Top 5 quốc gia nguy hiểm về giao thông nhất Đông Nam á, Việt nam xếp thứ mấy ?
Bí Ẩn Angkor Wat - Quá trình xây dựng một kỳ quan
Bí ẩn về Hội Tam Hoàng tại Việt Nam, một thời làm mưa gió
Top 10 vụ cướp Ngân hàng (nhà băng) kinh điển nhất Việt Nam | phim Mỹ còn thua
Top 10 xe tăng và pháo tự hành chống tăng mạnh nhất của Mỹ trong chiến tranh thế giới thứ 2
Top 10 trận đấu xe tăng kinh hoàng nhất trong lịch sử thế giới
Top 10 xe tăng và pháo tự hành chống tăng mạnh nhất của Đức trong Thế chiến 2
top 10 xe tăng nổi bật làm thay đổi chiến tranh thiết giáp
Việt nam đã bắn bao nhiêu viên đạn pháo trong chiến dịch Điện Biên Phủ 1954
Bí mật những trận đánh giữa Việt minh với quân đội Anh tại Sài gòn năm 1945
Bí ẩn việc tướng Giáp đã phân tích so sánh lực lương Pháp và quân ta như thế nào?
Chiến thắng Điện Biên Phủ và 10 cái nhất có thể bạn chưa biết
Đôi lời: Đầu thập niên 1990, ngay trong lúc có hàng loạt động thái dẫn tới bình thường hóa quan hệ hai nước Việt – Trung, như cuộc gặp cấp cao Trung -Việt ở Thành Đô 1990, rồi chuyến viếng thăm TQ của TBT Đỗ Mười và TT Võ Văn Kiệt cuối năm 1991, thì tháng 2/1992, Nhà xuất bản Văn nghệ Tứ Xuyên, TQ lại công bố cuốn 9 lần xuất quân lớn của Trung Quốc, trong đó có những bài viết xuyên tạc sự thật, ra sức tung hô cho những cuộc xâm lăng phi nghĩa lãnh thổ VN của quân đội TQ ngay dưới thời “tình nghĩa anh em” cộng sản với nhau.
Bộ Quốc phòng VN đã cho dịch, in ngay cuốn sách này. Nhưng rồi mãi tới năm 1996, phía VN mới có cuốn Sự thật về những lần xuất quân của Trung Quốc và quan hệ Việt - Trung, của NXB Đà Nẵng, để phản bác những luận điệu của phía TQ. Cả hai cuốn đều không phát hành công khai.
Nhân sự kiện Gạc Ma 24 năm trước, xin trích đăng 2 bài từ 2 cuốn sách này, cùng một số bài báo liên quan.
Bài thứ nhất của TQ. Nam Sa là tên TQ đặt cho quần đảo mà VN gọi là Quần đảo Trường Sa, tiếng Anh là Spratly Islands.
Bài thứ hai của VN. Song, đáng ngạc nhiên là trái ngược hoàn toàn với những nội dung hết sức sống động trong bài viết của phía TQ, bài này hầu như không có một chút chi tiết nào về cuộc tấn công dã man, phi nghĩa của quân TQ, mà chỉ toàn đưa ra những bằng chứng lịch sử về chủ quyền và kể lể quá trình bình thường hóa quan hệ.
Một trong những dấu hỏi cho hiện tượng kỳ lạ này là phải chăng đã có một mệnh lệnh bắt phải “thúc thủ” hoàn toàn được phát ra từ đất liền khi xảy ra cuộc tấn công của kẻ địch? Điều này có thể thấy được phần nào trong video do TQ công bố, và qua lời kể trên RFA, bài thứ ba dưới đây: “Anh Nguyễn Văn Thống cho biết ‘Bên mình lúc ra đi là quán triệt không được nổ súng bằng bất cứ giá nào‘”, hay trên tờ Thanh niên, mới hôm qua, rằng đó là “trận hải chiến chỉ “nổ súng từ một phía”, chứ không như bài viết xuyên tạc của phía TQ? Vậy, ai đã đưa ra mệnh lệnh đó?! Nếu có thì sự kiện Gạc Ma không thể gọi là một “trận hải chiến” như báo chí sau này viết, mà là một “cuộc tàn sát”? Lịch sử sẽ phải trả lời!
Từ cách ra đời cho tới nội dung các bài viết trong hai cuốn sách thấy rõ một điều, xem ra kẻ cướp lại được lớn tiếng tự tụng ca mình khá bài bản như hành động chính nghĩa, còn người bị cướp thì vẫn phải bị động, lúng búng tự bênh vực, dễ bị coi là kẻ phi nghĩa.
Dù tự biết ta không phi nghĩa, nhưng rõ là bất nghĩa, bất minh, bất tín khi đọc những bài báo viết về số phận những chiến sĩ đã hy sinh hay còn sống sót trong ngày ấy cùng gia đình họ (Anh đã sống thay đồng đội, Phía sau những người đã ngã xuống vì Trường Sa , …).
TIẾN QUÂN NAM SA
Trích từ cuốn: 9 LẦN XUẤT QUÂN LỚN CỦA TRUNG QUỐC (NXB Văn Nghệ Tứ Xuyên/2-1992)
Trung tuần tháng 3 năm 1988, để bảo vệ quần đảo Nam Sa lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc, hải quân Trung Quốc đã có một cuộc đọ sức trên biển với hải quân Việt Nam, cuộc chiến đấu trên biển chỉ diễn ra trong thời gian 28 phút, và đã kết thúc với sự toàn thắng của hải quân Trung Quốc.
Chuỗi ngọc sáng trên biển Nam Trung Quốc
Quần đảo Nam Sa, như một chuỗi ngọc rực sáng trên mặt biển phía Nam Tổ quốc vĩ đại của chúng ta, với trên 200 đảo – đá rải rác trong vùng biển mênh mông từ 4 độ vĩ bắc đến 16 độ vĩ bắc, ở đó có cảnh thiên nhiên giàu đẹp, có tài nguyên khoáng sản dầu khí vô cùng phong phú, triển vọng khai thác rất khả quan. Đó còn là một ngư trường tốt đẹp của Tổ quốc vĩ đại của chúng ta, hải sản ở đây cực kỳ phong phú.
Về vị trí địa lý, vùng biển này phía bắc giáp đất liền nước ta, phía nam giáp Malaixia, đông cạnh Philipin, tây gần Việt Nam, là con đường biển tất yếu phải đi qua giữa nước ta với các nước đông nam châu Á, và cũng là con đường biển quan trọng đi đến các châu lớn – Châu Phi, châu Âu, châu Úc. Vì vậy các đảo trong vùng Nam Hải không những quan trọng về mặt kinh tế, chính trị, mà còn hết sức quan trọng về mặt quân sự, giao thông. Cũng chính vì vậy, quần đảo quí báu này lâu nay đã trở thành vùng đất, của quý tranh chấp trong con mắt nhiều người.
Quần đảo Nam Sa là vùng đảo lớn nhất trong các đảo ở Biển Nam – Nhà cầm quyền Việt Nam luôn ấp ủ âm mưu bành trướng đối với quần đảo này. Những năm gần đây đã nhiều lần gây sự trong vấn đề thuộc quyền của quần đảo Nam Sa, hòng nuốt chửng mảnh đất lãnh thổ thiêng liêng này của Trung Quốc.
Ngay từ thời Tây Hán (140TCN – 88 TCN – ND), người Trung Quốc đã bắt đầu đi xuống Biển Nam, và là người đầu tiên phát hiện Tây Sa, Nam Sa…. Từ đời nhà Đường (618- 907 – ND) trở đi chính phủ các triều đại TQ đã luôn luôn thi hành quyền quản lý đối với vùng đảo đá này, lâu nay, vùng đảo đá này vẫn nằm trong khu vực hành chính của TQ, điều đó mọi người đều biết và có chứng cứ lịch sử rõ ràng. Nhà hàng hải lớn đời nhà Minh Trung Quốc Trịnh Hòa đã bảy lần đến Tây Sa, nhiều lần neo thuyền ở đây, trong đó, “Quần đảo Trịnh Hòa” trong quần đảo Nam Sa chính là lấy tên nhà hàng hải TQ Trịnh Hòa.
Sau chiến tranh thế giới lần thứ 2, các đảo ở Biển Nam lại lần nữa trở về tay chính phủ TQ, cả thế giới đều công nhận vùng biển này là lãnh thổ TQ. Sau khi thành lập nước TQ mới, ngày 15 tháng 8 năm 1951, Chu Ân Lai, Thủ tướng kiêm bộ trường ngoại giao TQ lúc đó đã trịnh trọng tuyên bố trong “Tuyên bố hội nghị San franxixkô và dự thảo hòa ước Mỹ Anh với Nhật” là: “Quần đảo Tây Sa và đảo Nam uy cũng như toàn bộ quần đảo Nam Sa, quần đảo Trung Sa, quần đảo Đông Sa, xưa nay vẫn là lãnh thổ của TQ”.
Từ đó về sau, trong các trường hợp khác nhau chính phủ Trung Quốc mới đều nhiều lần tuyên bố lập trường nghiêm chỉnh này.
Đối với sự thực trên đây, trước năm 1974, chính quyền Hà Nội đều công nhận. Trong tất cả công hàm ngoại giao, tuyên bố chính phủ, báo chí tuyên truyền thậm chí trong các bản đồ và sách giáo khoa của học sinh Việt Nam lúc bấy giờ đều thừa nhận và ghi rõ quần đảo Nam Sa là lãnh thổ của Trung Quốc – Đây cũng là sự thực có chứng cứ rõ ràng.
Nhưng sau khi kết thúc chiến tranh, thống nhất Bắc-Nam, cùng với tham vọng bá quyền khu vực và bành trướng, những người lãnh đạo đương cục Việt Nam đã lật lọng, đưa quần đảo Nam Sa vào phạm vi bành trướng của họ, và bắt đầu bước xâm lấn từ nhỏ đến lớn.
Xuất phát từ tình hữu nghị truyền thống giữa nhân dân Trung – Việt, lúc bấy giờ chính phủ ta đã có nhiều cuộc giao thiệp khuyên ngăn và kháng nghị hành vi của nhà đương cục Việt Nam song không công khai hóa cuộc đấu tranh. Tháng 9/1975, khi gặp đoàn đại biểu Đảng và Chính phủ Việt Nam do Lê Duẩn dẫn đầu, Lê Duẩn có yêu cầu phó thủ tướng Đặng Tiểu Bình tiến hành đàm phán 2 nước Trung – Việt về vấn đề chủ quyền quần đảo Nam Sa, ngay lúc đó đồng chí Đặng Tiểu Bình đã từ chối rõ ràng. Đặng Tiểu Bình nói với Lê Duẩn là:
“Vấn đề này không cần thiết phải đàm phán, TQ có đủ bằng chứng để chứng minh rằng quần đảo Nam Sa và các đảo khác là lãnh thổ của Trung Quốc…”
Mùa xuân năm 1979, sau khi quan hệ Trung- Việt đã công khai xấu đi, nhà cầm quyền Hà Nội nói liều rằng TQ có hứa là sẽ đàm phán với họ về vấn đề Nam Sa.
Sự thật là, nhiều tài liệu có liên quan đã chứng tỏ cho mọi người thấy rằng, thái độ của TQ đối với những hòn đảo này xưa nay là kiên định và rõ ràng, trước sau như một từ chối bất cứ hình thức đàm phán nào với Việt Nam về chủ quyền của Tây Sa và Nam Sa.
Tháng 4/1977, khi Phạm Văn Đồng thăm Liên Xô ghé qua Bắc Kinh, phía Việt Nam lại vô lý nêu ra vấn đề này, và đã bị đại diện phía TQ từ chối, bác bỏ ngay.
Cuối năm 1978, tình hình biên giới Trung – Việt căng thẳng đến cực độ, các dư luận đo phía Việt Nam đặt ra xung quanh vấn đề thuộc quyên đối với quần đảo Nam Sa và các đảo khác đều bị Chính phủ ta lần lượt bác bỏ.
Tháng 4/1979, trong cuộc đàm phán biên giới mới sau khi kết thúc chiến tranh biên giới Trung-Việt, Thứ trưởng ngoại giao Hàn Niệm Long, đại biểu số 1 phía TQ đã nêu lập trường 8 điểm với VN, trong đó có điểm yêu cầu Chính phủ VN phải trở lại lập trường trước năm 1974, thừa nhận sự thật lịch sử về chủ quyền lãnh thổ của TQ đối với quần đảo Tây Sa và Nam Sa. Đồng thời chính phủ ta đã công bố trước toàn thế giới nhiều văn kiện và hồ sơ. Một lần nữa chứng minh rằng trước năm 1974, VN vẫn luôn luôn thừa nhận lập trường của chinh phủ ta.
Mâu thuẫn Trung-Việt trong vấn đề Tây Sa, Nam Sa, hoàn toàn là do Việt Nam gây nên, nguyên nhân chỉ có một, vùng đảo quý báu này thực sự là một chuỗi ngọc rực sáng.
So sánh lực lượng hải quân giữa Trung Quốc và Việt Nam
Từ năm 1955, Hải quân nhân dân Trung Quốc đã bắt đầu đóng quân trên 1 số đảo trong các quần đảo biển Nam. Trận chiến đấu với quân nước ngoài đầu tiên của hải quân ta diễn ra ngày 14 tháng 01 năm 1974 là cuộc chiến tranh bảo vệ quần đảo Tây Sa, trận đánh trên biển này đã đánh đuổi hải quân Sài Gòn ra khỏi quần đảo Tây Sa, giành lại lãnh thổ thiêng liêng của tổ quốc, làm rạng rỡ khí thế anh hùng của hải quân non trẻ của nước ta.
Song vì quần đảo Nam Sa cách đất liên quá xa; những trên một ngàn cây số, mà hải quân nước ta lúc đó đang ở thời kỳ đầu xây dựng, chưa có khả năng tác chiến ở biển xa, vì vậy tạm thời chưa thể đưa quân ra đồn trú trên một số hòn đảo. Nhưng từ năm 1956 đến nay nhà cầm quyền Quốc dân Đảng ở Đài Loan vẫn luôn có quân đội đóng quân trên đảo Thái bình, hòn đảo lớn nhất của quần đảo Nam Sa.
Để bảo vệ nền an ninh của lãnh hải Tổ quốc, ngay từ đầu mới thành lập, hải quân nhân dân TQ đã coi việc bảo vệ an toàn và chủ quyền của các quần đảo trong biển Nam là một sứ mệnh trọng đại và thiêng liêng của mình. Năm 1984, đồng chí Lưu Hoa Thanh nguyên tư lệnh hải quân nhân dân TQ, nay là phó chủ tịch quân ủy Trung ương đảng cộng sản TQ khi gặp gỡ các phóng viên đá nói:
“Sau 30 năm xây dựng, Hải quân nhân dân Trung Quốc đã trở thành lực lượng chiến đấu trên biển có quy mô nhất định và có khả năng tấn công, phòng thủ 3 chiều trên không, mặt biển và đáy biển. Ngày nay đang phát triển theo hướng tên lửa hóa, điện tử hóa và tự động hóa…”
Từ đầu những năm 70, hải quân TQ bắt đầu thay đổi kết cấu và lực lượng của mình. Số lượng tàu thuyền cỡ vừa và cỡ nhỏ như tàu tuần tra v.v., mà lâu nay vẫn được coi trọng bắt đầu giảm đi rõ rệt, còn tốc độ đóng tàu khu trục, tàu hộ vệ, tàu ngầm hạt nhân tang rất nhanh. Đến năm 1979, về mặt hiện đại hóa hạm tàu hải quân lại tiến bộ thêm một bước rất lớn.
Đến nay, hải quân Trung Quốc gồm mấy trăm ngàn quân đã được tổ chức thành 3 hạm đội Bắc hải, Đông hải và Nam hải. Và hải quân Trung quốc đã có đơn vị tàu ngầm đứng tư 3 trên thế giới. Trong bộ đội tầu ngầm hiện đại có tầu ngầm chạy bằng năng lượng hạt nhân, loại tàu ngầm này được coi là tầu ngầm quân sự có trình độ tiên tiến thế giới, nó có thể mang tải 12 quả tên lửa đạn đạo phóng từ dưới mặt nước.
Về các loại hạm tầu khác, hải quân Trung Quốc đã có thực lực tương đối, như các loại hạm tàu quân dụng cờ lớn: Tàu hộ vệ mang tên lửa, tàu đổ bộ chở tăng tác chiến trên biển và trên đất liền, các loại tàu đổ bộ, tàu vận tải cỡ lớn và cỡ vừa v.v… Cùng với một loạt hạm tàu cỡ vừa, cỡ nhỏ tác chiến biển gần, đã tạo nên lực lượng phòng vệ trên biển hùng mạnh. Theo đánh giá của các tổ chức hữu quan của nước ngoài, thì thực lực hải quân TQ được xếp vào hàng thứ tư trên thế giới.
Giữa những năm 70, sau khi quân đội TQ đánh lui cuộc xâm lược của hải quân Sài Gòn, chiếm lại một số đảo đá trong quần đảo Tây Sa, Hải quân TQ đã bắt đầu chú trọng xây dựng lực lượng Thủy quân lục chiến có khả năng tác chiến trên biển và trên đất liền. Khác với mô thức xây dựng của lính thủy đánh bộ Mỹ hoặc bộ binh hải quân Liên Xô, thủy quân lục chiến hải quân ta là một đội chiến đấu đang phát triển và phù hợp với yêu cầu quân sự đặc biệt của TQ. Ngoài ra, chúng ta cũng hết sức tỉnh táo để nhìn nhận một tình trạng hiện thực là, hải quân TQ còn cần phải có một lực lượng yểm trợ trên không hùng mạnh, để đảm nhiệm nhiệm vụ bảo vệ an toàn cho các hòn đảo cách xa đất liền như quần đảo Nam Sa. Việc xây dựng bộ đội không quân của hải quân là không thể thiếu được. Những năm gần đây, hải quân TQ đã bắt đầu có lực lượng không quân của hải quân lớn mạnh gồm máy bay oanh tạc, máy bay chiến đấu, máy bay cường kích. Ngoài nhiệm vụ chính là bảo vệ căn cứ hải quân và bộ đội tàu mặt nước, bộ đội không quân của hải quân còn làm nhiệm vụ trinh sát và chống ngầm.
Giữa tháng 11 năm 1985, một đoàn tàu hải quân Trung Quốc gồm một tàu khu trục lớp Lữ Đại và một tàu tiếp dầu lớp Phúc Kiến, do tư lệnh hạm đội Đông hải Nhiếp Tụ Khuê đẫn đàu đã đi thăm các nước Pakixtan, Bănglađet và Sêrilanka v.v.. Chuyến thăm đó đánh dấu hải quân TQ đã có khả năng tiếp dầu cho các hạm tàu trên biển, và có khả năng giữ vững thông tin liên lạc trong cự ly tương đối xa, chuyến đi biển xa đó đã khiến thế giới phải chú ý.
Tất nhiên, mục tiêu chúng ta xây dựng một đội hải quân lớn mạnh chỉ là để phòng ngự và bảo vệ lãnh hải của mình không bị người khác xâm lược. Chúng ta không muốn lấy một tấc lãnh hải của người khác, song cũng quyết không cho phép người khác xâm chiếm một tấc lãnh hải của TQ. Trong vấn đề nguyên tắc về chủ quyền lãnh thổ, người Trung Quốc lâu nay vẫn nói sao làm vậy.
Chúng ta hãy thử xem tình trạng của hải quân Việt Nam ra sao
Hải quân VN được thành lập vào tháng 8/1955, tốc độ phát triển không lấy gì là nhanh. Sau khi kết thúc chiến tranh VN, chính phủ VN tận dụng trên 100 chiếc tàu thuyền kiểu Mỹ thu gom được (trong chiến tranh) làm cơ sở của hải quân, để tiến hành mà rộng một bước đối với hải quân.
Tổng quân số của hải quân Việt Nam không vượt quá trên dưới 50 ngàn người, biên chế gồm một hạm đội, một lữ thủy quân lục chiến, một lữ tàu pháo, 10 trung đoàn chiến đấu. Đại để trang bị gồm có hơn 200 hạm tàu lớn, vừa và nhỏ các loại. Tổng trọng tải không quá 100 ngàn tấn.
Năm 1975, sau khi thống nhất Bắc – Nam, nhà cầm quyền Hà Nội không đếm xỉa gì đến tín, nghĩa, công nhiên cho quân ra đánh chiếm mấy hòn đảo Nam Sa do quân đội Sài Gòn xâm chiếm từ sau năm 1974, và thông qua hãng thông tấn chính thức là Thông tấn xã Việt Nam loan tin ra cả thế giới.
Người ta đã chú ý rằng, ngay từ lúc đó, hải quân Việt Nam đã bắt đầu tích cực chuẩn bị cho việc xâm chiếm quần đảo Nam Sa. Lực lượng không lấy gì làm mạnh về số lượng và chất lượng này, lúc đó có khoảng hơn 100 chiếc hạm tàu chiến đấu, chủ yếu là tàu khu trục, tàu hộ vệ, tàu hộ tống, tàu quét mìn, tàu đổ bộ chở tăng, tàu ngư lôi, tàu tên lửa và tàu săn ngầm v.v… Ngoài ra còn có các đơn vị bảo đảm như thông tin, trinh sát, ra đa, công binh…
Cuộc chiến tranh 28 phút trên biển giữa Trung Quốc và Việt Nam
Ngày 14/3/1988, giữa TQ và VN đã nổ ra cuộc chiến đấu trên biển Nam Trung Quốc, cuộc chiến đấu này mặc dầu chỉ đánh trong thời gian 28 phút, nhưng nó đã làm cả thế giới quan tâm theo dõi.
Cùng với sự diễn biến ngày càng gay gắt và xấu đi trong mâu thuẫn về vấn đề chủ quyền Nam Sa giữa TQ – VN, để gìn giữ chủ quyền thiêng liêng của lãnh thổ tổ quốc, hải quân TQ đã có sự cố gắng to lớn. Đã xây dựng một đội quân tác chiến trên biển và trên đất liền, trang bị thêm tàu cứu hộ viễn dương kiểu mới, xây dựng hệ thống dẫn đường vệ tinh hiện đại.
Chính phủ Trung Quốc đã nhiều lần cảnh cáo nhà đương cục Việt Nam, hãy chớ có hoạt động gì để bành trướng xâm lược các đảo Nam Sa… Hải quân Trung Quốc sẽ không bao giờ làm ngơ trước bất cứ hành động gì làm tổn thất đến chủ quyền của nước ta. Với ý nghĩa như vậy, việc chúng ta giành lại chủ quyền lãnh thổ đối với những hòn đảo nào đó ở Nam Sa bị nhà cầm quyền Việt Nam xâm chiếm là trách nhiệm không thể thoái thác.
Xét về mặt quân sự, trong những năm gần đây, hải quân TQ đã có những bước tiến dài, việc năm 1980, hải quân TQ vâng lệnh tổ chức cuộc đi biển xa để phối hợp thử nghiệm tên lửa tầm xa của nước ta, đã chứng minh hùng hồn rằng chúng ta đã có khả năng hoạt động tương đối ở vùng biển xa, có khả năng bảo vệ an toàn và chủ quyền của quần đảo Nam Sa.
Có một số nhân sĩ nào đó của nước ngoài cho rằng: Hải quân TQ nếu muốn giành lại tất cả các đảo đá bị Việt Nam chiếm đóng không phải là khó khăn lắm, vì TQ có ưu thế áp đảo về lực lượng hải quân. Song vấn đề là làm sao giữ được những hòn đảo này, vì chúng cách đất liền quá xa, điều kiện cố thủ quá kém, đó chính là sơ hở lớn nhất mà người Việt Nam có thể lợi dụng. Vì muốn giữ thì phải có sự yểm trợ và phối hợp của không quân. Một số nhà quân sự phương Tây nghi ngờ là trước mắt máy bay quân sự của TQ còn chưa thể cất cánh từ đảo Hải Nam bay đi làm nhiệm vụ ở Nam Sa rồi quay trở về Hải Nam được. Vì muốn làm được như vậy cần phải có tàu sân bay và tiếp đầu trên không. Trong trường hợp đó nếu máy bay Việt Nam ra tập kích số quân đồn trú trên Nam Sa của Trung Quốc, thì liệu quân đội Trung Quốc có giữ nổi hay không?
Bắt đầu từ giữa tháng 2/1888, theo yêu cầu của tổ chức văn hóa, giáo dục khoa học LHQ, Trung Quốc đã lắp đặt một số trang bị khảo sát khoa học trên một số đảo đá ở Quần đảo Nam Sa cho tổ chức quốc tế này; và đồng thời bắt đầu tiến hành một số hoạt động khảo sát khoa học cần thiết.
Khi trả lời câu hỏi của các phóng viên trong chuyến sang thăm Anh năm đó, đồng chí Bộ trưởng ngoại giao Ngô Học Khiêm nêu rõ:
“Những người mà Chính phủ Trung Quốc cử lên các đảo này đều là nhân viên công tác khoa học, họ lên đảo để lắp đặt trang bị khoa học cho tổ chức văn hóa, giáo dục khoa học LHQ, đây thuần túy là hoạt động khảo sát khoa học, là việc làm bình thường và cần thiết. Nhân viên TQ triển khai những hoạt động này trên lãnh thổ của mình hoàn toàn là hợp pháp”.
Nhưng ngày 14/3, trong khi nhân viên khảo sát khoa học của Trung Quốc đang tiến hành hoạt động khảo sát khoa học bình thường trên 2 đảo đá thuộc quần đảo Nam Sa, thừa lúc tàu thuyền bảo vệ hoạt động khảo sát khoa học của hải quân TQ quay trở về đảo Hải Nam, hải quân Việt Nam đã tập kích bất ngờ, nổ súng bắn pháo vào nhân viên khoa học TQ đang tiến hành khao sát trên đảo, hòng xâm chiếm những hòn đảo này. Ngoài ra, họ còn nã pháo vào tàu thuyền tuần tiễu của ta, làm bị thương nhân viên của ta.
Trong khoảnh khắc, trên biển Nam trời đất tối sầm (Nguyên văn: Phong vân đột biến – ND); tiếng pháo đùng đùng, bốn bề tiếng súng râm ran. Toàn bộ số nhân viên khảo sát khoa học trên đảo của ta đều là nhân viên dân sự, tính mạng tài sản và hoạt động khảo sát của họ bỗng dưng bị đe dọa nghiêm trọng.
Trước tình thế khẩn cấp, bộ đội hải quân ta lập tức xuất kích hướng thẳng phía tàu địch xông tới, đội tàu quân ta với 3 tầu hộ vệ làm chủ lực, đã tỏ rõ sức mạnh chiến đấu của quân đội ta. Những chiến hạm kiểu mới được trang bị tên lửa biển đối biển và pháo tự động 100 ly hợp đồng tác chiến với tàu ngầm và các loại hạm tàu kiểu mới khác, hình thành lưới lửa dày đặc, khiến quân Việt Nam lâm vào thế trận bị động chịu đòn.
Tàu đổ bộ (505) của hải quân Việt Nam đang tấn công vào đảo vội vã ứng chiến, còn 2 tàu vận tải (605) và (604) khác cũng vội vã tổ chức bắn trả, vừa đánh vừa tìm cách chuồn về.
“Bám sát chúng, hãy dạy cho chúng bài học nhớ đời” Chỉ huy quân ta ra lệnh thừa thắng xốc tới.
Trong chốc lát các tàu ta mở hết tốc lực bám sát mục tiêu lưới lửa trùm lên tàu giặc, làm chúng không kịp trở tay, có tên vừa kêu vừa la, có tên ôm đầu chạy trốn, có tên lao đầu xuống biển để tránh đòn trừng phạt của ta, cảnh tượng thật là nhục nhã.
Các chiến sĩ ta càng đánh càng hăng, một chiến sĩ nói: “Trong trận đánh tôi đặt chân vào cò súng bắn xối xả, trút lửa căm hờn dồn nén lâu nay trong tim vào lũ xâm lược, đánh cho chúng tan tác chỉ còn cách tìm đường tháo thân”.
Một pháo thủ khoái chí: “Riêng khẩu pháo 37 ly của tôi đã trút hơn 400 viên đạn vào tàu địch, cùng với hỏa lực của các đồng chí khác, chuyến này người Việt Nam no đòn phải biết!”
Trong tiếng pháo đùng đùng, tàu vận tải (604) của hải quân Việt Nam chở đây lính bị bắn chìm tại chỗ, tàu đổ bộ (số 505) và một tàu vận tải khác (số 605) bị bắn trọng thương, kéo theo đám cháy và cột khói đen ngòm, chuồn thẳng. Tàu đổ bộ (số 505) bị chìm trên đường về, còn tàu vận tải (số 605) thì bị mắc cạn.
Cuộc chiến đấu không cân sức trên biển vẻn vẹn chỉ diễn ra có 28 phút, đã kết thúc với thất bại thảm hại của quân Việt Nam, kết qua một tàu bị chìm tại chỗ, 2 tàu bị thương, chết và bị thương hơn 20 tên, mất tích 74 tên. Còn phía Trung Quốc chỉ có một số nhân viên khảo sát và nhân viên khác trên đảo bị thương, ngoài ra không bị tổn thất gì, đây thật là một trận chiến đấu trên biển đánh gọn và đẹp mắt.
Sau trận đánh, phía Trung Quốc không hề cản trở phía Việt Nam đến cứu vớt, tìm kiếm người mất tích, trái lại, với tinh thần nhân đạo, còn tiến hành cứu giúp số người rơi xuống biển của phía Việt Nam.
Cũng ngày, Bộ ngoại giao Trung Quốc trao công hàm phản đối đến đại sứ quán Việt Nam tại Trung Quốc, công hàm nêu rõ “Tàu thuyền vũ trang phi pháp xâm nhập vùng biển quần đảo Nam Sa Trung Quốc của phía Việt Nam đã ngang nhiên tập kích vũ trang vào thuyền bè đang làm nhiệm vụ khảo sát và tuần tra của Trung Quốc ở vùng biển đảo Xích-qua (Gạc Ma – ND) thuộc quần đảo Nam Sa, thuyền bè Trung Quốc buộc phải đánh trả tự vệ”. “Nhà cầm quyền Việt Nam phải lập tức chấm dứt ngay những cuộc khiêu khích vũ trang đối với TQ ở vùng biển quần đảo Nam Sa, và rút khỏi các đảo đá đá xâm chiếm và vùng biển phụ cận của Trung Quốc…”
Đây là lập trường kiên định và không thể thay đổi của Chính phủ Trung Quốc.
Sóng dư sau cuộc chiến đấu trên biển Nam Sa chưa yên lặng
Sự kiện khiêu khích do nhà cầm quyền Việt Nam đơn phương gây nên, đã kết thúc bằng chính hậu quả mà họ tự chuốc lấy. Liền sau đó, Chính phủ Việt Nam đã nêu ra “sự phản kháng” và “cảnh cáo” của họ.
Ngày 28/3 Ngoại trưởng Việt Nam tỏ ý về cái gọi là “mong muốn tiến hành đàm phán về vấn đề Nam Sa với Trung Quốc”. Điều đó lý đương nhiên bị Chính phủ Trung Quốc từ chối, trong tình hình không còn cách nào khác, họ lại lên gần, liên tiếp cho không quân bay lượn trên vùng trời quần đảo Nam Sa, làm ra vẻ muốn đối chọi với Trung Quốc, song chẳng qua đó chỉ là sự phô trương thanh thế mà thôi.
Sau cuộc chiến đấu trên biển ngày 14/3, Chính phủ Trung Quốc vẫn giữ thái độ tương đối kiềm chế, chỉ đăng có 1 bài bình luận trên “Nhân dân Nhật Báo” và Bộ ngoại giao có ra vài lần tuyên bố và công hàm mà thôi.
Đông đảo báo chí nước ngoài đều cho rằng đây là cách làm chín chắn “có lý, có lợi, có kiêm chế” của Chính phủ Trung Quốc. Nhân sĩ hữu quan phương Tây thì cho rằng: “Về ý nghĩa hành động lần này của hải quân Trung Quốc rõ ràng là không những giành lại một phần của Nam Sa Trung Quốc, mà nó còn chứng tỏ cho cả thế giới thấy quyết tâm và khả năng bảo vệ lãnh thổ của mình, của Chính phủ Trung Quốc”.
Nguồn: 9 LẦN XUẤT QUÂN LỚN CỦA TRUNG QUỐC (NXB Văn Nghệ Tứ Xuyên/2-1992)
———-
Sự thật về những lần xuất quân
của Trung Quốc và quan hệ Việt - Trung
Mục IV. Vấn đề Hoàng Sa – Trường Sa trong quan hệ Việt Trung
Trích từ cuốn Sự thật về những lần xuất quân của Trung Quốc và quan hệ Việt - Trung (NXB Đà Nẵng: 1996).
[...] Trong đợt hoạt động nói trên, Trung Quốc đã thành lập một Bộ tư lệnh đặc biệt, sử dụng lực lượng của hạm đội Nam Hải, được tăng cường một bộ phận của hạm đội Đông Hải và họ thường xuyên duy trì 20 tàu các loại ở khu vực quần đảo Trường Sa. Họ đẩy mạnh các hoạt động ngăn cản, phong tỏa, khiêu khích trắng trợn bằng vũ lực đối với các tàu vận tải Việt Nam để kiếm cớ gây xung đột vũ trang, dẫn đến dự kiện nghiêm trọng ngày 14 tháng 03 năm 1988.
Trận “phản kích để tự vệ” đó được sách báo Trung Quốc mô tả như sau:
Ngày 14 tháng 03 năm 1988, giữa Trung Quốc và Việt Nam đã nổ ra cuộc chiến đấu trên biển Nam Trung Quốc. Cuộc chiến đấu này mặc dù chỉ diễn ra trong thời gian 28 phút, nhưng nó đã làm cả thế giới quan tâm theo dõi.
Trong khoảnh khắc, trên biển Nam trời đất tối sầm, tiếng pháo đùng đùng, bốn bề tiếng sung râm ran.
“Trong tiếng pháo đùng đùng, tàu vận tải (số 604) của hải quân Việt Nam chở đầy lính bị bắn chìm tại chỗ, tàu đổ bộ (số 505) và một tàu vận tải khác (số 605) bị bắn trọng thương, kéo theo đám cháy và cột khói đen ngòm, chuồn thẳng. Tàu đổ bộ (số 505) bị chìm trên đường về, còn tàu đổ bộ (số 605) thì bị mắc cạn.
Cuộc chiến đấu không cân sức trên biển vẻn vẹn chỉ diễn ra có 28 phút đã kết thúc với thất bại thảm hại của quân Việt Nam, kết quả một tàu bị chìm tại chỗ, hai tàu bị thương, chết và bị thương hơn 20 tên, mất tích 74 tên. Còn phía Trung Quốc chỉ có một số nhân viên khảo sát và nhân viên khác trên đảo bị thương, ngoài ra không bị tổn thất gì, đây thật là một trận chiến đấu trên biển đánh gọn và đẹp mắt” (1).
(1): Sa Lực – Mân Lực, 9 lần xuất quân lớn của Trung Quốc, Nxb. Văn nghệ Tứ Xuyên, 1992, tr. 9, 10. Những đoạn ghi chép trên đây cho biết phía Việt Nam chỉ có hai tài vận tải và một tàu đổ bộ, hai loại phương tiện này không phải là phương tiện dùng để chiến đấu, càng không phải là phương tiện để tiến công. Sa Lực – Mân Lực còn mô tả: “Những chiến hạm kiểu mới được trang bị tên lửa biển đối biển và pháo tự động 100 ly hợp đồng tác chiến với tàu ngầm và các loại hạm tàu kiểu mới khác, hình thành lưới lửa dày đặc, khiến quân Việt Nam lâm vào thế trận bị động chịu đòn” (1).
Điều cần nói thêm là, lực lượng hải quân Trung Quốc hoạt động ở vùng biển Trường Sa năm 1988 có phải “thuần túy hoạt động khoa học” như họ nói không?
Chính các tác giả Trung Quốc viết rằng: “Cùng với sự diễn biến ngày càng gay gắt và xấu đi trong mâu thuẫn về vấn đề chủ quyền Nam Sa giữa Trung Quốc – Việt Nam để gìn giữ chủ quyền thiêng liêng của lãnh thổ Tổ quốc, hải quân Trung Quốc đã có sự cố gắng to lớn, đã xây dựng một đội quân tác chiến trên biển và trên đất liền trang bị thêm tàu cứu hộ viễn dương kiểu mới, xây dựng hệ thống dẫn đương vệ tinh hiện đại… Việc chúng ta giành lại chủ quyền lãnh thổ đối với những hòn đảo nào đó ở Nam Sa bị nhà cầm quyền Việt Nam xâm chiếm là trách nhiệm không thể thoái thác”(2).
Rõ ràng cái gọi là tiến hành khảo sát để “lắp đặt trang bị khảo sát khoa học” theo yêu cầu của tổ chức văn hóa, giáo dục khoa học Liên hợp quốc là bức màn che đậy cho việc thực hiện chủ trương “tiến xuống Nam Sa” của Trung Quốc (phụ lục IV). Đúng như một tờ báo Mỹ đã nhận xét: “Các cuộc thao diễn hải quân của Trung Quốc ở biển Đông đang hỗ trợ cho những ý kiến khẳng định của những người lãnh đạo các nước Đông – Nam Á là Bắc Kinh có những mục đích bá quyền ở khu vực” (3). Trung Quốc đã không thể tìm ra những chứng cứ để chứng minh được rằng, Trung Quốc đã chiếm hữu các quần đảo này từ bao giờ và đã có những hành động thực tế nào để thực hiện việc quản lý thật sự hai quần đảo. Vì vậy, phía Trung Quốc chỉ khăng khăng một cách đơn giản và độc đoán:“Chính phủ các triều đại Trung Quốc đã liên tục thực hiện quyền cai quản hai quần đảo đó” (4).
(1), (2) Sa Lực – Mân Lực, 9 lần xuất quân lớn của Trung Quốc, Nxb. Văn nghệ Tứ Xuyên, 1992, tr. 9, 10.(3) Theo báo Người hướng dẫn khoa học đạo Ki – tô (Mỹ), ngày 16 – 03 – 1988.(4) Theo Văn kiện Bộ ngoại giao nước CHND Trung Hoa, ngày 30 – 01 – 1980. Trong quyển Hoàng Thanh nhất thống dư địa toàn đồ, bản đổ Trung Quốc đời Thanh, xuất bản năm 1894, ghi chú rõ: “Điểm cực nam lãnh thổ Trung Quốc là Nhai Châu, Quảng Đông, độ Bắc cực 18o13”. Còn quyển Quảng Đông dư địa toàn đồ, bản đồ tỉnh Quảng Đông xuất bản năm 1897 cũng ghi: “Điểm cực Nam tỉnh này là mỏm núi bên ngoài cảng Du Lâm 18o09’10’’”. Trong Đại Thanh đế quốc toàn đồ xuất bản năm 1905, tái bản lần thứ 4 năm 1910, cũng chỉ rõ phần cực Nam lãnh thổ Trung Quốc không bao gồm hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Các tác giả Sa Lực – Mân Lực đã cố dẫn ra một vài chi tiết lặt vặt, bằng cách cắt xén, sắp xếp tư liệu để chứng minh chủ quyền của Trung Quốc.
Bằng chứng mà Sa Lực – Mân Lực dẫn ra vừa mơ hồ về nội dung, vừa không thống nhất về thời điểm lịch sử. Lúc thì họ nói từ đời nhà Đường, lúc thì họ nói từ thời Bắc Tống, các triều đại Trung Quốc đã “thi hành quyền quản lý” hai quần đảo này? Qua các sách sử Trung Quốc như Đường Thư, Dư địa kỷ thắng, Vũ kinh tổng yếu, Quảng Đông thông chí, người ta không thấy chép việc sáp nhập các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa vào Hải Nam.
Sự kiện viên Thái giám nhà Minh, Trịnh Hòa bảy lần sang Tây Dương chép trong Minh sử(1) chỉ là những chuyến “đi sứ” của một sứ thần, hoàn toàn không liên quan gì đến hai quần đảo ở biển Đông. Tuyến đường biển mà Trịnh Hòa đã đi là tuyến đường ven theo bờ đại lục Trung Quốc, bờ biển đảo Hải Nam, bờ biển miền Trung Việt Nam rồi đi xuống phía Nam.
Cần nói thêm, Sa Lực – Mân Lực đã viết rằng, đoàn thuyền của Trịnh Hòa đã “nhiều lần thả neo nghỉ ngơi tại đây” (tức là tại Tây Sa và Nam Sa). Điều đó, chứng tỏ tác giả không hiểu biết gì về các quần đảo này. Thực ra đó chỉ là các quần đảo san hô, chằng chịt những bãi cạn và đá ngầm, chỉ có thuyền nhỏ có thể ra vào được, còn thuyền lớn vào đó không bị đắm cũng mắc cạn. Đoàn thuyền của Trịnh Hòa (viên Thái giám nhà Minh được vua Minh bảy lần sai đi sứ các nước Đông – Nam Á và Nam Á) “gồm trên 200 chiếc, trong đó có 60 chiếc dài 148m, rộng 60m”(2) sao có thể “thả neo” ở Tây Sa và Nam Sa được?
Không có chủ quyền trong lịch sử đối với quần đảo Trường Sa, Trung Quốc làm sao có thể nói mình có quyền “giành lại chủ quyền lãnh thổ đối với các đảo”thuộc quần đảo này? Những việc làm của Trung Quốc đối với quần đảo này từ những năm 1930 đến nay, không có khả năng biện minh theo luật pháp Quốc tế.
(1) Minh sử, quyển 6, tờ 2b-7a; quyển 7, tờ 1b-6a; quyển 304, tờ 2a-2b, (Thư viện Quốc gia).(2) Trung Quốc Đại bách khoa toàn thư, Nxb. Bắc Kinh – Thượng Hải, 9-1990, tr. 480.(3) Bary Wain, Yêu sách của Trung Quốc đối với quần đảo Trường Sa hoàn toàn là chuyện rắc rối, báo Asien Wall Street (Hồng Kông) 15-04-1994. Lý lẽ và hành động trên của Trung Quốc khiến cho dư luận Quốc tế lo ngại và cảnh giác. Trong bài Yêu sách của Trung Quốc đối với quần đảo Trường Sa hoàn toàn là chuyện rắc rối (3). Tác giả Brai Oai – nơ (Bary Wain) vạch rõ: “Bằng những lý do chẳng ai biết rõ ra sao (nguyên văn là: bằng những lý lẽ mà không thể hiểu rõ ngay được đối với người trên sao Hỏa đáp xuống). Trung Quốc nói rằng, nhóm đảo ấy là lãnh thổ thiêng liêng của họ”. Về những yêu sách của Trung Quốc đối với vùng biển Đông, cũng bài báo trên đã nhận xét: “…lập trường của Tung Quốc không chỉ là vô lý mà còn lố bịch nữa”(1).
Những hành động của Trung Quốc tại vùng biển quần đảo Trường Sa của Việt Nam rõ ràng là hành động bất hợp pháp, xâm phạm chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ Việt Nam, vi phạm nguyên tắc không sử dụng vũ lực của Liên hợp quốc, là sự chà đạp thô bạo luật pháp quốc tế. Tờ báo Pháp Li-bê-ra-ti-on vạch rõ: “Cái chính trị pháo quyền này khơi động những mối lo ngại từ lâu về chủ nghĩa bá quyền Trung Hoa ở Đông - Nam Á. Các nước trong vùng không khỏi nhận thấy một cách bực dọc rằng, các bản đồ phát hành ở Bắc Kinh chỉ rõ lãnh thổ Trung Quốc kéo dài đến sát bờ biển Ma-lai-xi-a, Phi-lip-pin và Việt Nam” (2).
Cũng như các triều đại, các Chính phủ trước đây, Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trước sau khẳng định chủ quyền bất khả xâm phạm của mình với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, kiên quyết bảo vệ chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ của mình. Việt Nam chủ trương tôn trọng chủ quyền lãnh thổ của các quốc gia khác, song quyết không để người khác xâm chiếm bộ phận lãnh thổ của Việt Nam. Trong bài phát biểu tại cuộc mít tinh ở đảo Trường Sa (tháng 5 – 1988) Đại tướng Lê Đức Anh, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khẳng định ý chí sắt đá: “Quyết tâm bảo vệ bằng được Tổ quốc thân yêu của chúng ta, bảo vệ bằng được quần đảo Trường Sa – một phần lãnh thổ và lãnh hải thiêng liên của Tổ quốc thân yêu của chúng ta”(3).
Với lòng mong muốn giữ gìn tình hữu nghị Việt – Trung, tôn trọng nguyên tắc không dùng vũ lực trong quan hệ quốc tế; trong các ngày 17, 23 và 27 tháng 3 năm 1988, Việt Nam đã đề nghị Trung Quốc cử đại diện đàm phán để giải quyết những bất đồng liên quan đến quần đảo Trường Sa, cũng như các vấn đề tranh chấp khác về biên giới và quần đảo Hoàng Sa. Việt Nam cũng đề nghị, trong khi chờ đợi hai bên cam kết không sử dụng vũ lực để giải quyết tranh chấp(4).
(1) Bary Wain, Yêu sách của Trung Quốc đối với quần đảo Trường Sa hoàn toàn là chuyện rắc rối, báo Asien Wall Street (Hồng Kông) 15-04-1994.(2) Liberation (Pháp), ngày 25-03-1988.(3) Bài phát biểu của Đại tướng Lê Đức Anh tại cuộc mít tinh ở đảo Trường Sa, kỉ niệm lần thứ 33 ngày truyền thống của Quân chủng Hải quân (07-05-1955 – 07-05-1988).(4) Theo Công hàm Bộ Ngoại giao CHXHCN Việt Nam gửi Bộ Ngoại giao CHND Trung Hoa ngày 17, 23 và 27-03-1988. Đáp lại, trong Bị vong lục công bố ngày 12 tháng 5 năm 1988, Trung Quốc xác nhận ý kiến của Trưởng đoàn đại biểu Trung Quốc trong cuộc hội đàm với Việt Nam tại Bắc Kinh, tháng 9 năm 1975 như sau: “Đối với Việt Nam, ngay sau khi họ đưa ra đòi hỏi về lãnh thổ đối với quần đảo Tây Sa và quần đảo Nam Sa của Trung Quốc, tháng 9 năm 1975, lãnh đạo phía Trung Quốc Đặng Tiểu Bình nêu ra với người lãnh đạo Việt Nam Lê Duẩn đang thăm Trung Quốc, phía Trung Quốc có đầy đủ tài liệu chứng minh quần đảo Tây Sa và quần đảo Nam Sa từ cổ đến nay thuộc lãnh thổ Trung Quốc, nhưng theo nguyên tắc giải quyết tranh chấp thông qua hiệp thương hữu nghị, bày tỏ “sau này có thể thương lượng””(1).
Bước vào thập kỉ 90, quan hệ hai nước dần dần trở lại bình thường. Thông cáo chung Việt Nam – Trung Quốc tháng 11 năm 1991 nêu rõ: “Hai bên tuyên bố hai nước Việt Nam và Trung Quốc sẽ phát triển quan hệ hữu nghị và láng giềng thân thiện trên cơ sở năm nguyên tắc: “Tôn trọng chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau; không xâm phạm lẫn nhau; không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau; bình đẳng, cùng có lợi và cùng tồn tại hòa bình”. Hai bên xác định:“Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Cộng sản Trung Quốc sẽ khôi phục quan hệ bình thường trên các nguyên tắc độc lập tự chủ, hoàn toàn bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau”. Sau khi bình thường hóa quan hệ, Chính phủ hai nước Việt Nam và Trung Quốc đã thỏa thuận sẽ tiến hành đàm phán nhằm giải quyết vấn đề về biên giới lãnh thổ tồn tại giữa hai nước. Chính phủ hai nước cũng bày tỏ tán thành tuyên bố về biển Đông của hội nghị Ngoại trưởng các nước ASEAN họp ở Ma-ni-la tháng 7 năm 1992. Tuyên bố về biển Đông có đoạn:
- “Nhấn mạnh sự cần thiết phải giải quyết tất cả các vấn đề chủ quyền và quyền tài phán ở biển Nam Trung Hoa (biển Đông) bằng các biện pháp hòa bình, không sử dụng vũ lực.
- Kêu gọi các bên liên quan kiềm chế nhằm tạo ra một bầu không khí tích cực cho giải pháp cuối cùng đối với mọi tranh chấp.
- Không phương hại tới chủ quyền và quyền tài phán của các quốc gia có lợi ích trực tiếp trong khu vực, quyết tâm thăm dò khả năng hợp tác tại biển Nam Trung Hoa về các vấn đề an toàn hàng hải và giao thông, chống ô nhiễm môi trường biển, phối hợp với các hoạt động tìm kiếm và cứu hộ, các cố gắng chống cướp biển và cướp có vũ tranh, cũng như phối hợp trong các chiến dịch chống buôn lậu ma túy”(2).
(1) Nhân dân nhật báo, ngày 12-05-1988.(2) Báo Nhân dân, ngày 24-07-1992. Nhân dân Việt Nam mong muốn rằng thông qua đàm phán, hai bên có thể đi đến một giải pháp cơ bản, lâu dài cho vấn đề tranh chấp chủ quyền đối với hai quần đảo ở biển Đông, mang lại hòa bình, ổn định và hợp tác trong khu vực. Ngày 23 tháng 6 năm 1994, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam phê chuẩn Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982, biểu thị quyết tâm của Việt Nam cùng cộng đồng quốc tế xây dựng một trật tự pháp lý công bằng, khuyến khích sự phát triển và hợp tác trên biển, hòa nhập vào đời sống pháp luật quốc tế.
Những năm gần đây, Việt Nam và Trung Quốc đang tiếp tục đàm phán để giải quyết những vấn đề tồn tại về biên giới lãnh thổ giữa hai nước. Chính phủ các nước trong khu vực đã ra Tuyên bố chung về biển Đông, kêu gọi các nước giải quyết tranh chấp về chủ quyền và quyền tài phán ở biển Đông bằng các biện pháp hòa bình, không sử dụng vũ lực, bày tỏ quyết tâm thăm dò khả năng hợp tác ở vùng biển này. Công ước năm 1982 của Liên hợp quốc về Luật biển đã có hiệu lực, được thế giới chấp nhận và tôn trọng.
Chuyến đi thăm hữu nghị chính thức nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam của đồng chí Giang Trạch Dân, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc , Chủ tịch nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa tháng 11 năm 1994, đã mở ra một thời kì mới trong quan hệ hai nước. Thông cáo chung Việt Nam – Trung Quốc nêu rõ: “Hai bên khẳng định lại những thỏa thuận tại các cuộc gặp gỡ cấp cao giữa hai nước từ năm 1991 đến nay, kiên trì thông qua đàm phán hòa bình giải quyết vấn đề biên giới lãnh thổ giữa hai nước. Hai bên hài long về sự tiến triển của các cuộc đàm phán cấp Chính phủ và cấp chuyên viên giữa hai nước…” và “… trước khi vấn đề được giải quyết, hai bên đều không tiến hành những hành động làm phức tạp thêm hoặc mở rộng thêm tranh chấp, không sử dụng vũ lực và đe dọa sử dụng vũ lực. Hai bên sẽ bàn bạc kịp thời và giải quyết thỏa đáng những bất đồng nảy sinh với thái độ bình tĩnh xây dựng, không để bất đồng ảnh hưởng đến sự phát triển bình thường của quan hệ hai nước”(1).
Cũng trong chuyến đi thăm này, trả lời các nhà báo Việt Nam, Tổng Bí thư, Chủ tịch Giang Trạch Dân nhấn mạnh: “Đối với một số vấn đề còn tồn tại giữa hai nước, hai bên vần xuất phát từ vấn đề lớn là giữ gìn quan hệ hữu nghị Trung – Việt, phát triển hòa bình, ổn định ở khu vực, thông qua hiệp chương để giải quyết từng bước”(2).
(1), (2) Báo Nhân dân ngày 22 và 23-11-1994. Tình hình dù phức tạp đến đâu, nếu các bên tranh chấp đều tuân theo Hiến chương Liên hợp quốc, giải quyết bằng thương lượng hòa bình, không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực, tôn trọng lợi ích chính đáng của nhau, thì đều có khả năng tìm ra giải pháp phù hợp, bảo đảm cho vùng biển này mãi mãi là vùng biển hòa bình, hữu nghị và hợp tác giữa các quốc gia trong khu vực.
Các tác giả cuốn sách 9 lần xuất quân lớn của Trung Quốc, nên đọc lại và suy ngẫm thêm về những lời Tuyên bố trên của đồng chí Giang Trạch Dân.
Nguồn: Sự thật về những lần xuất quân của Trung Quốc và quan hệ Việt - Trung (NXB Đà Nẵng: 1996).
—
Trận chiến đẫm máu tại Gạc Ma 1988
Quỳnh Chi, phóng viên RFA
19-10-2011
Ngày 14 tháng 3 năm 1988 đã xảy ra trận chiến đẫm máu giữa hải quân Việt Nam và Trung Quốc tại Gạc Ma, Trường Sa.
Trận chiến kết thúc, hải quân Việt Nam chỉ có chín người sống sót. Từ đó, Gạc Ma được cho là đã thuộc về Trung Quốc. Bối cảnh và diễn biến cuộc chiến tại Gạc Ma như thế nào? Mời quý vị nghe chính người lính năm xưa kể chuyện của họ.
Tay không bảo vệ tổ quốc
Từ đầu năm 1988, Trung Quốc bắt đầu chiếm đóng tại một số bãi đá thuộc quần đảo Trường Sa, cũng như đưa lực lượng của hai hạm đội xuống khu vực này. Nhận thấy tình hình có thể diễn biến phức tạp, Bộ tư lệnh hải quân Việt Nam ra lệnh cho xây dựng và bảo vệ đảo tại Gạc Ma, Cô Lin và Len Đao bởi vì các đảo này có vị trí quan trọng trong tuyến đường tiếp tế của Việt Nam cho các căn cứ khác tại Trường Sa. Chiến dịch này còn được biết đến với tên gọi CQ-88, tức Chủ quyền 88.
Bắt đầu ngày 12 tháng 3 năm 1988, ba chiếc tàu vận tải của Lữ đoàn 125 mang số hiệu HQ-604, HQ-605 và HQ-505 mang theo một số phân đội của Trung đoàn công binh 83 và Lữ đoàn 146 đến các đảo này. Ba con tàu neo tại 3 đảo, với nhiệm vụ “Xây dựng và bảo vệ đảo”. Tuy nhiên, giao tranh chủ yếu diễn ra ở Gạc Ma. Đó cũng là một cuộc chiến đẫm máu nhất trong chiến dịch CQ-88.
Con tàu HQ-604 chở khoảng 74 chiến sĩ, đa phần là công binh có nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ đảo Gạc Ma. Trước khi đi, tất cả các chiến sĩ đều được quán triệt là bảo vệ tổ quốc nhưng không nổ súng. Anh Nguyễn Văn Thống cho biết “Bên mình lúc ra đi là quán triệt không được nổ súng bằng bất cứ giá nào”.
Chính vì được quán triệt là không được nổ súng, trên các con tàu trong chiến dịch CQ-88 đều chỉ mang lương thực, xi măng, cốt thép và các cột bê tông đúc sẵn mà không mang theo bất cứ một loại vũ khí nào, chỉ trừ vài khẩu súng AK. Các chiến sĩ trên tàu, chủ yếu chỉ là công binh, chưa một lần cầm súng chiến đấu, để rồi cho đến bây giờ, tim họ vẫn còn nhói khi nghĩ lại. Theo lời kể của 8 nhân vật còn sống cho đến hôm nay, họ không hề có một khẩu súng trong tay và chỉ thấy khoảng 3¬-4 người lính Việt Nam có cầm súng AK. Anh Trần Thiện Phung chua xót nhớ lại:
“Đơn vị tôi là đơn vị công binh mà, ra đảo chỉ biết là để xây dựng chứ đâu biết để chiến đấu. Nhưng ra đó, tàu chiến của Trung Quốc đánh mình”.
Chiều 13 tháng 3 năm 1988, tàu HQ-604 vừa đến Gạc Ma và bị quân Trung Quốc dùng loa cảnh báo. Theo lời những người tham gia trận đánh, Trung Quốc lúc ấy triển khai 3 tàu chiến, đứng vị trí hình tam giác bao vây con tàu vận tải HQ-604, chỉ cách nhau chừng vài trăm mét. Anh Dương Văn Dũng nhớ lại:
“Lính Trung Quốc cầm loa thông báo rằng đây là lãnh thổ của Trung Quốc, yêu cầu lính Việt Nam rời ngay. Tuy nhiên, mình vẫn không rời đảo, vẫn bám trụ đảo. Cho đến sáng mai thì trận chiến xảy ra.”
Lính Trung Quốc cầm loa thông báo rằng đây là lãnh thổ của Trung Quốc, yêu cầu lính Việt Nam rời ngay. Tuy nhiên, mình vẫn không rời đảo, vẫn bám trụ đảo. Cho đến sáng mai thì trận chiến xảy ra. Anh Dương Văn Dũng.
Đến sáng sớm ngày 14 tháng 3, khi hải quân Việt Nam đổ bộ, bốc vật liệu xây dựng từ tàu xuống đảo, đó là lúc phát súng đầu tiên vang lên, để rồi tiếp sau đó là một tràn tiếng súng dài và máu văng tung tóe. Hiện tại, Trung Quốc cho sản xuất một phim tư liệu ghi lại trận chiến tại Gạc Ma với hình ảnh một vòng người bị bắn tan tành trên nước. Đó chính là đoạn nghi lại hình ảnh này. Anh Thống nói:
“Bởi vì chúng tôi nhận được lệnh là chuyển cột bê tông từ tàu xuống đảo để xây dựng đảo cho nên các anh em đổ bộ vào đảo. Khi mình đổ bộ như thế thì họ từ trên tàu bắn xuống một hàng dài. Khi mình đưa cờ vào thì trong vòng 30 phút sau là bị bắn.”
Trung Quốc tấn công và chiếm đảo
Lúc đó cũng là lúc tàu Trung Quốc thả 3 thuyền nhôm và khoảng 40 lính có trang bị vũ khí đổ bộ lên đảo giật cờ Việt Nam. Dưới nước, lúc giáp lá cà, 2 bên chỉ cách nhau khoảng 100 mét. Phía trên, tàu Trung Quốc bao vây. Anh Dũng cho biết:
Tất cả các anh em hô to giữ chặt cây cờ, không bao giờ để mất cây cờ cũng như không bao giờ để mất tổ quốc. Mình hô to “Bảo vệ! bảo vệ! bảo vệ”. Khi họ tràn qua đánh mình là mình chống trả ngay lập tức. Mình chấp nhận tay không bảo vệ cây cờ tổ quốc”.
Thiếu úy Trần Văn Phương là người giữ lá cờ Việt Nam trên đảo Gạc Ma, cũng là người nhận phát đạn đầu tiên và tử thương đầu tiên. Nhiều người kể rằng, trước khi chết, anh Phương còn hô to “Thà hy sinh chứ không chịu mất đảo, hãy để máu chúng ta nhuộm đỏ Biển Đông”.
Theo anh Trần Thiện Phụng, lúc tình hình bắt đầu căng thẳng, lữ đoàn phó lữ đoàn 146 Trần Đức Thông ra lệnh “Đây là lãnh thổ của Việt Nam, các đồng chí hãy bảo vệ lãnh thổ”. Lúc ấy cũng là lúc nhiều người dù không có vũ khí trong tay cũng nhảy xuống tàu bơi vào bám trụ trên đảo, để rồi tất cả đều phải hi sinh nhanh chóng sau đó. Anh Dũng nói tiếp:
“Chúng tôi biết rằng đã bị thua thế và mắc mưu Trung Quốc, cho nên chỉ làm bia đỡ đạn cho địch thôi chứ không biết nói sao. Họ là phía hành động tất cả. Khi họ tràn qua đánh thì chúng tôi biết rằng chỉ có chết thôi chứ làm sao sống được? Ở đó chỉ có nước và trời, không phải rừng rú, trốn vào đâu được? Khi hành động là họ vây mình hết rồi, nên mình chỉ có chết thôi. Tất cả các anh em đều bị bắn xối xả hết. Tôi vẫn nhớ kỹ mà. Tôi nhìn rõ hết mà. Dễ sợ lắm.”
Lúc ấy, phía Trung Quốc có 1 hộ vệ hạm và 2 hải vận hạm, được trang bị hỏa lực 100mm với hơn 200 binh sĩ (tài liệu từ Trung Quốc). Theo tài liệu từ phía Bắc Kinh, quân Trung Quốc luôn sẵn sàng chiến đấu. Thậm chí, trước đêm trận chiến xảy ra, quân lính nước này còn được xem phim tuyên truyền nói rằng Việt Nam ăn cắp tài nguyên của Trung Quốc.
Sau khi bắn xối xả vào vòng người trên đảo, Trung Quốc bắt đầu nả pháo liên tiếp vào con tàu HQ-604. Anh Lê Minh Thoa bồi hồi nhớ lại:
“Tôi lo về máy móc của tàu không có súng ống gì cả. Lúc bắt đầu giao chiến thì tôi còn ở trên boong tàu. Nhưng khi thuyền thưởng ra lệnh sẵn sàng chiến đấu thì ngành nào theo ngành nấy và tôi xuống hầm máy. Khi tôi đang ở hầm máy thì tàu bị bắn và xăng dầu trong hầm máy cũng bùng cháy. Tôi bị cháy sau lưng và bỏ chạy lên boong tàu rồi nhảy xuống nước. Khi ấy, nước đã bắt đầu tràn vào tàu và chìm dần”.
Khi quả những khẩu đạn pháo nhắm vào thân con tàu HQ-604 già nua, cũng là lúc quân Việt Nam chết nhiều nhất, người thì chết vì ngạt khi co cụm dưới khoang tàu, người thì chết vì đạn pháo, người thì chết vì ngạt nước – hỗn loạn, tan tác và kinh hãi. Anh Thoa chua xót nói tiếp:
“Khi lính của mình chết gần hết rồi, xác họ trôi lơ lửng, máu tràn lan trên biển, máu của lính từ mạn tàu chảy xuống. Tôi thấy ghê gớm thật. Lúc đó chẳng biết suy nghĩ gì, chạy loạn xạ hết. Nhìn thấy cảnh tượng ấy tôi rất buồn bởi vì anh em mới đêm trước còn nói chuyện với nhau, bây giờ người sống kẻ chết. Tôi thấy rất buồn. Sau này tôi có xem lại đoạn phim về trận hải chiến này do Trung Quốc quay. Mỗi lần nhìn thấy đoạn phim ấy là hai hàng nước mắt chảy ra.”
Sau khi nhận quả đạn pháo đầu tiên, con tàu HQ-604 bắt đầu bùng cháy và chìm hẳn chỉ 30 phút sau đó. Cùng với xác con tàu, là xác của hàng chục chiến sĩ hải quân Việt Nam với vũng máu lớn loan cả một vùng biển Đông. Khi đó cũng là lúc hải quân Trung Quốc hoan hô reo rò chiến thắng. Họ bắt tay, ôm nhau, nói cười vui vẻ. Anh Dũng uất ức kể lại:
“Tôi tức chứ, tức vô cùng. Tôi tức vì mình không đủ khả năng đánh lại họ vì mình không chuẩn bị. Họ đã được chuẩn bị và họ đánh mình. Họ đánh nát tan thuyền của mình. Họ đánh xong, họ hoan hô. Tôi nằm dưới nước thấy cảnh ấy mà tức vô cùng”.
Tàn sát lính Việt Nam
Tuy nhiên, đó còn chưa phải là kết thúc của những đau thương và mất mát. Anh Thoa nói tiếp:
“Khi tôi nhảy khỏi tàu thì thật tình tôi thấy hiện trường có rất nhiều lính Trung Quốc. Tôi chứng kiến thấy rằng Trung Quốc
ác quá. Khi tàu của Việt Nam đã bị chìm rồi, lính Việt Nam nhảy xuống biển mà nổi lên trên là họ bắn hết. Trung Quốc cho những chiếc xuồng chạy trên biển và bắn tất cả lính Việt Nam nào nổi lên”.
Cứ như thế, hải quân trên con tàu HQ-604 tại đảo Gạc Ma gần như tử thương tất cả chỉ sau hơn một giờ đồng hồ giao tranh. Trong số 74 chiến sĩ trên con tàu ấy, chỉ có 9 người còn sống sót. Cho đến bây giờ, họ cũng không giải thích được lý do vì sao họ có được cái may mắn còn sống để kể về câu chuyện của chính họ ngày hôm nay. Anh Thoa cho biết vì sao mình không chết trong trận chiến ấy:
Cứ như thế, hải quân trên con tàu HQ-604 tại đảo Gạc Ma gần như tử thương tất cả chỉ sau hơn một giờ đồng hồ giao tranh. Trong số 74 chiến sĩ trên con tàu ấy, chỉ có 9 người còn sống sót. Cho đến bây giờ, họ cũng không giải thích được lý do vì sao họ có được cái may mắn còn sống để kể về câu chuyện của chính họ ngày hôm nay. Anh Thoa cho biết vì sao mình không chết trong trận chiến ấy:
“Chín người chúng tôi còn sống sót là do có những người nổi lên nhưng nhìn cũng như chết rồi. May mắn cho tôi là tôi có được hai quả bí. Khi nghe tiếng xuồng của địch chạy đến thì tôi lặn xuống biển, hết tiếng xuồng là tôi ngoi lên”.
Sau khi nghĩ rằng đã tiêu diệt hết tất cả hải quân Việt Nam cùng con tàu HQ-604, ba chiếc tàu chiến cùng hải quân Trung Quốc bỏ đi. Lúc này thủy triều đang lên, đảo Gạc Ma lại chìm trong biển nước mênh mông (đảo Gạc Ma còn gọi là đảo chìm; nổi lên và lặn xuống theo con nước). Không còn tiếng súng nổ, không còn tiếng động cơ, cũng chẳng còn tiếng la hét, trả lại cho Gạc Ma sự yên ắng đến rợn người.
Biển không gợn chút sóng, mà lòng những người sống sót đau đến lạ. Chín người còn sống sót nằm trên đảo, bên cạnh những xác chết nghiêng ngửa của những người bạn mà chỉ mới hôm qua thôi, còn chúc nhau sống lâu trăm tuổi. Họ nhìn đồng đội, nhìn Gạc Ma mà nhòe đi vì nước mắt. Có lẽ không một lời nào có thể diễn tả tâm trạng của họ lúc này; nó trống rỗng như cái khoảng không trên bầu trời cao vợi, sâu thắt như đáy biển Đông và mênh mông như Trường Sa lúc này.
Tất cả chín người sống sót đều bị thương nặng, như những xác chết nằm cùng vô vàng các xác chết khác. Có lẽ ngay chính họ cũng không biết là mình còn sống. Trong cơn đau đến nỗi tưởng như có thể chết đi, các anh vẫn ý thức rằng, lá cờ Việt Nam trên tay đồng chí Phương cũng không còn nữa. Anh Thống buồn rầu nói:
“Đá trên đảo là đá san hô cho nên không thể cắm cờ trên đảo được. Chỉ có thể cho người cầm cờ mà thôi. Tuy nhiên, khi người cầm cờ ấy mất thì lá cờ cũng mất theo”.
Khi tàu của Việt Nam đã bị chìm rồi, lính Việt Nam nhảy xuống biển mà nổi lên trên là họ bắn hết. Trung Quốc cho những chiếc xuồng chạy trên biển và bắn tất cả lính Việt Nam nào nổi lên. Anh Lê Minh Thoa.
Trận chiến trên đảo Gạc Ma kết thúc, phía Trung Quốc chỉ có một người bị thương. Họ vinh danh một đặc nhiệm hải quân tên Du Xiang Hou, là người đã xé bỏ lá cờ Việt Nam trên đảo. Họ làm phim giáo dục con cháu về trận chiến mà đối với họ là một sự vẻ vang kiêu hùng. Và họ xem đó là bằng chứng không thể chối cãi đối với chủ quyền tại đảo Gạc Ma. Vậy mà đã 23 năm tại Việt Nam, cuộc chiến này bị né tránh không nói đến, như thể nó là một phần lịch sử cần được giấu đi. Có lẽ trận chiến trên đảo Gạc Ma không phải là một vết son trong lịch sử như những chiến thắng của đội quân Lý Thường Kiệt, Trần Quốc Tuấn hay vua Quang Trung. Tuy nhiên, người ta vẫn cần một lịch sử thật hơn một lịch sử đẹp. Huống chi, các chiến sĩ CQ-88 tay không đánh giặc, há chẳng phải đẹp lắm sao?
Cuộc chiến tại Gạc Ma kết thúc, nhưng trận chiến của những người còn sống sót còn chưa đến hồi kết. Số phận chín người còn sống sót như thế nào? Mời quý vị đón nghe vào kỳ tới.
Copyright © 1998-2011 Radio Free Asia. All rights reserved.
—-
Mời xem thêm:
* Tuần Việt Nam: Người yêu liệt sĩ ‘sự kiện Gạc Ma’ ra thăm Trường Sa (19/6/2011), Phía sau những người đã ngã xuống vì Trường Sa(21/6/2011), Gặp những người lính trong trận hải chiến Trường Sa 1988 (25/7/2011), Hải chiến 1988: bất tử trên đảo Gạc Ma (KỲ 2), Hải chiến Trường Sa 1988: cá mập (Kỳ 3).
* Ba Sàm: 584. Tin mật về trận Hải chiến Bãi đá Gạc Ma (27/7/2011).
* Thanh niên: Anh đã sống thay đồng đội (28/8/2011).
* Tuổi trẻ: Nhật ký Trường Sa – Kỳ 9: Lá cờ của cha, lá đơn của con (13/9/2011).
* Danh nhân Sài Gòn: Biển mang dáng hình những đứa con của mẹ (1/2012).
* Quân đội ND: Tưởng niệm các liệt sĩ hy sinh tại quần đảo Trường Sa: Gửi vào biển ngàn lần yêu thương (7/1/2012).
* Thanh niên: Trường Sa ký ức tháng ba (11/3/2012).

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét