Top 5 quốc gia nguy hiểm về giao thông nhất Đông Nam á, Việt nam xếp thứ mấy ?
Bí Ẩn Angkor Wat - Quá trình xây dựng một kỳ quan
Bí ẩn về Hội Tam Hoàng tại Việt Nam, một thời làm mưa gió
Top 10 vụ cướp Ngân hàng (nhà băng) kinh điển nhất Việt Nam | phim Mỹ còn thua
Top 10 xe tăng và pháo tự hành chống tăng mạnh nhất của Mỹ trong chiến tranh thế giới thứ 2
Top 10 trận đấu xe tăng kinh hoàng nhất trong lịch sử thế giới
Top 10 xe tăng và pháo tự hành chống tăng mạnh nhất của Đức trong Thế chiến 2
top 10 xe tăng nổi bật làm thay đổi chiến tranh thiết giáp
Việt nam đã bắn bao nhiêu viên đạn pháo trong chiến dịch Điện Biên Phủ 1954
Bí mật những trận đánh giữa Việt minh với quân đội Anh tại Sài gòn năm 1945
Bí ẩn việc tướng Giáp đã phân tích so sánh lực lương Pháp và quân ta như thế nào?
Chiến thắng Điện Biên Phủ và 10 cái nhất có thể bạn chưa biết
TẠP CHÍ XƯA&NAY
CÔN ĐẢO
Pháo đài tiền tiêu phía đông nam của tổ quốc
SỐ 402 (4-2012)
Phạm Xanh
CÔN ĐẢO CÓ MỘT VỊ TRÍ ĐẶC BIỆT TRONG ĐỜI SỐNG CHÍNH TRỊ, KINH TẾ VÀ QUÂN SỰ CỦA ĐẤT NƯỚC. HƠN THẾ NỮA, CÔN ĐẢO – PHÁO ĐÀI NỔI, KHÔNG THỂ ĐÁNH CHÌM GIỮA BIỂN ĐÔNG, HÀNG GIẬU THIÊN NHIÊN PHÍA ĐÔNG NAM CỦA TỔ QUỐC. NHẮC TỚI CÔN ĐẢO LÀ GỢI NHỚ TRUYỀN THỐNG OANH LIỆT CỦA BIẾT BAO THẾ HỆ NGƯỜI VIỆT NAM YÊU NƯỚC BỊ LƯU ĐÀY NƠI ĐÂY, LÀ KHƠI DẬY NIỀM TỰ HÀO LẪN UẤT HẬN CỦA CẢ MỘT DÂN TỘC… CÔN ĐẢO VỚI TẤT CẢ NHỮNG ĐIỀU ĐÓ LÀ TẤM GƯƠNG PHẢN CHIẾU CUỘC ĐẤU TRANH MỘT MẤT MỘT CÒN CỦA DÂN TỘC TA DƯỚI SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM CHỐNG LẠI MỌI KẺ THÙ. TRONG BÀI VIẾT NÀY, CHÚNG TÔI XIN ĐỀ CẬP TỚI MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ QUẦN ĐẢO NÀY TRÊN BÌNH DIỆN BIÊN GIỚI TRONG LỊCH SỬ DÂN TỘC TA.
Trạm điện tín Côn Đảo thời Pháp
Theo Đại Nam nhất thống chí, năm Kỷ Mùi (1679), Thái Tông Hiến triết hoàng đế sai tướng mở đất dựng đồn ở địa phận gần Tân Mỹ. Năm Mậu Dần (1698), đời Hiển tông Hiếu Minh hoàng đế lại sai Thống suất chưởng cơ Nguyễn Hữu Kính (Cảnh) kinh lược đất ấy, đặt phủ Gia Định, lấy xứ Sài Gòn làm huyện Tân Bình, dựng Dinh Phiên Trấn. Tác phẩm Phủ Biên tạp lục của nhà bác học Lê Quý Đôn (1762-1784) viết năm 1776, chép vắn tắt về Côn Lôn như sau: “Họ Nguyễn lại đặt đội Bắc Hải, không định bao nhiêu suất, hoặc người thôn Tứ Chính ở Bình Thuận, hoặc người xã Cảnh Dương (Ròn, Quảng Bình), ai tình nguyện đi thì cấp giáp sai đi, miễn cho tiền sưu, cùng các tiền tuần đò, cho đi thuyền câu nhỏ ra các xứ Bắc Hải, cù lao Côn Lôn và các đảo ở Hà Tiên tìm hiện vật của tàu đắm và các thứ đồi mồi, hải ba, bào ngư, hải sâm, cũng sai cai đội Hoàng Sa đảm nhiệm(1).
Trong công trình khảo cứu sử địa Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức (1765-1825), về Côn Đảo có đoạn viết: “Ở giữa Biển Đông, từ cửa cảng Cần Giờ chạy ghe về hướng mặt trời mọc đi xuống phía đông hai ngày đêm mới đến. Đảo lớn 100 dặm có ruộng núi trồng lúa, bắp, khoai, đậu nhưng không nhiều, thường mua gạo ở Gia Định để bổ túc. Thổ sản là ngựa và trâu, không có hùm beo. Dân ở đảo đoàn kết làm binh sĩ gọi là Tiệp nhất đội, Tiệp nhị đội, Tiệp tam đội thuộc đồn Cần Giờ, đều có đủ khí giới để phòng bị quân cướp ờ xứ Đồn Bàn vì không thể kêu gọi đến chỗ khác được, quân lính ở đây, thường lấy yến sào, đồi mồi, ba ba, quế nắm, ốc tai tượng, theo thời tiết dâng nộp, còn sinh kế thì nhờ ở hải sản: cá, tôm, quả cau to lớn vỏ hồng, khí vị ngon thơm, thường đến mùa Xuân nhân cau ở Gia Định chưa kết quả mà cau ở đảo đã dùng được, chở vào đổi bán, được giá rất cao” (2). Trịnh Hoài Đức đã sống 60 tuổi, làm quan dưới triều Gia Long và Minh Mạng, và chắc chắn ông viết cuốn sách đó dưới thời Minh Mạng khi mà đảo Côn Lôn đã được khai thác một cách triệt để những thế mạnh của nó.
Do nằm trên đường hàng hải từ tây sang đông, từ bắc xuống nam nên quần đảo Côn Lôn tiếp xúc với phương Tây khá sớm (thế kỉ XVII). Như ta đã biết, đội quân tiên phong của chủ nghĩa thực dân núp dưới lá cờ truyền đạo Thiên Chúa cùng một lúc thực hiện hai nhiệm vụ cơ bản là truyền đạo và tiến hành thu thập, điều tra, cung cấp thông tin cần thiết cho đội quân xâm lược của chủ nghĩa tư bản đang túc trực ở phía sau. Giáo sĩ A.De.Rhodes mang quốc tịch Pháp đã đặt chân tới Đàng Trong năm 1624 với những nhiệm vụ đó. Hơn 25 năm sống ở nước ta, lúc vào Nam, lúc ra Bắc ông đã mang về Pháp một tấm bản đồ đầu tiên về xứ này và cho in tại Lion cuốn Từ điển Việt – Bồ – La, Hành trình truyền đạo và lịch sử xứ Đàng Ngoài, trong đó ông cho biết khả năng buôn bán: “Ở đây, có một chỗ cần chiếm lấy và đặt cơ sở tại đó, thương nhân châu Âu có thể tìm thấy một nguồn lợi phong phú tiền lời và của cải”(3). “Chỗ cần chiếm lấy” ấy chính là Côn Đảo. Hơn 15 năm sau, một đồng bào của ông, thương nhân Vêrê (Veret) đã xác nhận điều đó, Vêrê đã tới Côn Đảo và mở quán hàng tại đây.
Nhận thấy vị trí quan trọng của đảo, ông đã đề nghị với công ty Đông Ấn của Pháp chiếm lấy đảo này. Trong lá thư đề ngày 5-11-1686 gửi công ty Đông Ấn, ông viết: “Ở đây có nhiều hòn đảo chưa có người ở, tất cả các hương liệu ở đây rất tốt và rất nhiều. Côn Đảo là hòn đảo thuận tiện nhất để làm các việc đó. Côn Đảo có 3 cửa biển tốt, nhiều con suối nhỏ và một con sông nhỏ, một vùng cây cối đẹp nhất trên thế giới. Các tàu của Trung Hoa, Bắc kì, Macao, Manila, Nam Kì… muốn đi buôn bán với Ấn Độ phải đến hết sức gần hòn đảo này và các tàu ở Ấn Độ, tàu của Anh và của Hà Lan muốn đến biển Trung Hoa cũng phải qua lại ở đây. Chiếm được nơi này cũng lợi như người ta chiếm được hai eo biển La Sông đơ và Malaxca. Hơn nữa phải tính đến việc buôn bán với nước Cao Miên và nước Lào như là cái gì to lớn vì các mặt hàng như của nước Xiêm” (4). Nhưng vì công ty này đang bị tư bản Anh chèn ép, tìm cách hất cẳng ra khỏi Ấn Độ nên không đủ tâm trí chiếm đảo. Năm 1702, công ty Anh ở Ấn Độ phái quân đến chiếm Côn Lôn. Một lái buôn tên là Đaoty (Doughty) được cử làm chúa đảo. Quân Anh gồm trên 200 tên lính, phần đông là người Mã Lai dựng doanh trại ở đây. Ngày nay, từ mỏm bắc nhìn xuống vũng đông bắc còn thấy dấu tích cột cờ của doanh trại quân Anh thời đó. Chúng mở thương điếm buôn bán với các nước quanh vùng. “Có thuyền Trung Hoa chở gạch ngói tới đây đổi lấy hàng hóa của Hồng Mao (nước Anh) vì vốn ít mà lãi nhiều”(5). Một điều chắc chắn là tư bản Anh muốn biến Côn Lôn thành một bàn đạp để xâm chiếm những vùng đất mới, trước hết là nước ta. Nhận thấy nguy cơ đó, chúa Nguyễn đã tổ chức đánh đuổi quân Anh khỏi đảo, giành lại sự vẹn toàn lãnh thổ cho tổ quốc, xác định chủ quyền của ta trên đảo Côn Lôn. Từ trước đến nay, sự kiện này được miêu tả như một cuộc binh biến của lính đánh thuê Mã Lai nổi lên đánh đuổi chúa đảo để được trở về quê quán. Sự thực không phải như vậy mà là cuộc đánh đuổi quân Anh ra khỏi đảo của chúa Nguyễn. Trong Đại Nam nhất thống chícó chép về sự kiện này như sau: “Năm Nhâm Ngọ, Hiển tông thứ 11(1702) giặc biển An liệt (Anh) đi thuyền đến đảo Côn Lôn, người tù trưởng là Tô lạt Gia thi (Thomas Doughty) 5 người chia làm 5 ban cùng bọn đồ đảng hơn 200 người kết dựng trại sách, của cải rất nhiều, bốn mặt đều đặt súng, ở hơn một năm. Trấn thủ Trấn Biên là Trương Phúc Phan chiêu một 15 người Chà Và (người Mã Lai), bí mật sai họ trá hàng, rồi nhân đêm phóng lửa đốt trại, đâm chết Nhất ban, Nhị ban, bắt được Ngũ ban, còn Tam ban và Tứ ban theo đường biển trốn thoát. Nhận được tin báo, Trương Phúc Phan sai lính đi ra đảo thu hết của cải dâng nộp”(6). Rõ ràng, quần đảo Côn Lôn, mặc dù chưa có người ở, nhưng hoàn toàn không phải là một đảo không có chủ mà kẻ nào muốn chiếm cũng được. Thực dân Anh, sau hơn một năm lập căn cứ trái phép trên đảo, đã phải gánh chịu hậu quả đó. Và cũng từ đó, thực dân Anh, Hà Lan, mặc dù ở cách đảo này không xa, đã không dám bén mảng đến hòn đảo có chủ này nữa. Pô lanh Vi an (Paulin Vial), giám đốc sở Nội chính Nam kỳ, một trong những quan cai trị đầu tiên sau khi thực dân Pháp chiếm được 3 tỉnh miền Đông Nam kỳ, trong một công trình khảo cứu của mình đã viết: “Hòn đảo này (Côn Lôn) ở trước cửa sông Cửu Long, một thế kỉ trước đây đã do người Anh chiếm đóng, song đã bỏ sau khi thấy không thể giữ được nó. Một đồn quân nhỏ của họ lẻ loi xa bờ một quãng ngắn, trên đường xa của thương thuyền từ Trung Hoa đến Mã Lai là mục tiêu tấn công không ngừng của người bản xứ. Các vua An Namvẫn là người chủ hợp pháp của đảo ấy”(7).
Thời kỳ đánh nhau với quân Tây Sơn, Nguyễn Ánh một vài lần đã chạy ra đảo Côn Lôn. Năm 1787, nhằm dựa vào thế lực Pháp chống lại Tây Sơn, Nguyễn Ánh đã ký với vua Pháp Lui XVI cái gọi là “Hiệp ước liên minh phòng thủ và tấn công”. Tại điều khoản 5 của hiệp ước có viết: “Đức vua rất ngoan đạo được hưởng tài sản và chủ quyền trên đảo Côn Lôn”. Nước Pháp đang đứng trước thềm cuộc cách mạng tư sản nên vua Lui XVI đơn phương xé bỏ hiệp ước và Hiệp ước không có hiệu lực.
Cho đến cuối thế kỷ XVIII, cư dân trên đảo vẫn còn thưa thớt, chủ yếu là những người vì lý do đặc biệt không thể sống trong đất liền nên đã di cư cả gia đình ra đây sinh cơ lập nghiệp. Vào thời kỳ có khoảng 60 gia đình, sống thành một xóm nhỏ. Trong lá thư đề ngày 15-3-1789, Toàn quyền Pôngđisêri (Pondich-ery), thuộc địa của Pháp ở Ấn Độ là Đờ Cônguây (De Conway) gửi cho Bá tước Luydécnơ ở Paris: “Hiệp sĩ Đờ Kécsanh (de kersaint) (là người được Toàn quyền Đờ Cônguây cử đi điều tra Côn Lôn) đã về đến đây ngày 13 tháng này với chiến hạm Đruyát (Druyade) và chiến thuyền hai buồm Pandonse. Ông ta đã tiến hành một chiến dịch lý thú và định trình lên ngài những bản đồ ông ta mới vẽ cùng nhật ký và những lời chú thích của ông ấy. Qua nhật ký và hồi ký ấy, ngài sẽ thấy rằng hai hòn đảo mà hoàng đế trong điều 5 của hiệp ước, một cái là Poulo Condore thì rất độc, mọi người Âu đã bỏ đi và ở đó chỉ có không đầy 60 gia đình đi trốn sinh sống ngắc ngoải trong cảnh nghèo đói cùng cực”(8).
Đến triều Nguyễn, dưới thời Gia Long, đặc biệt dưới thời Minh Mạng, đã xúc tiến mạnh mẽ việc chính thức hóa trên thực tế chủ quyền quần đảo Côn Lôn bằng cách biến hòn đảo này thành nơi phát vãng những phần tử chống đối: “Gia Định phải giải những kẻ phản loạn là bọn giặc Nặc Yểm, quan mục là tên Giao, Xiêm mục là Ba Lặt Đột đến kinh, vua sai đình thần tra xét ở nhà công chính. Ba Lặt Đột bị xử tử. Nặc Yểm, tên Giao đều bị giam cầm… còn những nô bộc trước kia lưu đày các tỉnh Biên Hòa, Vĩnh Long, Định Tường nay phái đi an trí ở Côn Lôn”(9). Và hơn thế nữa, dưới thời Minh Mạng đã đặt đồn trú trên đảo để “ngăn ngừa sự lo bất ngờ”. Đến năm 1840, Minh Mạng gửi Dụ cho quan tỉnh Vĩnh Long đốc thúc biền binh trú phòng ở Côn Lôn ra sức khẩn ruộng hoang để tự túc lấy lương thực. Như vậy, Minh Mạng đã biến đội quân đồn trú làm nhiệm vụ canh phòng, tuần tra vùng lãnh hải thành một đội quân làm cả nhiệm vụ kinh tế. Cũng năm đó, Minh Mạng truyền dụ cho 5 tỉnh Vĩnh Long, Định Tường, Gia Định, Biên Hòa, và An Giang chiêu mộ dân trong tỉnh, không kể gái trai già trẻ ai tình nguyện ra đảo làm ăn sinh sống thì cấp tiền vốn, mỗi người 10 quan hay 3,5 quan(10).
Vậy là, đến năm 1840, trên đảo Côn Lôn ngoài những người phát vãng biền binh trú phòng, đã xuất hiện những người dân thường thuộc 5 tỉnh Nam kỳ tự nguyện di cư ra đảo làm ăn sinh sống. Bằng những chính sách như trên, triều đình Huế đã điều khiển một luồng di cư tới Côn Lôn nhằm triệt để khai thác tiềm năng to lớn của quần đảo và tạo ra ở đây một cơ sở xã hội vững chắc cho quân đội đồn trú. Vì thế, số dân trên đảo đông đúc thêm và lập thành làng An Hải, đội Thanh Hải chuyên làm việc công và tìm kiếm những hải vật hiếm để dâng nộp lên trên. Một tờ Sớ của tỉnh thần Vĩnh Long tâu lên vua Minh Mạng ngày 1 tháng 10 năm Canh Tý (1840) cho ta biết điều đó: “Bình dân ở đảo Côn Lôn, tờ Sớ viết, số người khá nhiều (250 người) cùng với số tù phạm tiết tháo phát vãng đến (210 người) giản hoặc có người đã mãn hạn, lệ theo vào sổ dân. Xin cho trong số binh dân ấy lựa lấy 50 người đặt làm một đội Thanh Hải, sai phái việc công và hằng năm sai đi lấy tổ yến để nộp, còn thì cho cùng với số tù phạm đã lệ thuộc vào sổ đặt làm thôn An Hải. Duy xét ra điền thổ ở đảo không có mấy (binh dân trước đã khai khẩn thành điền là 150 mẫu, đất vườn trồng cau hơn 8 mẫu, đất trồng khoai đậu hơn 21 mẫu. Về tù phạm mới khẩn thành điền hơn 23 mẫu, còn thì bỏ hoang, rừng rậm có thể cung cấp được còn 180 mẫu, mà nơi dân ở thì có chỗ (dựng nền cây móng) chưa thành.
Vậy là thôn An Hải, thôn duy nhất trên đảo Côn Lôn được thành lập vào năm 1840. Thôn này nằm về phía nam đảo. Đến giữa thế kỷ XIX, số dân trên đảo có tới 1.000 người, gồm cả dân thường, biền binh trú phòng và những người bị lưu đày. Về hành chính, đảo Côn Lôn từ năm Minh Mạng thứ 19 (1838) về trước thuộc trấn Gia Định, từ năm thứ 20 về sau thuộc tỉnh Vĩnh Long”.
Ngày 9-12-1861, Đô đốc Bôna phái tàu Noocdaga -ray, do trung úy hải quân Lêxpet chỉ huy, đánh chiếm Côn Đảo. Nhận thấy vị trí đặc biệt của quần đảo, Thống đốc Nam kỳ Bôna, ngày 1-3-1962, đã ra nghị định thành lập nhà tù Côn Đảo. Đây là nhà tù đầu tiên thực dân Pháp dựng lên trên đất nước ta: “Ngày 1-3-1862, Côn Đảo được trả về mục đích cũ của nó và được chuyển thành một nhà tù. Một đoàn tù đầu tiên gồm 50 kẻ bất lương đã được đưa ra đó. Vị trí lẻ loi của hòn đảo con này cho phép giam giữ chắc chắn những kẻ bị cầm tù mà sự có mặt của chúng ở trong lòng thuộc địa sẽ là một điều nguy hiểm”.
Ngày 5-6-1862, triều đình Huế ký hiệp ước với Pháp và Tây Ban Nha gồm 12 điều khoản, trong đó cam kết: “Ba tỉnh miền Đông Nam kỳ là Gia Định, Định Tường, Biên Hòa và đảo Côn Lôn hoàn toàn thuộc chủ quyền của Pháp. Thế là, bằng Hiệp ước 1862, thực dân Pháp đã chính thức hóa việc chiếm đóng quần đảo Côn Lôn và biến đảo này thành nhà tù của chúng. Cùng năm đó, để trả lời Hiệp ước bán nước năm 1862 tù nhân cùng dân Côn Đảo nổi dậy khởi nghĩa. Thực dân Pháp cho quân ra đàn áp cuộc khởi nghĩa, tàn sát dã man những người tù tay không và triệt hạ làng An Hải. Từ đó, làng An Hải bị xóa đi trên bản đồ Côn Đảo.
Từ năm 1862 đến năm 1945, ròng rã hơn 80 năm, Côn Đảo là nơi đày ải các thế hệ những người yêu nước Việt Nam, đặc biệt là những người cộng sản. Thời kỳ này, về mặt hành chính, Côn Đảo trực thuộc thống đốcNam kỳ. Cách mạng tháng Tám thành công, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh cho tàu ra đón các chiến sĩ cách mạng về đất liền. Nhưng không bao lâu sau, thực dân Pháp quay lại. Côn Đảo một lần nữa biến thành nơi giam cầm những người kháng chiến. Rồi Pháp thua, Mỹ tới. Tên đế quốc mới tới này cũng khai thác vị trí lẻ loi của hòn đảo này, biến nó thành một nhà tù khổng lồ. Thời Mỹ – ngụy, Côn Đảo được nâng thành tỉnh Côn Sơn.
Sau ngày giải phóng, về hành chính tỉnh Côn Sơn được đổi thành tỉnh Côn Đảo. Từ tháng 1-1977, là Câu chuyện ở huyện Côn Đảo thuộc tỉnh Hậu Giang, có thời là đặc khu Vũng Tàu – Côn Đảo, nay là huyện đảo thuộc tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
CHÚ THÍCH:
1. Lê Quý Đôn toàn tập, tập 1, Nxb Khoa học Xã hội, H., 1977, tr.120.
2. Trịnh Hoài Đức, Gia Định thành thông chí, Nxb Phủ quốc vụ khanh đặc trách văn hóa, S., 1972, tr.79.
3. A.Tômadi, Cuộc chinh phục xứ Đông Dương, Tư liệu khoa Lịch sử trường Đại học KHXH & NV, ký hiệu VT 306 ABC, tr.7.
4. A. Septantt, Thời kỳ đầu của xứ Đông Pháp, bản dịch của khoa Lịch sử trường Đại học KHXH & NV, ký hiệu VT 474, tr.30-31.
5. Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam nhất thống chí, tập V, Nxb KHXH, H., 1971, tr.147.
6. Quốc sử quán triều Nguyễn, Sđd, tr.127.
7. Paulin Vial, Những năm đầu của Nam kỳ thuộc Pháp, bản dịch của khoa Lịch sử trường Đại học KHXH & NV, ký hiệu VT 294ab, tr.82.
8. A. Septantt, Sđd, tr.54.
9. Đại Nam thực lục chính biên, tập XXII, đệ nhị kỷ XVIII (1840), Nxb KHXH, H., 1969, tr.16.
10. Đại Nam thực lục chính biên, Sđd, tr.42.
11. Đại Nam thực lục chính biên, Sđd, tr.307 ở Sư đoàn 341

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét