Thứ Năm, 5 tháng 4, 2012

Bóng ma cuộc chiến tranh Việt Nam vẫn tồn tại trong chính phủ Mỹ


Bóng ma cuộc chiến tranh Việt Nam

vẫn tồn tại trong chính phủ Mỹ

Tác giả: Mark Thompson
Người dịch: Phạm Xuân
Ngày 18-07-2011
Chẳng có gì là thực sự mới trong trò chơi chiến tranh, đó là điều đã được chỉ rõ trong cuốn sách Di sản ám ảnh: Việt Nam và các đời Tổng thống Mỹ từ Ford tới Obama do hai tác giả đồng thời là hai cha con Marvin Kalb và Deborah Kalb viết. Thật khó có thể đúng lúc hơn, khi mà nước Mỹ và người lãnh đạo của nó đang cùng lúc phải vật lộn với những thách thức đặt ra bởi Afghanistan, Iraq và Libya. Hai tác giả đã gợi lại bóng ma về cuộc chiến tranh Việt Nam, đôi khi vẫn bay lượn qua Nhà Trắng, Bộ Ngoại giao và Lầu năm góc cho tới tận hôm nay. Marvin Kalb đã có 30 năm phụ trách mảng chính sách ngoại giao và một số vấn đề khác cho đài CBS và bản tin NBC trước khi giảng dạy tại trường Havard. Deborah Kalb là nhà báo tại Washington trong 2 thập kỷ cho hãng tin Gannett, Tạp chí theo quý của Quốc hộ và Báo cáo Tin tức Mỹ và Thế giới. Marvin Kalb trao đổi với Battleland qua email trong dịp cuối tuần.
Tại sao ông viết cuốn Di sản ám ảnh ?
Cuộc chiến tranh Việt Nam là cuộc chiến duy nhất mà nước Mỹ thất bại, nó để lại một vết thương sâu sắc trong tâm trí người dân Mỹ. Kể từ sau đó, các Tổng thống Mỹ, mỗi khi phải đối mặt với sự cần thiết phải gửi quân đội tham gia một cuộc chiến nào đó, luôn lo lắng rằng liệu mình có lại mắc vào một Việt Nam khác, nói cách khác là lại mắc vào một cuộc chiến tranh không có mục đích rõ ràng, không có chiến lược kết thúc và không có được Quốc hội ủng hộ. Deborah và tôi muốn nghiên cứu vấn đề mang tính chất quyết định này trong lịch sử Mỹ hiện nay. Đó là lý do chúng tôi viết cuốn sách.
Trong những điều đã tìm hiểu và viết trong cuốn sách, điều gì khiến ông bất ngờ?
Điều khiến chúng tôi bất ngờ nhất là cách mà sự kiện Việt Nam, bằng rất nhiều hình thức khác nhau, vẫn luôn xuất hiện trong những cân nhắc của các Tổng thống về chiến tranh và hoà bình. Chúng ta thường nghĩ rằng sau 35 năm kể từ khi cuộc chiến kết thúc, bối cảnh chính trị và những chiến lược chiến tranh cũng đã kết thúc. Nhưng thực tế lại không phải như vậy. Sự kiện Việt Nam vẫn gây ảnh hưởng lên nhiều đời Tổng thống Mỹ, như một vị khách không mời trong bữa tối nhưng chẳng hề chịu rời khỏi bàn ăn.
Ông có thể lý giải cuộc chiến tranh Việt Nam đã gây ảnh hưởng trong những xung đột của chúng ta hiện nay như thế nào?
Bằng rất nhiều hình thức. Nhưng tôi sẽ dẫn chứng 2 chuyện mà thôi.
Tháng 10 năm 1983, 241 lính thủy đánh bộ đã bị giết trong doanh trại của họ tại Beirut, Lebanon bởi các chiến binh Hồi giáo cực đoan. Tổng thống Regan biết chính xác thủ phạm là ai và chúng ở đâu, nhưng ông không có bất cứ động thái nào trả đũa họ. Trên thực tế, ông rút quân đội Mỹ khỏi Lebanon vài tháng sau đó. Ông ấy lý giải trong một số văn bản mới được giải mật gần đây rằng người Mỹ vẫn còn chưa kịp “hoàn hồn” sau cuộc chiến ở Việt Nam, và ông không muốn lại bắt họ phải chịu đựng thêm một điều tương tự như vậy.
Khi Tổng thống Obama vận động tranh cử năm 2008, ông buộc phải có chuyến thăm chiến trường ở Iraq và Afghanistan. Ông mời Thượng nghị sĩ Jack Reed của tiểu bang Rhode Island và Chuck Hagel của tiểu bang Nebraska tham gia cùng ông chuyến đi này. Trong suốt 14 tiếng của chuyến bay tới các vùng quân sự đó, ông Obama chỉ trao đổi với 2 vị Thượng nghị sĩ về những bài học của cuộc chiến tranh Việt Nam chứ không phải cuộc chiến ở Afghanistan.
Mở đầu buổi họp của Hội đồng An ninh quốc gia, sau khi nhậm chức, ông Obama nói: “Afghanistan không phải Việt Nam”. Tại sao lại so sánh với Việt Nam nếu như đó không phải điều khiến ông ấy suy nghĩ rất nhiều? Quyết định đầu tiên của ông ấy là tăng cường trang bị cho lính Mỹ ở Afghanistan bởi ông không muốn để xảy ra nguy cơ nào về một sự thua trận, điều sẽ khiến người ta nhớ lại cuộc chiến tranh Việt Nam và tạo nên nguy cơ tồi tệ cho một vị Tổng thống đảng Dân chủ theo quan điểm cởi mở.
Việt Nam được nhìn nhận như là cuộc chiến tranh mà chúng ta đã thất bại. Liệu có đúng như vậy? Đó có phải một kết luận công bằng chưa?
Người Mỹ đã thua trong cuộc chiến tranh Việt Nam. Không có gì phải nghi ngờ về điều đó. Dù cho anh có tranh cãi rằng nguyên nhân là do những chiến lược sai lần hay vì Quốc hội từ chối rót thêm ngân sách cho cuộc chiến đó, thì thực tế là người Mỹ đã thua và phe Cộng sản đã thắng. Một số người cho rằng chúng ta cũng đã thua trong cuộc chiến năm 1812. Chúng ta không thua trận chiến đó. Thực tế là sau khi người Anh chiến thắng tại Washington năm 1812, người Mỹ lại dành thắng lợi trong một số trận chiến quan trọng, và chiến tranh kết thúc năm 1814 với Hiệp ước Ghent, cái kết khiến cho cả hai bên đều ngẩng cao đầu bước ra khỏi cuộc chiến.
Chế độ quân dịch trong cuộc chiến tranh Việt Nam khác với những cuộc chiến tranh hiện nay như thế nào?
Chế độ quân dịch trong suốt cuộc chiến tranh Việt Nam khiến rất nhiều người đã phải tham chiến ở đất nước này mà không hề muốn. Khi đó những làn sóng phản chiến lan rộng từ trường đại học này tới trường đại học khác. Trong chính phủ của mình, Tổng thống Nixon quyết định sớm xoá bỏ chế độ quân dịch như một cách để làm dịu làn sóng phản đối. Một lực lượng quân đội hoàn toàn tự nguyện được xây dựng và lực lượng này chiến đấu cho nước Mỹ từ sau đó. Rất ít động thái phản chiến xảy ra sau đó phần lớn bởi vì không còn chế độ quân dịch.
Quốc hội có nên bị gây sức ép trong vấn đề tuyên bố chiến tranh?
Đây là một câu hỏi rất khó. Từ sau Chiến tranh Thế giới II, nước Mỹ đã tham gia rất nhiều cuộc chiến mà không có một lời tuyên chiến đơn phương, theo đúng hợp hiến. Những quyết định của Quốc hội thông qua các cuộc chiến tranh trở thành một sự thay thế tiện lợi. Lý do là một lời tuyên bố sẽ mang ý nghĩa sự đầu tư tổng lực rất lớn về ngân sách cho cuộc chiến tranh với mục đích để giành chiến thắng. Và như vậy thì chẳng vị Tổng thống nào dám đánh cược cho một quyết định đưa quân ra trận quá lớn như thế và Quốc hội cũng vậy.
Tại sao ông lại cho rằng sau khi về nhà, quân đội của chúng ta hiện nay được đối xử tốt hơn thời kỳ chiến tranh Việt Nam?
Trong suốt cuộc chiến tranh Việt Nam quân đội đã chiến đấu trong một cuộc chiến không bình thường với những tổn thất to lớn nhưng sự tưởng thưởng lại rất nhỏ. Giờ đây, những cuộc chiến vẫn không bình thường, chúng ta sống trong không khí hậu 11.9, người Mỹ và chính phủ đồng lòng trong cuộc chiến chống khủng bố. Chống lại những kẻ khủng bố đã làm tổn thương nước Mỹ và giết hại rất nhiều người dân Mỹ là một biểu hiện ái quốc. Đó không phải trường hợp ở Việt Nam.
Ai là người ông tin rằng chịu trách nhiệm lớn nhất cho sự sa lầy ở Việt Nam?
Theo một cách nào đó thì ai cũng phải chịu trách nhiệm. Không ai hiểu Việt Nam, con người, lịch sử, tôn giáo và văn hoá đất nước đó. Chúng ta vướng vào một cuộc chiến tranh thuộc địa do người Pháp dấy lên và chuyển hoá nó một cách ngu xuẩn thành cuộc chiến chống lại chủ nghĩa cộng sản, quên đi rằng người Việt Nam được truyền cảm hứng bởi ý thức mạnh mẽ về chủ nghĩa dân tộc và quyết tâm thống nhất đất nước. Chúng ta đã nhìn Việt Nam như một phần của cuộc Chiến tranh lạnh.
Khi tới bức tường Việt Nam, ông nói gì với 58.000 cái tên được khắc trên mặt đá granit đen?
Tôi không chiến đấu ở Việt Nam, tôi chỉ theo dõi cuộc chiến. Cuộc chiến của tôi là ở Triều Tiên. Điều tôi nói với hơn 58.000 người đã hi sinh tại Việt Nam là tôi cầu nguyện lần tới khi một vị Tổng thống Mỹ gửi quân đi chiến đấu ở một chiến trường nào đó, đó sẽ là một quyết định có mục đích rõ ràng với chiến lược cẩn trọng, cùng sự đồng thuận của người dân cũng như Quốc hội, và với trang bị tốt nhất và một chiến lược kết thúc trong tư duy có thể thoả mãn được quyền lợi của người dân Mỹ.
Nguồn: TIME
Bản tiếng Việt © Việt Sử Ký 2012
Bản tiếng Việt © Phạm Xuân

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét