha tôi đã viết xong cuốn sách và nó đã được xuất bản, không những thế, còn được in ở Thái Lan? Phải chăng, chữ “của mình” ông viết trong nhật ký chính là có ý nói của ông, chứ không phải của ai đó chung chung? Dẫu sao, đây vẫn chỉ là giả thuyết, một khi chúng ta chưa có được tung tích gì về cuốn sách, nhất là cuốn in ở Thái Lan.
Thiết nghĩ, dù Nguyễn Huy Tưởng có là tác giả của một cuốn lịch sử như thế hay không, thì tấm lòng của ông đối với lịch sử đất nước và những nỗ lực của ông trong việc tôn vinh các trang sử của dân tộc, thông qua các tác phẩm văn học và cả các bài viết thuần túy sử liệu của ông, như trên đã trình bày, cũng thật đáng trân trọng. Nhất là trong bối cảnh ngày nay, khi mà sự thiếu quan tâm đến lịch sử trong một bộ phận không nhỏ thuộc nhiều lứa tuổi, đang là một vấn đề được dư luận xã hội quan tâm, một mối lo của tất cả những ai nặng lòng với lịch sử, cũng tức là với nguồn cội của mình. Để kết thúc, xin được trích dẫn một câu châm ngôn của Nguyễn Huy Tưởng viết khi 20 tuổi, cách đây đã 80 năm: “Người không biết lịch sử nước mình là một con trâu đi cày ruộng. Cày với ai cũng được, mà cày ruộng nào cũng được”.
CHÚ THÍCH:
1. Chiến thắng có tính quyết định của quân dân nhà Trần trên sông Bạch Đằng trong cuộc chống Nguyên Mông lần thứ ba.2. Ý nói việc vua Trần mời các vị bô lão trong cả nước về hỏi ý kiến nên đánh hay nên hòa trước họa xâm lăng của giặc Nguyên Mông.

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét