Thứ Hai, 20 tháng 2, 2012

TRẦN NHÂN TÔNG, SỰ NGHIỆP ĐỜI VÀ ĐẠO


Trần Thị Băng Thanh
            Trần Nhân Tông tên là Khâm, còn có tên là Phật Kim và Nhật Tôn, Nhân Tông là thụy hiệu, con trưởng Trần Thánh Tông, sinh ngày 11 tháng Mười một năm Mậu ngọ (7. XII. 1258), làm vua từ Kỷ mão (1279) đến Quý tỵ (1293), niên hiệu là Thiệu Bảo (1279 – 1284) và Trùng Hưng (1285 – 1293) 5 năm làm thượng hoàng, xuất gia 8 năm. Mất ngày 3 tháng Mười một, năm Mậu thân (16. XI. 1308) tại am Ngọa Vân, núi Yên Tử.
            Các sử gia thời trung đại, Ngô Sĩ Liên và Ngô Thì Sĩ đã nhất tri khen Trần Nhân Tông là “vị vua hiền” đời Trần, “sự nghiệp thời trùng hưng hơn hẳn các đời trước”(1). Trong 12 vua Trần chỉ Trần Nhân Tông được khen là “vua hiền”. Khái niệm “hiền” trước đây bao gồm cả trí tuệ, tài năng và đức độ. Quả thực Nhân Tông xứng đáng được đứng trong hàng “thế giới người hiền”. Trải ba mươi năm làm vua, làm thượng hoàng, làm vị tổ Thiền phái Trúc Lâm Việt Nam, ông đã để lại một sự nghiệp vô cùng lớn lao mà dường như danh hiệu “vua hiền” chưa hẳn là đã thể hiện được đầy đủ. Sự nghiệp ấy được thể hiện trên ba lĩnh vực.
            1. Một vị vua hiền trong sự nghiệp trùng hưng đất nước. 
            Điều đầu tiên phải kể đến là chiến công đánh thắng hai cuộc giặc Nguyên – Mông xâm lược bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ đất nước. Thực ra đối với Việt Nam, việc chống ngoại xâm bảo vệ đất nước (mà “bắt buộc” phải chiến thắng) như đã là số mệnh và đã thành truyền thống. Cứ tính trong một nghìn năm thời trung đại ta đã thấy có đến 8/9 cuộc chống xâm lăng thành công rực rỡ. Riêng nhà Trần có đến 3 cuộc và Trần Nhân Tông phải đảm trách 2 cuộc, cách nhau chưa đầy 3 năm.
Theo một số nhà nghiên cứu về Mông Cổ thì người Thát có một chủ trương, khi các con đã lớn, vua Thát thường tổ chức những cuộc viễn chinh, vùng đất mới chiếm sẽ giao cho một hoàng tử làm nơi lập nghiệp, lập vương triều mới. An Nam chính là mục tiêu mà Hốt Tất Liệt muốn lập cơ đồ cho thái tử Thoát Hoan. Chỉ cần nghĩ rằng giặc Thát là một đội quân hùng mạnh đã quấy đảo cả châu Âu thời đó, lại có được sự bày mưu tính kế của các quan chức người Hán thâm nho, từ đó mà có phần am hiểu Việt Nam, như Vương Vũ Xứng chẳng hạn, lại xuất phát từ một mục đích rất căn cốt trong truyền thống người Thát thì đủ thấy tính chất quyết liệt của cuộc chiến đến thế nào.
Tư liệu lịch sử còn cho biết rằng cùng với cuộc xâm lăng Việt Nam, nhà Nguyên cũng chuẩn bị song song một cuộc đánh chiếm Nhật Bản. Nhưng do thất bại nặng năm 1285. Hốt tất Liệt đã bãi bỏ cuộc tấn công Nhật Bản, tập trung hết lực lượng cho cuộc đánh Việt Nam lần thứ 3, năm 1288. Nhưng trận này vẫn thất bại, Hốt Tất Liệt tiếp tục lập tổng hành dinh chuẩn bị cho chiến dịch xâm lược lần thứ tư năm 1294. Cuộc chiến có vẻ như không cân sức. Nước Đại Việt nhỏ bé, sức người sức của có hạn, người đứng đầu cuộc chiến lúc đó mới chưa đầy ba mươi tuổi, tính thật chính xác là 27 tuổi, sinh ra và lớn lên trong hoàn cảnh đất nước thái bình.
Tất nhiên Nhân Tông có được một đội ngũ tướng tá tài đức là các chú các bác, các anh em và những gia thần thân thiết, đặc biệt là nhân dân Đại Việt với tấm lòng “vì nghĩa quên thân”, trong đó Trần Hưng Đạo là một vị tướng lão luyện đã từng giáp mặt với giặc Thát một lần. Hơn nữa, ông còn có ngươi cha là thượng hoàng Trần Thánh Tông làm chỗ dựa tinh thần, có vai trò như một vị “chính ủy”, quyết định những chủ trương nhằm giữ gìn khối đoàn kết dân tộc và huy động sức mạnh toàn dân, như mở Hội nghị Diên Hồng, tha tội thua trận cho Trần Khánh Dư sau khi vị tướng này đã lập công chuộc tội, không xử tội nghiệt ngã những người hàng giặc và đốt hết những chứng cứ thể hiện sự hèn nhát trước hiểm nguy của họ, quyết định khen thưởng… Nhưng Nhân Tông mới là người gánh vác trọng trách chính trong  cuộc chiến.
Hội nghị tướng lĩnh và trăm quan ở Bình Than (tháng 10 năm 1282) là một cuộc họp mang tầm chiến lược – “bàn kế sách công  thủ và chia quân đóng giữ những nơi hiểm yếu”(2)và cắt cử tướng lĩnh. Cuộc họp có một ý nghĩa vô cùng quan trọng, chứng tỏ tầm nhìn, quyết tâm và mưu lược của Nhân Tông trong việc chống giặc giữ nước. Những cuộc tập trận sau đó, sự diễn biến của cuộc chiến sau này xảy ra đã chứng minh đường hướng đúng đắn của Hội nghị Bình Than, đặc biệt là tinh thần nhất tâm của “anh em, vua tôi” trong vương triều Tràn, do đó đã đạt được một kết quả mỹ mãn của công cuộc giữ nước, đó là một kỳ tích mà không phải bất cứ triều đại nào, thời kỳ lịch sử nào cũng đạt được.
Trong cuộc chiến, những nơi đầu sóng ngọn gió, cần giải quyết những công việc hệ trọng đều thấy Nhân Tông xông pha, có mặt để có những quyết sách kịp thời. Ông đồng cam cộng khổ cùng tướng lĩnh, vào sinh ra tử cùng tướng lĩnh, có khi phải nhịn đói cả một ngày trời, chiều tối mới được bát cơm hẩm do người lính nhường cho … Là người chịu trách nhiệm chính trước non sông xã tắc và gia tộc trước thời điểm đất nước hiểm nghèo, Nhân Tông thực sự tỏ ra một tính cách mạnh. Khi cuộc chiến còn vô vàn khó khăn, ông vẫn vững tin ở dân tộc mình:
                                    Cối  Kê cựu sự quân tu ký
                                    Hoan Diễn do tồn thập vạn binh
                                    (Cối Kê việc cũ ngươi nên nh
                                    Hoan Diễn còn kia mười vạn quân)
            Sau mọi khó khăn, chiến thắng giành được Nhân Tông khẳng định niềm tin ở vận mệnh đất nước:
                                    Xã tắc lưỡng hồi lao thạch mã
                                    Sơn hà thiên cổ điện kim âu.
                                    ( Xã tắc hai phen chồn ngựa đá
                                    Non sông nghìn thuở vững âu vàng)
            Nhưng câu thơ “mừng thắng trận” không chỉ có niềm vui, tự hào bề nổi mà thể hiện cả tầm suy nghĩ chín chắn sâu xa, một cái nhìn minh triết xuyên suốt quá khứ – hiện tại – và tương lai.
Cũng vì trọng trách quốc gia mà cha giao cho đó nên sau chiến thắng, thượng hoàng Trần Thánh Tông có thể trở về Thiên Trường với tâm trạng thư thái của một người đã hoàn thành trách nhiệm, để viết nên những vần thơ rất thảnh thơi Nguyệt vô sự chiếu nhân vô sự; Kim niên du thắng tích niên du, còn Nhân Tông thì không thể, công việc hậu chiến rất nhiều. Trước cảnh tan hoang “Sinh linh bị giết chóc, lăng mộ bị bới đào, chùa chiền bị thiêu hủy, cây cối bị chặt đẵn …”, ông phải nhanh chóng trùng hưng đất nước trên tất cả mọi lĩnh vực và không thôi cảnh giác: “Các ngươi biết chắc rằng quân giặc không đến nữa thì tuy có ban thăng đến bậc cao nhất trẫm cũng không tiếc; vạn nhất chúng lại đến nữa mà các ngươi lại có công thì biết thưởng gì để khích lệ mọi người”. ..
Trương Hán Siêu trong bài Bạch Đằng giang phú đã tôn vinh ba người trong cuộc chiến này: Trần Quốc Tuấn định liệu trước được thế giặc “Kìa trận Bạch Đằng mà đại thắng là bởi Đại vương xem thế giặc nhàn”; còn hai vua (Trần Nhân Tông và thượng hoàng Thánh Tông) là hai vị “vua Thánh đức cao”:
                                    Anh minh, hai vịThánh quân,
                        Sông đây rửa sạch mấy lần giáp binh.
                                    Giặc tan muôn thưở thanh bình,
                        Bởi đâu đất hiểm, cốt mình đức cao.
Đo là một sự tôn vinh đúng đắn, Ngô Thì Sĩ bàn rằng “nghiền ngẫm kỹ lời và ý câu văn mô tả được trận thua của Hán và Nguyên rất thiết thực”. “Giang sơn nước Nam, sách trời định rõ, người Bắc tuy có cậy trí lực chực chiếm giữ, nhưng dù có lấy được cũng không thể nào giữ được…”(3)
Trên cương một nguyên thủ quốc gia trong nhiệm vụ bảo vệ đất nước, Trần Nhân Tông là một vị vua tài chí và anh hùng.
2. Vị tổ sáng lập Thiền phái Việt Nam.
Sử sách cũng đã ghi rõ, trong cuộc đấu tranh bảo về đất nước, Trần Nhân Tông không chỉ trực tiếp chỉ đạo chiến trận mà còn phải chủ trì nhiều cuộc tiếp sứ, thực chất là những cuộc đấu tranh ngoại giao vô cùng căng thẳng. Nhà Nguyên và “thiên triều” nói chung rất mong muốn biến Đại Việt thành một quận huyện của Hoa hạ. Ăn mặc, nói năng, suy nghĩ, phong tục thờ cúng … tất thảy họ đều muốn An Nam theo Hoa hạ.
Cho nên giữ được cương giới của tổ tông đã đành, cũng còn phải giữ được bản sắc dân tộc mình, giữ được những gì mà năm tháng có thể đã bị mất mát thay đổi đến không còn nhận ra nữa. Nhà Trần rất có ý thức về phương diện này. Trần Nghệ Tông từng mắng “bọn học trò mặt trắng”: “Triều trước dựng nước có luật pháp, chế độ riêng, không theo quy chế của nhà Tống, là vì Nam Bắc nước nào làm chủ nước đó, không phải bắt chước nhau.
Khoảng năm Đại Trị (thời Trần Dụ Tông), bọn học trò mặt trắng được dùng, không hiểu ý nghĩa sâu xa của việc lập pháp, đem phép cũ của tổ tông thay đổi theo tục phương Bắc cả, như về y phục, âm nhạc … thật không kể xiết”. Như vậy là Trần Nghệ Tông còn biết rất rõ các “triều trước” của nhà Trần vẫn giữ được phép tắc riêng của dân tộc, từ âm nhạc, y phục … Ở Trần Nhân Tông điều ấy rất rõ. Trong khi tiếp sứ thiên triều, ông thường theo tục lệ nước Nam, Đặc biệt là cuộc tiếp sứ thần Thượng thư bộ Lễ Trương Hiển Khanh năm 1292. Nhân Tông tiếp Trương Hiển Khanh ở điện Tập Hiền, mời ăn hải sản, cau trầu, chuyện trò vui vẻ, làm thơ tặng, trong đó có một bài thơ về tục ăn tết mồng ba tháng Ba:
                                    Giá chi vũ bãi thí xuân sam,
                                    Huống trị kim triêu tam nguyệt tam.
                                    Hồng ngọc đôi bàn xuân thái bính,
                                    Tòng lai phong tục cựu An Nam.
                                    (Múa giá chi rồi, thử áo xuân
                                    Hôm nay Hàn thực, buổi thanh thần
                                    Bánh rau tinh khiết đầy mâm ngọc
                                    Phong tục An Nam theo cổ nhân.)
                                                Biếu Trương Hiển Khanh bánh xuân
                                                                                    (Trần Lê Văn dịch)
Bài thơ giọng điệu trang nhã, vừa rất ân cần với khách vừa ý tứ sâu xa. Chắc chắn Trần Nhân Tông biết câu chuyện Tấn Văn Công vô tâm bỏ quên người bề tôi trung thành đã cắt thịt mình cứu ông khỏi chết đói trong cơn hoạn nạn để tiết hàn thực đầu xuân ở Trung Quốc trở thành một ngày tết buồn, nhưng nhà vua nhấn mạnh tết “mồng ba tháng ba” đối với Đại Việt là tuần tiết vui, một lễ hội của phong tục cổ, có múa hát, có mặc áo mới và ăn một thứ bánh có rau, tinh khiết như “hồng ngọc”.
Hơn thế, Trần Nhân Tông trong một hoàn cảnh tương tự đã không quên người lính dâng vua một bát cơm hẩm, nhà vua ban tước cho anh ta và sau này khi đất nước đã thanh bình, mỗi lần đi đâu gặp gia nhân của các vương hầu đều gọi lại thăm hỏi và còn răn bảo các vệ sĩ không được đánh mắng họ(4). Thực ra theo sách Kinh Sở tuế thời ký thì tiết đông 105 ngày, sau đó có mưa to gió lớn, gọi là tiết Hàn thực, người ta cấm lửa trong 3 ngày. Lời chú của sách này nói: Theo lịch thì tiết ấy vào khoảng trước thanh minh 2 ngày, cách ngày đông chí 106 ngày. Một sách biệt lục của Lưu Hướng cũng nói tiết Hàn thực có từ đời Chu; gắn với truyện Giới Tử Thôi là từ thời Hậu Hán.
Như vậy có thể nói ngày 3 tháng 3 là một lễ hội của cư dân nông nghiệp phía nam, từ vùng Kinh Sở trở xuống. Vì thế Nhân Tông mới nhấn mạnh đây là “phong tục cổ của An Nam.” Bài thơ hai mươi tám chữ tặng Trương Hiển Khanh của Trần Nhân Tông quả là có một chiều sâu tư tưởng, một vẻ đẹp nhân văn rất đáng để hậu thế chiêm ngưỡng. Thực ra lần đi sứ này của Trương Hiển khanh cốt để chuẩn bị cho cuộc tiến công lần thứ tư của nhà Nguyên, là một cuộc đấu trí, đấu lý rất nhiều gai góc.
Thế nhưng Trần Nhân Tông đã hóa giải được, khiến cuộc tiếp sứ căng thẳng dần dần trở nên thân mật: “Vua An Nam tiếp chuyện vui vẻ luôn luôn làm thơ tặng thiên sứ. Lập đạo tức thì làm thơ đáp lại. Tiệc gần xong, mời Lập Đạo vào trong trướng, đều ngồi trên đất”(5) Lập Đạo (tên chính của Hiển Khanh) cuối cùng  cũng phải có một cách nhìn khác về An Nam, những điều gai góc cần phải tuyên dụ đành viết thành thư gửi sau và bài thơ khi rời Đại Việt đã biểu thị tâm trạng chấp nhận một thực tế mới mà chính ông đã quan sát được: An Nam là nước nhỏ, nhưng có văn chương, không thể nói bừa họ là ếch ngồi đáy giếng.
                                         Dao vọng thương yên toả mộ hà,
                                                Thị triều nhân viễn cách yên hoa.
                                                Cô hư đình viện vô đa sở,
                                                Thịnh mậu viên lâm chỉ nhất gia.
                                                Nam chú hùng tân Thiên Hán thuỷ,
                                                Đông khai cao thụ mộc miên hoa.
                                                An Nam tuy tiểu văn chương tại,
                                                Vị khả khinh đàm tỉnh để oa.
            Bản dịch An Nam chí lược:
                                                Ngắm cảnh chiều hôm khói mịt mờ,
                                                Xa nơi thành thị đỡ huyên hoa.
                                                Quạnh hiu đình viện không nhiều sở,
                                                Tươi tốt vườn cây chỉ một nhà.
                                                Thiên Hán bến Nam tuôn mạch nước,
                                                Mộc miên cây lớn trổ cành hoa.
                                                An Nam tuy nhỏ văn chương thịnh,
                                “Ếch giếng”, khuyên đừng chế giễu ngoa.(6)
Trên tinh thần giữ gìn bản lĩnh dân tộc, coi trọng cuộc sống tinh thần của nhân dân, Nhân Tông cũng rất chú trọng xây dựng nền văn hóa dân tộc. Sử sách ghi rằng ông rất ham thích đạo Phật, nhưng vì sự kỳ vọng của cha, ông đã gánh vác việc nước. Sau khi truyền ngôi cho thái tử Thuyên, ông mới được rảnh rang theo đuổi niềm ham thích của mình – “xuất gia”. 
Tuy nhiên, có thể còn một lý do khác khiến ông đến với đạo Phật: mối quan hệ giữa những con người. Dẫu sao đạo Phật cũng đề cập đến một tình thương rộng lớn, sự không phân biệt đẳng cấp xã hội trong hàng Phật tử. Nhân Tông là ông vua có tư tưởng thân dân vào bậc nhất đời Trần. Ông đã từng nhắc đến công lao của những người gia đồng, phạt trượng viên quan châu Diễn là Phí Mạnh về tội tham ô, xuống chiếu cho phép những người bán con làm nô tỳ được chuộc lại, trong thơ ông có bóng dáng trẻ chăn trâu, thôn làng… Cho nên, có thể cả hai quan niệm vũ trụ và nhân sinh của Phật giáo đã hấp dẫn ông, khiến ông suy nghĩ thêm về những kế sách “chăn dân trị nước” và muốn xây dựng một môn phái Thiền học bề thế, đàng hoàng của riêng Việt Nam, đời Trần.
Khác với các vua nhà Lý và cả cách của Trần Thái Tông, ở lĩnh vực này Nhân Tông rất có chủ kiến. Ông chấp nhận đạo Phật, nhưng đã tách đạo Phật ra khỏi đời sống chính trị và trả lại cho nó nhiệm vụ chính yếu của một tôn giáo: chăm sóc đời sống tâm linh của con người. Đến Nhân Tông dòng thiền Việt Nam đã thống nhất thành một mối từ tổ chức đến giáo lý, cách thức đào tạo, truyền nối và có cả một quê hương riêng cho mình. Chính Nhân Tông đã chọn Yên Tử làm mảnh đất quê hương cho dòng Thiền Trúc Lâm, mặc dù thời đó xung quanh kinh đô không ít ngôi chùa có quy mô lớn, đủ điều kiện để trở thành trung tâm một môn phái như Phật Tích, Phổ Minh, …
Nhân Tông chủ trương “cư trần lạc đạo”, “nhập thế”, nhưng vì sao ông đến với Yên Tử và có ý định đưa trung tâm Phật giáo xa Kinh đô, đó cũng là một câu hỏi. Tăng Hải Hoà, tức Nguyễn Đăng Sở (1753 – ? ) đã cho rằng thực chất Nhân Tông lên Yên Tử để tìm một vọng gác tiền tiêu bao quát vùng Đông Bắc, còn Ngô Sĩ Liên thì cho rằng “tuy nói là siêu thoát nhưng không phải là đạo trung dung của thánh nhân”.
            Chắc chắn rằng ý thức cảnh giác và mọi việc phòng thủ đất nước đối với dân tộc Việt không có gì xa lạ, Thượng hoàng đâu cần phải giấu giếm con dân. Nhưng chọn Yên Tử quả là Thượng hoàng đã tìm được một dịa thế rất thích hợp làm quê hương cho một tôn giáo riêng của Việt Nam.
      Tuy nhiên vấn đề cốt lõi là lý giải xem tại sao Nhân Tông tìm đến đạo Phật, lại còn chủ trương lập ra một tông phái Trúc Lâm riêng của Việt Nam, trong khi Đạo Phật ở Việt Nam lúc đó đã được nhiều người xem là “quốc giáo”; đời Lý đã có đến ba phái Thiền, đời Trần, Thái Tông và Tuệ Trung Thượng sĩ cũng đã xây dựng được những giáo trình khá quy mô, sâu sắc? Như vậy, ý tưởng và đóng góp riêng của Trần Nhân Tông là gì? Điều khó khăn là ngày nay những tác phẩm như Thiền lâm thiết chủy ngữ lục, Thạch thất mị ngữ, Tăng già toái sự, Đại Hương Hải Ấn thi tập của ông đều đã thất lạc. Và do vậy trong những trước tác còn lại, muốn trực tiếp tìm hiểu tư tưởng Thiền của ông trên phương diện hiển ngôn chỉ có thể tìm được ở một số đoạn thuyết giảng trong Thánh đăng ngữ lục, hai tác phẩm viết bằng tiếng Việt Cư trần lạc đạo phú, Đắc thú lâm tuyền thành đạo ca, và qua những bài thơ trữ tình hiện còn (không rõ có bao nhiêu bài thuộc tập thơ Hải Ấn?).
      Trước hết có thể nghĩ rằng, Trần Nhân Tông đến với giáo lý nhà Phật để tìm sự “giác ngộ”, cũng là tìm lời giải đáp cho những câu hỏi lớn: Bản chất thế giới là gì? Có thật hay hư ảo? Con người là ai? Từ đâu đến và cuối cùng đi đâu? (Cho đến tận ngày nay, đây vẫn là những câu hỏi khó).   
      Những câu hỏi ấy loài người đặt ra từ rất sớm, và cũng từ rất sớm con người cố gắng tìm câu trả lời. Thích Ca Mâu Ni cũng đã đưa ra một đáp án: thế giới, con người chỉ là sự kết hợp của năm yếu tố – “ngũ uẩn” – bao gồm cả tâm và vật: sắc, thụ, tưởng, hành, thức. Thế nhưng những câu hỏi đó vẫn trở đi trở lại. Đến khoảng thế kỷ XI, XII, XIII, dường như ở phương Đông vấn đề đó lại được đặt ra sôi nổi. Ở Trung Quốc người ta không chịu bằng lòng với thuyết “thiên nhân tương ứng” – trời với người có sự cảm ứng trực tiếp bí ẩn sơ giản của Nho giáo nữa. Các nhà Tống Nho đã rút phần bản thể luận của Phật giáo, những yếu tố biện chứng của Lão giáo để bổ sung và nâng cao tầm triết học cho Nho giáo.
Còn ở Việt Nam, giai đoạn này cũng là thời kỳ thịnh đạt nhất của Phật giáo. Dưới thời Lý có nhiều buổi họp mặt các Thiền gia và cả các vương hầu để đàm đạo về con người, vạn vật. Nhân Tông cũng đã trăn trở về những điều đó từ rất sớm (có phải như thế chăng?), đến nỗi “mặt võ mình gày”, khiến cha (Trần Thánh Tông) phải lo lắng. Nhưng rồi cũng như ông nội (Thái Tông), Nhân Tông đã bứt ra được để gánh lấy trách nhiệm “nhân chủ” trong suốt thời trai trẻ với biết bao gian nan và hào hùng. Và cũng trong những năm tháng ấy, dù “chưa tường lẽ sắc không, mỗi mùa xuân vẫn xốn xang trong lòng” (Xuân vãn), nhưng Nhân Tông có lẽ cũng không “khuây lãng” đạo Thiền, bởi còn một điều Người rất quan tâm nữa, đó là mối quan hệ giữa con người với nhau. Đạo Phật đề cập đến một tình thương rộng lớn, sự không phân biệt đẳng cấp xã hội trong hàng Phật tử – mọi người đều có Phật tính, đều có thể tự tìm học mà giác ngộ.
Nhân Tông là vị vua có tư tưởng “thân dân” vào bậc nhất đời Trần, cho nên, có thể cả hai mặt quan điểm vũ trụ và nhân sinh của đạo Phật đã hấp dẫn Người khiến Người suy nghĩ thêm về những kế sách “chăn dân trị nước”, và muốn xây dựng một môn phái Thiền học bề thế, đàng hoàng của riêng Việt Nam, đời Trần, để làm chỗ dựa tinh thần, làm nền tảng cho văn hóa Việt. Khác với các vua nhà Lý, Nhân Tông đã tách đạo Phật ra khỏi đời sống chính trị và trả lại cho nó nhiệm vụ chính yếu của một tôn giáo: chăm sóc đời sống tâm linh của con người. Đời Trần, các Thiền sư không tham chính, nhưng nhiều chính khách và hầu hết các vua nhà Trần lại tham Thiền. Trần Thái Tông đã viết Thiền tông chỉ nam ca trong những lúc “có được chút rảnh rỗi giữa trăm công nghìn việc” (Bài tựa Thiền tông chỉ nam ca) và đặc biệt quan tâm đến ý nguyện của người dân và số phận nhọc nhằn của mỗi con người. Tuệ Trung Thượng sĩ thì chủ động, tự khẳng định một con đường tu tập giác ngộ riêng: “hòa quang đồng trần”, “Phật là Phật, anh là anh. Anh chẳng cần làm Phật, Phật cũng chẳng cần làm anh!”. Nhân Tông thừa hưởng những cốt lõi tinh hoa tư tưởng đó, Người tự nhận “đắc chỉ” từ Tuệ Trung Thượng sĩ, nhưng Nhân Tông lại không phóng khoáng đến như thày, cũng không nghiêm trang đau khổ như ông nội. Trần Nhân Tông khẳng định “con đường vui”, tùy duyên; ở thành thị thì “cư trần lạc đạo”, ở núi sâu thì “đắc thú lâm tuyền”.
      Tìm lại trong tác phẩm của Trần Nhân Tông thấy Phật hoàng từng có giảng về giáo lý. Người cũng tổ chức hoằng dương tông phái, tìm người nối truyền. Người đã chọn được Pháp Loa làm người kế nghiệp, giao cho việc xiển dương tông phái và chọn Huyền Quang để lo việc kinh sách và rồi sẽ nối tiếp Pháp Loa truyền ngọn đèn Tổ. Thánh đăng ngữ lục ghi nhiều buổi Phật hoàng Trần Nhân Tông hướng dẫn Pháp Loa giảng Kinh Pháp hoa, chủ tọa những buổi thảo luận về kinh về thiền, về Đại nội làm lễ trao tâm giới Bồ Tát tại gia cho vương công và bách quan. Phật hoàng Nhân Tông cũng đích thân giảng một số buổi, đặc biệt buổi giảng tại chùa Sùng Nghiêm núi Chí Linh, là một buổi giảng rất điển hình, nhiều vấn đề quan trọng được nêu lên rất đáng chú ý. Thánh đăng ngữ lụcghi lại trọn vẹn bốn cuộc vấn đáp hôm đó.
Cuộc thứ nhất, một nhà sư hỏi về Phật, Pháp, Tăng, con đường hướng thượng, giáo ngoại biệt truyền. Vị sư thứ hai hỏi về công tu tập, “tính thấy” của Như Lai, gia phong của Phật tam thế, gia phong của hòa thượng và bản thể thanh tịnh. Vị tăng thứ ba hỏi về “đàm huyền thuyết diệu” và “bản lai diện mục”. Vị tăng thứ tư hỏi về tướng tốt của Phật, Phật pháp, Phật tính, cuối cùng là khái niệm có và không. Trong tất cả lời đáp cho mấy vấn đề nêu trên đều không thấy ghi các câu giải đáp, định nghĩa cụ thể. Phật hoàng Nhân Tông áp dụng cách giảng thuyết đối thoại Thiền, làm thế nào để kích thích, thúc đẩy tư duy của những người tu học, khiến họ đạt đến độ bừng sáng trí tuệ và tự tìm được câu trả lời. Trong cách thức và cả quá trình thuyết giảng, truyền dạy ấy, Phật hoàng đặc biệt chú ý nhấn mạnh việc không theo đường mòn, không đồ theo nét vẽ của người trước, phải tự mình tư duy, lý giải để tìm cái mới, “liễu ngộ”. (Bởi nhận thức là vấn đề của mỗi cá nhân và có cả một qúa trình.) Trong buổi giảng, có đến 4 lần Người nhắc điều đó:
      Hỏi: – Thế nào là Phật?
      Đáp:    – “Chấp nhận như xưa là không đúng”; 
      Hỏi: Thế nào là Pháp:
      Lại đáp: – “Chấp nhận như xưa là không đúng”;
      Hỏi:     – Dùng công án cũ mà làm gì?
      Thì đáp: – “Mỗi lần nêu ra là một lần mới”;
      Đến câu hỏi về “chân dung đích thực”: – Bản lai diện mục là gì?
      Thì chỉ hỏi lại: – “Hiểu không?”
      Người đặt câu hỏi bị dồn vào chỗ bí, hoang mang, mất hết cả “sự hoạt bát tinh ranh như con chồn hoang” khi trước, đến nỗi gần như “vô thức” lặp lại “lời hét” của thày, rồi không còn cách gì chỉ đành “vái lạy” hoặc thú nhận “Không hiểu” và ra về dường như “tay không”. Nhưng chính trong trạng thái đó, người học lại được kích thích, thúc giục tính tự giác để trăn trở tư duy, bức bách đến “bùng nổ giác ngộ” “chợt hiểu”. Nhiều người học Thiền đã liễu ngộ được trong cách dạy và học này. Không rõ có bao nhiêu học trò Nhân Tông Điều Ngự được “đắc pháp”, nhưng Pháp Loa là một trong số đó(7). Và như để bổ trợ cho việc tìm ra cái mới, Điều Ngự đã gợi ý bằng những câu thơ rất giàu hình ảnh, giàu chất thơ. Ví như hỏi “vì sao cái bản thể thanh tịnh bỗng dưng lại sinh ra sơn hà đại địa”, thì được trả lời: “Tựa như thuyền chài ra bể”; lại hỏi ý nghĩa của hình tượng đó, thì được trả lời: “Ai biết được nơi khói sóng xa xôi lại có việc đáng bàn luận”. Hỏi về gia phong của Phật Quá Khứ thì đáp:
                              Vườn rừng vắng vẻ không người chăm sóc,
                              Mận trắng đào hồng vẫn  tự nở hoa.
      Hỏi về gia phong của Phật Hiện Tại thì:
                              Nước bạc mênh mông chim én lạc,
                              Vườn tiên đào thắm gió xuân say.
      Còn gia phong của Phật Vị Lai thì:
                              Bãi biển đợi triều trăng sắp mọc,
                              Thôn chài nghe sáo khách tư gia. ..
     Riêng về quan niệm “có, không” là được Điều Ngự giảng kỹ, nhằm giúp cho người học thông suốt được “bất nhị pháp môn”, không mắc kẹt vào ngôn ngữ, khái niệm, dù có đọc bao nhiêu kinh sách đi nữa. (Đó là một quan niệm minh triết, bởi khái niệm, quả thực không dung chứa được toàn vẹn thực thể, bao giờ trong cách hiểu cũng có dấu ấn của nhận thức, phong khí thời đại). Điều Ngự có đến 9 đoạn giảng về “câu có câu không”. Hai khái niệm đó, nếu bám víu vào câu chữ thì rất bối rối, không có cách gì gỡ ra để đến với “diện mạo chân thật” (bản lai diện mục) của nó, cho nên chung quy lại là “Cắt đứt sắn bìm / Đó đây vui vẻ”.
      “Cắt đứt sắn bìm”, đó chính là ý chỉ, là phương pháp luận mà Điều Ngự muốn truyền thụ cho mọi người trên con đường tu tập để đạt tới sự giác ngộ. Và Điều Ngự kết thúc buổi giảng ở vấn đề đó.  
      Nhưng có lẽ vấn đề Nhân Tông Điều Ngự quan tâm nhất vẫn là đem đến cho người tu hành, người dân Đại Việt thời ấy, một quan niệm “sống giữa cuộc đời thường mà vui đạo” (Cư trần lạc đạo) và một thái độ rất phóng khoáng: “tùy duyên”. Có lẽ ở điểm này Trần Nhân Tông vừa có điểm kế thừa vừa khác ông nội của mình. Trong hoàn cảnh của Đại Việt, luôn luôn phải đối phó, đương đầu với nước láng giềng mạnh, tham tâm, tất cả các vua Trần, hoàng tộc nhà Trần đều đã coi “thiên hạ là công”, biết đặt lợi ích, sự sống còn của non sông xã tắc, của dân chúng lên trước hết. Cho nên khi đã ở ngôi nhân chủ thì đều “lấy ý muốn của dân làm ý muốn của mình”. Dân mong muốn sau khi đuổi xong giặc ngoại xâm, đất nước phải được thái bình, an lạc -  điều đó có nghĩa là đời sống được ấm no, thôn xóm bình yên, cha mẹ con cái, xóm giềng, trên dưới hòa thuận, sống trong tình nhân ái. Giáo sư Đặng Thai Mai cho rằng “Con người thời đại này là con người biết sống một đời sống tích cực, vui vẻ, một đời sống cởi mở và phong phú rộng rãi, sâu sắc”. (Mấy điều tâm đắc về một thời đại văn học)(8). Có lẽ chính trong điều kiện đất nước, nhân dân như vậy, Trần Nhân Tông đã không nhấn mạnh phương pháp tu hành khổ hạnh, cầu nguyện, sám hối. Đạo Phật đem đến cho người ta những cơ sở “lý thuyết” để góp phần tạo nên cuộc sống an lạc, hỷ xả. Phật hoàng Nhân Tông khai thác phương diện đó, chú trọng xây dựng Thiền phái Trúc Lâm với tông chỉ “vui đạo giữa đời thường”, tùy theo nhân duyên gặp gỡ của mỗi người và nhấn mạnh sự giác ngộ về nhận thức, về phương pháp tư duy. Nếu để ý một chút thì có thể thấy trong các Hội giảng cho hoàng tộc, các quan chức trong triều, các nhà sư đã tu hành nhiều năm tháng, nghĩa là những người am hiểu chữ nghĩa, hay nói như Lê Mạnh Thát “những người trong cuộc”,(9) Phật hoàng Nhân Tông đã dùng những câu, bài kệ bằng chữ Hán, giảng giải các vấn đề cao sâu hơn. Cả những bài thơ viết cho riêng mình được gợi mở từ cảm hứng Thiền cũng gửi gắm nhiều suy tư thâm trầm, có khi đem đến cảm giác cô đơn, diệu vợi. Nhưng trong hai tác phẩm viết trực tiếp bằng tiếng Việt, Điều Ngự chỉ đề cập đến những vấn đề cơ bản nhất, nhưng với cách nói rất giản dị và chú ý khích lệ niềm vui tu đạo. Đó là mỗi người đều tự có “tính sáng” thanh tịnh – tính Phật; người ta chỉ cần nhận biết và giữ gìn “tính sáng” ấy của mình ắt là đạt đạo “thành Phật”. Ở bài thứ nhất, Cư trần lạc đạo, nói với những người bình thường, những người đang sống cuộc đời trần tục mà muốn học đạo, Nhân Tông Điều Ngự năm lần nhắc đến sự “bình đẳng” về bản chất giữa chúng sinh, đó là “tính sáng” – “yêu tính sáng”, “gìn tính sáng” (2 lần), “Di Đà là tính sáng”, “tính sáng chẳng tham” và chia làm 10 Hội (tiết) để hướng dẫn những bước tu tập. Yêu cầu quan trọng nhất đối với việc tu tập là biết “niềm dừng”, “nén niềm vọng” để đạt tới “vô tâm”. Và như thế sẽ “rồi (tiêu tan hết, không còn) mọi hoặc (mọi lầm lẫn, mê hoặc)”, không còn tham sân si, không còn phân biệt “bỉ ngã”, sẽ “được an nhàn thể tính”, “tự tại thân tâm”. Tất nhiên để đạt tới sự giác ngộ, người tu đạo không thể lười nhác mà phải đọcDịch, đọc Kinh đọc lục, noi gương các bậc tiền bối, nhưng với tinh thần ham thích, tự giác chủ động và “tùy duyên” theo điều kiện hoàn cảnh của mình, không phải nhọc công “tìm Phật tổ Đông Tây”, “cầu Thiền Nam Bắc”, cũng không cần phải đến non xa núi thẳm “am sạn Non Đông” tìm thày học đạo, luyện thuốc trường sinh … để mong “thành Phật”, thành tiên, sống lâu. Bởi “Chỉn Bụt là lòng”, “Bụt ở cong (từ cổ, tức là trong) nhà; Chẳng phải tìm xa. Nhân khuây bổn nên ta tìm Bụt; Đến cốc hay (cốc, hay tức là biết) chỉn Bụt là ta”. Nhân Tông Điều Ngự cũng không bàn đến chuyện sống chết, không khuyên nhủ, bày cách cho người tu đạo đối mặt với bốn quả núi “sinh lão bệnh tử” cheo leo nhiều đau khổ như thế nào, có lẽ với Điều Ngự, khi con người đã vui vẻ nhận thức được “Bụt là ta” thì mọi tướng, mọi duyên không còn là vấn đề quan trọng nữa…
      Kết thúc bài phú, Nhân Tông tóm tắt ý chính yếu thảnh một bài kệ:
                                                
                                                
                                                
                                                 
                              Cư trần lạc đạo thả tùy duyên,
                              Cơ tắc xan hề, khốn tắc miên.
                              Gia trung hữu bảo vô tầm mịch,
                              Đối cảnh vô tâm mạc vấn Thiền.
                              (Ở đời vui đạo, hãy tùy duyên,
                              Đói cứ ăn ngay, mệt ngủ liền.
                              Của báu trong nhà, đừng nhọc kiếm,
                              Vô tâm trước cảnh, hỏi chi thiền)
      Trong bài kệ, Điều Ngự tổng kết thành bốn ý quan trọng trong hành trình tu đạo: vui đạo, tùy duyên, đói ăn mệt ngủ (thuận theo quy luật tự nhiên, nhu cầu sinh học tự nhiên), trong mỗi người sẵn có vật quý (tính sáng) không cần (vất vả) tìm kiếm (ở ngoài), kinh sách tu tập chỉ là phương tiện giúp người ta đạt đến sự giác ngộ – “vô tâm”.
      Nhân Tông có niềm tin sâu sắc vào những con người bình thường., với cương vị người sáng lập, lãnh đạo tông phái, Điều Ngự tin mọi con người bình thường vẫn có thể “vui đạo”, trong khi không xao lãng trách nhiệm con dân: “Sạch giới lòng, chùi giới tướng, nội ngoại nên Bồ Tát trang nghiêm; Ngay thờ chúa, thảo thờ cha, đi đỗ mới trượng phu trung hiếu.” Đạo Phật, đặc biệt là Thiền, vốn cũng có một đặc sắc là mang tính lạc quan, không nghiệt ngã, ưu tư đau khổ, không thuyết phục người ta đọa đầy thân xác, hy sinh thân thích để mong chờ hạnh phúc ở một thế giới khác, nhưng Nhân Tông Điều Ngự nâng cao lên một mức “sống trong cõi đời trần tục mà vui đạo”, thì điều đó có thể xem là một nét nhấn của riêng Người. Cũng bởi vậy, hai tác phẩm phổ cập cho người dân Đại Việt về đạo của vị Tổ thứ nhất Thiền phái Trúc Lâm – Điều Ngự – đều là những áng văn chương nói lên, chia sẻ niềm “lạc, thú”. Riêng tác phẩm thứ hai là một khúc ca, vang tiếng cười về “cái được” – được thú nơi suối rừng: “Đắc ý cong lòng, Cười riêng ha hả”. Tiếng cười thật là sảng khoái, dung dị, dân dã, rất tự nhiên! Khác với những người “mình ngồi thành thị”, những người “Khuất tịch non cao, náu mình sơn dã” không còn bị sự giàu sang, lợi lộc cám dỗ, đua chen cạnh tranh, được sống chan hòa với thiên nhiên, có vượn hủ hỉ làm bạn, hàng ngày chỉ có việc quét hoa rụng, thắp hương cúng Bụt, niệm kinh cầu Bụt, nhưng điều quan trọng vẫn là phải giữ được “niềm lòng vặc vặc, giác tính quang quang”, nhận biết thân mình là huyễn ảo, “vạn vật giai không”, cho nên cuộc sống rừng núi dù khó khăn, “bữa đói bữa no”, thậm chí thịt xương mình có khi phải cắt chia cho chim cho cá, cũng không át cái thú lâm tuyền của một người đạt đạo:
                                                
                                                
                                                
                                                
                              Cảnh tịch an cư tự tại tâm,
                              Lương phong xuy đệ nhập tùng lâm.
                              Thiền sàng thụ hạ nhất kinh quyển,
                              Lưỡng tự thanh nhàn thắng vạn câm (kim).
                              (Sống yên, cảnh vắng, lặng lòng không,
                              Gió mát hiu hiu lọt rặng tùng.
                              Dưới cội, giường Thiền, kinh một quyển,
                              Thanh nhàn hai chữ, đáng muôn đồng).
      Thú lâm tuyền thật là êm ả, thanh nhàn mà ấm áp, không gợi cảm giác xa vắng.    
       Nhân Tông Điều Ngự đã nêu lên hai mẫu hình vui đạt đạo. Hai kiểu mẫu ấy có thật hấp dẫn hay không, có đủ sức đánh đuổi những “tham sân si” khỏi mỗi người hay không, ngày nay khó nói được chính xác, nhưng chắc chắn rằng đó là hai mẫu hình con người minh triết biết sống thanh thản, nhẹ nhàng mà “tử tế”, những con người thỏa mãn được nhu cầu về tâm linh nhưng cũng không quay lưng lại với nghĩa vụ trần thế. Thánh đăng ngữ lục còn ghi rằng cũng trong năm Giáp Thìn (1304), “Điều Ngự đi khắp xóm làng, dạy dân chúng phá bỏ các đền thờ nhảm nhí và thực hành mười điều thiện”. Làm điều thiện với trí tuệ sáng láng, không mê muội, đó là ý tưởng của Phật hoàng. Phật hoàng Trần Nhân Tông đã đặt những cơ sở tư tưởng để xây dựng nhân cách người dân đời Trần và xây dựng phong cách văn hóa thấm đẫm tinh thần nhân văn đời Trần.
      Theo nhà nghiên cứu Thiền học Lê Mạnh Thát thì Thiền nước ta,  “phát triển theo một hướng hoàn toàn khác”, nhằm giải quyết một vấn đề tư tưởng, đã được nêu ra từ thế kỷ thứ V, đó là tại sao tu mà không thấy Phật? Để trả lời, Thiền Việt Nam đã đưa ra một quan niệm về Phật: “Phật không phải là một đức Phật lịch sử, càng không phải là một đức Phật nằm ngoài ta. Phật nằm ngay chính trong ta. Vì thế, tu là thể hiện đức Phật này, là tìm thấy ở trong chính mình. Xuất phát từ một khởi điểm như vậy, Thiền Việt Nam trong quá trình phát triển tất phải chịu tác động của yêu cầu thực tế Việt Nam. Nếu trong quá trính phát triển ấy, ở nơi này nơi khác có những nét tương đồng với những truyền thống khác, thì chúng cũng chỉ thể hiện tính phổ quát, tính nhân loại mà thôi.(10)  
      Cố Giáo sư Cao Xuân Huy khi dạy ở Lớp Đại học Hán học của Viện Văn học (Khóa 1965 – 1968) từng giảng rằng tư tưởng Thiền đời Trần mang tinh thần cách mạng, chính nó góp phần làm nên những chiến công hiển hách đời Trần và góp phần tạo dựng nền văn hóa rất giàu tính sử thi và tính nhân văn của thời đại.         
      Ý kiến của hai học giả thâm hậu về Thiền học đã dẫn, rất đáng tin cậy. Đúng là Thiền thời đại Lý – Trần là công sức tạo dựng của dân tộc nhiều thế kỷ, (có thể từ thế kỷ thứ V hoặc sớm hơn, như ý kiến Lê Mạnh Thát), nhưng Thiến phái Trúc Lâm là sáng tạo của Trần Nhân Tông. Quả là trong Thiền Trần Nhân Tông “ở nơi này nơi khác có những nét tương đồng với những truyền thống khác” nhưng vẫn phải công nhận Thiền Trúc Lâm Việt Nam là đóng góp riêng của vị Tổ thứ nhất đời Trần. Chẳng hạn cũng có quát thét, thơ kệ “chẳng ăn nhập gì” với câu hỏi, nhưng không “chém mèo”, “khua chó”, “giơ phất trần”, đánh người đến chảy máu, mà gợi ra một cánh chim bằng vút lên trong gió, một mặt biển mênh mang với những con sóng thủy triều, một làng chài, một vườn đào tươi hoa, nhất là những câu giảng giải giản dị bằng chính tiếng mẹ đẻ … thì gần gũi, dễ dàng biết bao đối với những người bình thường muốn học đạo – hướng thiện. Người ta thấy các tông phái Thiền đều có “chốn tổ”, nhưng “phúc địa” Yên Tử không phải “của riêng” một tông phái, nó là của cả nước, của cả dân tộc. Yên Tử không phải là nơi các bậc cao tăng, khi không thèm nói chuyện với kẻ phàm tục thì quay lưng trở gót tìm đến mà là một quê hương để các Phật Tử nếu chưa một lần được trở về thì “chưa đành lòng tu”. Thiền vốn lạc quan, phá chấp, nhưng Điều Ngự không “khác lạ” đến mức gây ngạc nhiên cho những người dân bình thường như một vị đại sư có tên là Đắc Tâm của Trung Quốc, một lúc nuốt luôn đến mấy quả trứng gà rồi giải thích với một vẻ rất “bất cần”:
                                                
                                                
                                              西  
                                                
                              Hỗn độn càn khôn nhất khẩu bao,
                              Dã vô bì huyết dã vô mao,
                              Lão tăng đới nhĩ Tây phương khứ,
                              Miễn tại nhân gian thụ nhất đao.
                              (Lẫn lộn đất trời trong một bao,
                              Không xương, không huyết, da lông đâu?
                              Lão tăng đem nó đi Tây Trúc,
                              Để tránh, trần gian, một nhát dao).
      Thế nhưng một tiếng cười ha hả sảng khoái giữa núi rừng biểu hiện niệm vui đạt đạo “đắc ý cong lòng” như Điều Ngự lại là một điều hiếm thấy trong làng Thiền…
      Nếu nói rằng Thiền Việt Nam ra đời trên cơ sở thực tiễn Việt Nam thì tư tưởng Thiền Trần Nhân Tông cũng như thế, ra đời trên thực tiễn xã hội đời Trần. Dân tộc Đại Việt đã trải qua ba cuộc chiến chống xâm lăng trong vòng ba mươi năm (1258 – 1288), Cần phải hàn gắn những vết thương chiến tranh, cả những vết thương tinh thần, xây dựng một nền thái bình thịnh trị cho đất nước và nỗ lực giữ gìn nó như Trần Quang Khải đã nói “Thái bình tu nỗ lực”. Xây dựng một xã hội đạo đức, nhân văn, luật lệ ổn định, tôn giáo có thể góp phần làm điều đó. Nhưng thông thường tôn giáo cũng có có thể khiến con người tổn thương vì những giới luật, lễ nghi khắt khe, hoặc sự mặc cảm “tội lỗi tổ tông”. Thiền Trúc Lâm không thế, Điều Ngự dạy cho người dân Đại Việt một lối sống vui, lành mạnh, an lạc giữa cõi đời trần tục. Phải chăng điều đó cũng xuất phát từ chính tấm lòng yêu thương con người, tấm lòng thương dân, thân dân, “lấy ý nguyện của dân làm ý nguyện của mình” thừa hưởng được từ ông nội, và một cách làm có phần khác ông nội của Phật hoàng Nhân Tông? Dung dị, khoáng đạt, an lạc giữa đời thường và tùy duyênchính là điểm nhấn riêng của tư tưởng Thiền Trần Nhân Tông.
            3. Một tâm hồn thơ nhạy cảm và những vần thơ mang vẻ đẹp của “cái đạm”.
            Nhân Tông là một con người đa dạng. Trong ông có bản lĩnh quả quyết, vững vàng của một nhà quân sự, có cái sắc bén, bình tĩnh ung dung của một nhà chính trị, ngoại giao, có sự sâu sắc thâm trầm của một nhà Thiền học và quán xuyến tất cả là lòng nhân ái, hồn hậu, yêu nước nồng nàn … của con người Việt Nam cùng với một tâm hồn thơ giàu cảm xúc, tinh tế. Nhân Tông trước tác nhiều, nhưng phần lớn đã mất. Do vậy trong trước tác còn lại, Nhân Tông hiện ra chủ yếu với tư cách nhà thơ mà là thơ trữ tình, ngay cả những lời giảng đạo của ông cũng đậm chất trữ tình. Ông dành nhiều tình cảm cho cảnh sắc thiên nhiên, trong đó có một phần cho Yên Tử. Ông ít trực tiếp nhắc đến địa danh Yên Tử, dù vậy có một mảng thơ văn của ông gắn bó và mang khí vị hùng vĩ, hoang sơ của rừng núi nơi này. Ông từng ngồi nghe gió thổi ngọn tùng mà nghĩ đến giá trị của nhữ “nhàn”:
                                                Cảnh tịch an cư tự tại tâm,
                                                Lương phong xuy đệ nhập tùng lâm.
                                                Thiền sàng thụ hạ nhất kinh quyển,
                                                Lưỡng tự thanh nhàn thắng vạn câm (kim).
                                                (Cảnh vắng nơi yên tự tại lòng.
                                                Hiu hiu gió thổi mát rừng thông.
                                                Giường thiền dưới cội, kinh vài quyển,
                                                Hai chữ thanh nhàn đáng vạn đồng.)
                                                                        Đắc thú lâm tuyền thành đạo ca
(Bản dịch cũ)
            Ông cũng từng một mình “đối cảnh” trong một đêm trăng mênh mang trên núi Bảo Đài, một ngọn của dãy Yên Tử :
                                                Địa tịch đài du cổ,
                                                Thời lai xuân vị thâm.
                                                Vân sơn tương viễn cận,
                                                Hoa kính bán tình âm.
                                                Vạn sự thuỷ lưu thuỷ,
                                                Bách niên tâm ngữ tâm.
                                                Ỷ lan hoành ngọc địch,
                                                Minh nguyệt mãn hung khâm.
                                                (Đất vắng đền đài thêm cổ xưa,
                                                Xuân sang, vừa đó mới theo mùa.
                                                Gần, xa thấp thoáng mây lồng núi,
                                                Nắng, rợp mơ hồ một ngõ hoa.
                                                Nước đẩy nước trôi, đời vạn sự,
                                                Tâm nghe lòng nhủ, một mình ta.
                                                Nâng ngang ống sáo bên thềm vắng,
                                                Đầy ngực trăng thanh tỏa ánh ngà.)
                                                                                       (Đăng Bảo Đài sơn )
            Và có lẽ nào không có bóng dáng cảnh quan Yên Tử trong những câu thuyết pháp sau đây :
                                                – Cánh bằng cao vút nương tầm gió,
                                                Sóng biển êm đềm sáng ngọc trai
                                                – Nước trắng mênh mông chim én lạc,
                                                Vườn tiên đào thắm gió xuân say.
            Lại nữa, cũng từ một phòng nhỏ trên núi – Sơn phòng – rút cuộc Nhân Tông đã “liễu ngộ”, đã tìm ra chân lý:
                                                Thuỳ phược cánh tương cầu giải thoát,
                                                Bất phàm hà tất mịch thần tiên.
                                                (Ai trói phải tìm phương giải thoát,
                                                Chẳng phàm hà tất học thần tiên!)
                                                                        (Sơn phòng mạn hứng)
            Hẳn đây cũng là một điều có ý nghĩa mà Nhân Tông đã tìm ra trong những ngày ở Yên Tử, những ngày “dốc lòng” nghiên cứu đạo Thiền. Song  dù vậy, Nhân Tông cũng không chỉ là con người của đạo. Tâm hồn nhạy cảm của ông còn dành cho nhiều sự việc khác. Có biết bao nhà thơ phương Đông làm thơ về hoa mai, nhưng Nhân Tông vẫn đến với hoa mai bằng những rung cảm riêng vừa thâm  trầm tinh tế, vừa sắc sảo nồng nàn:
                                                Ngũ xuất viên ba kim niễn tu,
                                                San hô trầm ảnh hải lân phù.
                                                Cá tam đông bạch chi tiền diện,
                                                Tá nhất biện hương xuân thượng đầu.
                                                Cam lộ lưu phương si điệp tỉnh,
                                                Dạ quang như thuỷ khát cầm sầu.
                                                Hằng Nga nhược thức hoa giai vị,
                                                Quế lãnh thiềm hàn chỉ má hưu.
                                                (Năm cánh hoa tròn nhị điểm vàng,
                                                San hô, vẩy bạc vẻ vẻ tân trang.
                                                Ba đông san sát cành khoe trắng,
                                                Một thoáng xuân về đã rụng quang.
                                                Móc ngọt chảy thơm tan giấc bướm,
                                                Trăng đêm loáng nước khát chim rừng.
                                                Hằng Nga ví biết hoa mai đẹp,
                                                Đâu tiếc cung Thiềm lạnh quế hương.)
                                   
                                                Ngũ nhật kinh hàn lãn xuất môn,
                                                Đông phong tiên dĩ đáo cô côn (căn).
                                                Ảnh hoành thuỷ diện băng sơ phán,
                                                Hoa áp chi đầu noãn vị phân.
                                                Thuý vũ ca trầm sơn điếm nguyệt,
                                                Hoạ long xuy thấp Ngọc Quan vân.
                                                Nhất chi mê nhập cố nhân mộng,
                                                Giác hậu bất kham trì tặng quân.
   (Mấy ngày ngại rét lười ra cửa, 
Gió ấm đang về bên gốc mai.
                                                Bóng ngả trên sông băng mới rạn,
                                                Đầu cành e ấp vẻ xuân tươi.
                                                Hoạ long, sáo ướt mây quan ải,
                                                Thuý vũ, ca chìm trăng xóm đồi.
                                                Tỉnh giấc bâng khuâng lòng bạn cũ,
                                                Khôn đem hoa mộng tặng đưa ai.)
            Trong truyền thống thơ phương Đông người ta thường khai thác ở cây mai vẻ cứng rắn, bất chấp gió sương, song Trần Nhân Tông chỉ cực tả vẻ đẹp bản nhiên của những cánh hoa mai mỏng mảnh, một vẻ đẹp tinh khiết mà linh động, hấp dẫn: cánh trắng điểm nhị vàng, óng ánh như bóng san hô chìm, như vẩy cá nổi; khi nở rộ thì trắng vườn, toả hương thơm dịu ngọt, khi hết mùa còn lại vài bông thì e ấp nép đầu cành … Những bông hoa mai rất thực nhưng dường như lại ảo. Suốt tháng cuối đông hoa khoe sắc, thu hút cảm giác vạn vật, thách thức cả cây quế cung Thiềm; thế mà chỉ qua vài hôm, mùa xuân chợt đến là màu trắng rạng rỡ ấy đã tan biến đi như một phép lạ.
Những đoá hoa mai của Nhân Tông gần gũi và xa vời biết bao! Hương thơm của hoa làm con bướm si mê phải giật mình tỉnh giấc, sắc hoa quyện ánh trăng loang loáng như nước làm cho con chim đang khát cháy cổ thêm buồn rầu; cành mai tươi mỏng mảnh rơi vào giấc mộng cố nhân khiến cho người tỉnh giấc càng bâng khuâng vì hoa chỉ là hoa trong mộng. Trần Nhân Tông thực đã viết những vần thơ độc đáo và tinh tế về hoa mai khiến cho những người bình thơ đến như phải bất lực. Các nhà am hiểu Thiền học có thể khen Tảo mai là bài thơ Thiền đặc sắc. Bởi lẽ ở đây “cái sắc” và “cái không” hoà quyện vào nhau bao nhiêu thì cái ham muốn và cái được nhận lại cách xa nhau bấy nhiêu. Dường như bài thơ là một lời chỉ dẫn cho đệ tử “cái vô thường” của vạn vật để từ đó biết hạn chế những dục vọng trong cuộc đời! Thế nhưng nếu bằng những cảm xúc thế tục, người đọc càng không thể không nhận ra vẻ vi diệu của những vần thơ này và cũng như tác giả vừa xúc động, vừa bâng khuâng trước vẻ đẹp của những nhành mai sớm ấy. Phải nói rằng những cành hoa mai Yên Tử này (có thể tin đây là mai Yên Tử vì đằng sau những cành mai không thấy bóng dáng một toà lâu các, một cánh rèm hoa hay những khách công hầu, những trang mỹ nữ mà chỉ có mây quan ải, trăng xóm đồi, băng trên sông và tấm lòng bạn cũ) cũng rất tình tứ và thế tục.      
Nhà thơ, nhà lý luận văn học nổi tiếng đời Thanh Viên Mai (1716-1798) của Trung Quốc sống sau Nhân Tông gần năm trăm năm cũng có hai câu thơ về hoa mai cấu tứ giống như thơ của Nhân Tông:
                              Chỉ liên hương tuyết mai thiên thụ,
                              Bất đắc tuỳ thân đới thượng thuyền.
                              (Tiếc thay thơm tuyết mai nghìn gốc,
                              Chẳng thể mang theo cùng xuống thuyền).(11)
Nhưng câu thơ của Trần Nhân Tông gợi cảm hơn, bởi ở Trần Nhân Tông cái tình sâu hơn do xuyên suốt cả quá khứ và hiện tại, do tính huyễn ảo giữa mộng và thực tạo nên tính bất khả thi cao hơn, và có thể còn vì đậm ý vị thiền. 
            Về bút pháp tinh tế của Trần Nhân Tông còn có thể kể đến các bài Vũ Lâm thu vãn, Lạng Châu vãn cảnh. Có điều cảnh cuối thu ở Vũ Lâm thì màu sắc và hình ảnh đều đậm và tươi. Chúng đối lập nhau để bồi thấn cho nhau khiến cảnh vật đang lặng lẽ trở nên linh hoạt, vui mắt:
                                                Hoạ kiều đảo ảnh trám khê hoành,
                                                Nhất mạt tà dương thuỷ ngoại minh.
                                                Tịch tịch thiên sơn hồng diệp lạc,
                                                Thấp vân như mộng viễn chung thanh.
                                                (Lòng khe in ngược bóng cầu hoa,
                                                Hắt sáng bờ khe, vệt nắng tà.
                                                Lặng lẽ nghìn non, rơi lá đỏ,
                                                Mây giăng như mộng tiếng chuông xa.)
                                                                                                Chiều thu ở Vũ Lâm 
            Trái lại cảnh chiều Châu Lạng lại rất tĩnh, các sắc màu như hoà vào nhau: lá đỏ, mây chiều, thuyền câu, chuông chùa … tất cả đều như chìm vào cảnh rừng thu sương móc mênh mang cùng ngôi chùa cổ hoang vắng:
                                                Cổ tự thê lương thu ái ngoại,
                                                Ngư thuyền tiêu sắt mộ chung sơ.
                                                Thuỷ minh, sơn tĩnh, bạch âu quá,
                                                Phong định, vân nhàn, hồng thụ sơ.
                                                (Chùa xưa lặng lẽ khói thu mờ,
                                                Chiều quạnh thuyền câu, chuông vẳng đưa,
                                                Núi lặng, nước quang, âu trắng rỡn,
                                                Tạnh mây, im gió, đỏ cây thưa.)
                                      Lạng Châu vãn cảnh
                                                (Trần Lê Văn dịch)
            Trần Nhân Tông đã đi hầu khắp đất nước. Trước khi đến với Yên Tử ông đã sống cuộc đời sôi động và vương giả. Trong thơ ông còn dấu ấn của những chặng đường đời ấy. Có những vần thơ hào hùng về những ngày đuổi giặc; có vần thơ đắc chí khi về thăm mộ ông nội  -  vua Trần Thái Tông – thấy thị vệ nghiêm túc, lòng người gắn bó với vương triều:
                                                Tì hổ thiên môn túc,
                                                Y quan thất phẩm thông.
                                                Bạch đầu quân sĩ tại,
                                                Vãng vãng thuyết Nguyên Phong.
                                                (Giáo đòng nghìn cửa mật,
                                                Áo mũ, bảy phẩm chung.
                                                Người lính già đầu bạc,
                                                Kể mãi chuyện Nguyên Phong.)
                                                                        Xuân nhật yết Chiêu Lăng.
            Nhân Tông còn có những vần thơ về quãng thời gian ở trong cung, khi ông còn là bậc chúa tể, “lòng còn ở trong trăm hoa mỗi khi xuân đến” (Nhất xuân tâm tại bách hoa trung). Đó là những vần thơ tươi trẻ, thể hiện trạng thái xốn xang bất ngờ nhận ra mùa xuân đã đến nhân chợt thấy cánh bướm quyến luyến bên hoa:      Thuỵ khởi khải song phi,
                                                Bất tri xuân dĩ quy.
Nhất song bạch hồ điệp,
                                                Phách phách sấn hoa phi.
                                                (Ngủ dậy ngỏ song mây,
                                                Xuân về vẫn chửa hay.
                                                Một đôi bươm bướm trắng,
                                                Phấp phới sấn hoa bay.)
                                                            Xuân hiểu – Nguyễn Đức Vân dịch          
            Bài thơ diễn tả niềm vui, song đối với tác giả dường như giây phút ấy không nhiều. Phải chăng ông bận, có nhiều việc phải quan tâm, đến nỗi quên cả bước chân năm tháng, chỉ đến khi cuộc sống của muôn loài đã rộn ràng náo nức ông mới như chợt nhớ ra. Quả là nhà thơ đã lơ đãng, song sự lơ đãng ấy cũng là một nét đẹp trong tính cách Nhân Tông.
            Có thể nói Nhân Tông không phải là một ông vua ham tìm kiếm những cuộc truy hoan. Mặc dù sống giữa ba cung sáu viện, không thiếu gì thú tiêu khiển, không thiếu gì hương sắc nhưng ông vẫn dành cho mình những buổi yên tĩnh nơi viện sách; ở đây sách, đèn, người và trăng như chiếm lĩnh cả không gian và thời gian:
                                                Bán song đăng ảnh mãn sàng thư,
                                                Lộ trích thu đình dạ khí hư.
                                                Thuỵ khởi châm thanh vô mịch xứ,
                                                Mộc tê hoa thượng nguyệt lai sơ.
                                                (Nửa song đèn sáng, sách đầy giường,
                                                Đêm lạnh sân thu khí đẫm sương.
                                                Thức dậy tiếng chầy đâu chẳng biết,
                                                Trên cành hoa quế bóng trăng vương.)
                                                                                            (Nguyệt)
            Bài thơ nói về trăng nhưng Nhân Tông cũng cho ta hiểu thêm một việc làm khác của ông: đọc sách, học hành. Cả ở lĩnh vực này nữa, ông cũng lao động nghiêm túc, miệt mài. Đêm mùa thu lạnh, ông vẫn chong đèn đọc sách đến khuya và chợp mắt trong tư thế làm việc – đèn vẫn sáng – khi tỉnh giấc đêm vẫn còn khuya, cả không gian im ắng, chỉ có mảnh trăng cuối tháng lửng lơ trên đầu cây “mộc tê” … Nếu nói rằng trong thơ có hoạ thì các bài thơ này, Lạng Châu vãn cảnh, Vũ Lâm thu vãn, là những bài đạt đến trình độ ấy. Song không phải thơ trần Nhân Tông chỉ có cỏ cây hoa lá. Ông là nhà thơ đầu tiên thời trung đại nói đến nỗi lòng cung nữ. Những người con gái được tiến cung, trở thành cung nữ, buồn vì sự trống trải, họ oán giận vị đông quân thờ ơ với họ nhưng dù vậy họ vẫn khao khát chờ đợi một chút đoái tưởng của bậc chúa tể:
                                                Thuỵ khởi câu liêm khán truỵ hồng,
                                                Hoàng ly bất ngữ oán đông phong.
                                                Vô đoan lạc nhật tây lâu ngoại,
                                                Hoa ảnh chi đầu tận hướng đông.
                                                (Ngủ dậy xem hoa rụng trước mành,
                                                Giận đông phong, lặng tiếng chim oanh.
                                                Không dưng ác lặn bên lầu vắng,
                                                Cùng ngoảnh về đông, bóng lá cành.)
                                                                                                 (Khuê oán)
            Với hai mươi tám chữ ngắn ngủi, Nhân Tông đã diễn tả khá đầy đủ tâm trạng phức tạp và thầm kín của những người cung nữ. Sự hiểu biết này một lần nữa chứng tỏ tấm lòng nhân ái của ông.
            Cuối cùng xin nói đến cảm xúc tinh tế ấm áp mà đậm cảm quan Thiền của Trần Nhân Tông trong một chiều thanh bình ở phủ Thiên Trường. Không gian thì mơ hồ nhưng cuộc sống thì sinh động và rất thực, nó cho ta cảm giác về một vùng quê an lạc rất đỗi thân quen, song không phải lúc nào cũng có được:
                                                Thôn hậu thôn tiền đạm tự yên,
                                                Bán vô bán hữu tịch dương biên.
                                                Mục đồng địch lý quy ngưu tận,
                                                Bạch lộ song song phi hạ điền.
                                                (Xóm trước, thôn sau tựa khói lồng,
                                                Trời chiều dường có lại dường không.
                                                Mục đồng sáo vẳng trâu về hết,
                                                Cò trắng từng đôi liệng xuống đồng.)
                                                                        Thiên Trường vãn vọng
            Bài thơ như một bức tranh mà nói như Gs. Nguyễn Khắc Phi “dựng lên được một không gian nghệ thuật mang tính lập thể”(12), có xa – thôn làng trong đường viền mờ như khói (trước thôn, sau thôn) dưới ánh chiều tà – và gần – cánh đồng, đàn trẻ trâu đang giong trâu về thong thả trong tiếng sáo; cócao là từng không với những cánh cò trắng bay và thấp là cánh đồng từng đôi cò đang hạ cánh.
Tứ thiền, cảm quan Thiền ở đây là quan niệm về “có – không”; cái “có – không” cảm nhận được từ thị giác, nhưng “có – không” cũng còn được cảm nhận qua ánh nắng chiều, cái khoảng thời gian đang ở biên độ mong manh giữa sáng và tối. Nhưng Thiên Trường là quê hương Trần Nhân Tông, ở đấy có Hành cung Thiên Trường mang tên cung Trùng Quang và một số cung điện khác. Cho nên “Cảnh chiều ở Thiên Trường” là một cảnh quan có thật, đến cả cái vẻ thiền nhất là màu đạm nhoà khói sương của thôn làng cũng rất thật. Bởi lẽ thời điểm bấy giờ đã là chiều tà. Khói chiều, khói chứ không phải sương, bay lên từ những mái tranh rồi lan toả khiến nó trở nên một mảng nhạt mờ viền quanh thôn xóm cũng là cảnh thật; thế rồi trẻ trâu, tiếng sáo, cánh cò và cả nắng chiều mơ hồ cũng đều là cảnh có thật, rất thật. Một làng quê có khói chiều, có trẻ em chăn trâu, buổi chiều giong trâu về trong tiếng sáo, có cánh cò, những đôi cò trằng sóng đôi (mà Gs. Lê Trí Viễn coi là biểu tượng của sự sinh sôi, hạnh phúc) đậu xuống cánh đồng tìm ăn(13) là hình tượng gợi lên sự no ấm thanh bình, là khoảnh khắc và cũng là vĩnh cửu. Bởi lẽ hình ảnh khói lam chiều, tiếng sáo trẻ trâu, cánh cò vẫn còn là những hình tượng đẹp trong thơ mới, trong tiểu thuyết Tự lực văn đoàn đầu thế kỷ XX. Và tiếng sáo trẻ trâu buổi hoàng hôn cũng từng gợi trong Chủ tịch Hồ Chí Minh một tứ thơ vui trong những ngày tù đầy gian khổ trên đất Trung Hoa: Mục đồng xuy địch dẫn ngưu quy (Trẻ dắt trâu về tiếng sáo bay – Hoàng hôn, Nhật ký trong tù). Cảnh chiều ở Thiên Trường quả đúng là một cảnh làng quê thanh bình, an lạc lý tưởng không riêng chỉ của một thời xa xưa. Nhưng mặt khác trong con mắt thơ và Thiền của Trần Nhân Tông cảnh thực đã được thăng hoa, mang ý nghĩa của quan niệm thiền “ở đời vui đạo”. Và cũng bởi lẽ Thiên Trường, Lạng Châu đều là những nơi đã từng bị gót giày xâm lược của quân Nguyên tràn qua, tàn phá; đứng vững và trở lại được cảnh thanh bình hiện hữu mà tác giả được thấy quả là “nhờ phúc tổ tông”, cho nên niềm vui được nhân lên, sự trân trọng cái hạnh phúc hiện hữu được nhân lên, nhưng không hẳn trong niềm vui, hạnh phúc không còn thấp thoáng những dấu vết khổ đau, âu lo, đem lại những cảm xúc, suy tư trái chiều… Đúng như ý kiến của Gs. Nguyễn Khắc Phi: “Thiên Trường vãn vọng là một tuyệt tác, một trong những bài thơ tứ tuyệt Đường luật cô đọng nhất, một trong những bài thơ trữ tình hay nhất của văn học trung đại Việt Nam”.

            Nhân Tông mất ngày 3 tháng Mười một năm Mâụ thân (16. XI. 1308), tại am Ngọa Vân, núi Yên Tử. Nhìn chung lại ông là một con người toàn vẹn. Bỏ qua những hạn chế lịch sử mang tính chất thời đại, có thể thấy Nhân Tông rất có công trong công cuộc dựng nước và giữ nước của dân tộc. Ông rất xứng đáng là người tiêu biểu cho đất nước, dân tộc một thời. Một nhà chính trị, ngoại giao như ông không phải dễ tìm; một vị giáo chủ như ông thật là cao siêu minh triết và một nhà thơ như ông cũng vào loại hiếm. Trong thời thịnh Trần, Nhân Tông là một nhà thơ có phong cách và cũng là một đỉnh cao. Viên Mai, khi bàn về thơ có nói: “Thơ nên đạm không nên nồng nhưng phải là cái đạm sau khi đã nồng”(Tuỳ Viên thi thoại). Nhiều bài thơ của Nhân Tông đã đạt đến vị “đạm” ấy. Có điều ngay cả những bài thơ “nồng” của ông như Xuân Nhật yết Chiêu Lăng, Xuân hiểu,… chắc gì đã thua kém những bài thơ “đạm”. Trần Nhân Tông cũng là người đầu tiên sáng tác phú bằng tiếng Việt mà lại là để thuyết giảng về những vấn đề triết học, về đạo Thiền. Với hai tác phẩm còn lại Đắc thú lâm tuyền thành đạo ca  Cư trần lạc đạo phú, Trần Nhân Tông cũng là người khai sáng ra dòng thơ ca viết bằng tiếng Việt, để đến thế kỷ XV, XVI các đại tác gia Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh … tiếp tục những thành tựu lớn. Nếu mượn câu nhận xét của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng về Nguyễn Trãi: “Nhiều tài hoa như vậy dồn cho một người là điều hiếm có” để suy tôn Trần Nhân Tông hẳn cũng không đến nỗi quá lời. 
Trần Thị Băng Thanh

(1) Ngô Thì Sĩ , Việt sử tiêu án, Nhân Tông hoàng đế.
(2) Đại Việt sử ký toàn thư, Bản kỷ, quyển V
(3) Việt sử tiêu án, sách đã dẫn
(4) Tương truyền Tấn Văn Công trong những ngày gian khổ mưu cầu sự nghiệp bá vương, có lúc bị đói, Giới Chi Thôi đã cắt thịt đùi mình dâng ông ăn. Sau khi thành công, khen thưởng, Tấn văn Công quên Giới Tử Thôi, Giới hận bỏ vào núi ở ẩn, sau Văn Công nhớ ra triệu vời nhưng Giới không đến; Văn Công sai đốt rừng, Giới Tử Thôi đành chịu chết cháy chứ nhất định không ra. Tấn Văn Công hối hận, từ đó sai lệnh cấm lửa trong ngày này (mồng 3 thấng 3) để tưởng nhớ người bề tôi trung thành mà ông vì vô tâm đã bỏ quên.
Người lính dâng cơm hẩm cho vua Nhân Tông tên là Trần Lai. Những sự việc này đều được chép trong Đại Việt sử ký toàn thư, Quyển V, vào các năm 1284, 1292.
(5) An Nam chí lược, Q.III, bản dịch. Tài liệu tham khảo, Thư viện Viện Văn học.
(6) ) An Nam chí lược, Q.XVII, Sách đã dẫn.
(7) Cũng theo Thánh đăng ngữ lục, một lần Pháp Loa trình Điều Ngự ba bài tụng cốt yếu, đều bị Điều Ngự  “lấy bút gạch bỏ”, Pháp Loa hỏi đi hỏi lại đến 4, 5 lần, Điều Ngự đều bảo “tự tham cứu lấy”. Trở về phòng lòng rất xao xuyến, cho tới nửa đêm, chợt thấy hoa đèn rụng, “bỗng nhiên đại ngộ”, bèn viết những điều đã tỏ ngộ trìn lên, liền được Điều Ngự hài lòng ấn chứng
(7) Thơ văn Lý Trần, Tập II, Q. thượng; Nxb. Khoa học xã hội, 1989
(9) Toàn tập Trần Nhân Tông, Nxb. TP. Hồ Chí Minh, 2000, đoạn bàn về buổi giảng tại chùa Sùng Nghiêm vào cuối năm Giáp Thìn (1304), tr.216.
(10) Toàn tập Trần Nhân Tông, Sđd, tr. 217
(11) Những ý kiến về Viên Mai trích trong bài đều theo Tuỳ Viên thi thoại, Nguyễn Đức Vân dịch, Nguyễn Phúc giới thiệu, tuyển chọn; Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 1999.
(12) Nguyễn Khắc Phi, Thiên Trường vãn vọng, một kiệt tác của Trần Nhân Tông, bài viết nhan dịp kỷ niệm 700 mất của Trần Nhân Tông
(13) Có ý kiến cho rằng phải dịch câu Bạch lộ song song phi hạ điền là: “Từng đôi cò trắng bay trên cánh đồng (về tổ)”, bởi cò không ăn đêm, chiều tối chúng bay về tổ. Thoạt nghe có vẻ hữu lý, bởi vạc mới là loài chim ăn đêm, nhưng thực ra thời gian của bài thơ chưa phải là tối – đêm, hơn thế bản thân người viết bài này thuở bé khi “chạy tản cư” về thôn quê đã chứng kiến cảnh những con cò tìm ăn trên cánh đồng vào những buổi chiều, kể cả khi trời đã muộn.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét